Ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tới điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cảng biển niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 20:32 | 10/05/2026
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp ngày càng phải quan tâm đến trách nhiệm xã hội, coi đây là một yếu tố phản ánh chất lượng quản trị, đạo đức kinh doanh và cam kết lâu dài đối với các bên liên quan.

Hoàng Gia Bảo, Nguyễn Ngọc Anh,

Trần Minh Đức, Đoàn Việt Tiến

Đào Văn Thi

Email: [email protected]

Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cảng biển niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2015-2024. Dữ liệu bảng được thu thập từ các doanh nghiệp niêm yết và được phân tích bằng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu gộp (POLS), với hành vi điều chỉnh lợi nhuận được đo lường thông qua các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (AEM). Kết quả nghiên cứu cho thấy CSR có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến Điều chỉnh lợi nhuận. Bên cạnh đó, một số yếu tố như Quy mô hội đồng quản trị và Tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng có ảnh hưởng nhất định, trong khi các biến khác không cho thấy ý nghĩa thống kê rõ ràng. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm góp phần làm rõ vai trò của CSR trong việc nâng cao tính minh bạch thông tin tài chính và hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các doanh nghiệp cảng biển niêm yết ở Việt Nam.

Từ khóa: Trách nhiệm xã hội, điều chỉnh lợi nhuận, AEM, doanh nghiệp cảng biển

Abstract

This study analyzes the impact of Corporate Social Responsibility (CSR) on earnings management among listed port enterprises in the Vietnamese stock market during 2015-2024. Panel data were collected from listed firms and analyzed using the Pooled Ordinary Least Squares (POLS) regression model, with earnings management measured through Accrual Earnings Management (AEM). The research findings indicate that CSR has a negative and statistically significant effect on Earnings Management. In addition, several factors, such as Board Size and Revenue Growth Rate, also exhibit certain influences, while other variables do not show clear statistical significance. The study provides empirical evidence clarifying the role of CSR in enhancing financial information transparency and mitigating earnings management behavior among listed port enterprises in Viet Nam.

Keywords: Corporate social responsibility, earnings management, AEM, port enterprises

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu về minh bạch thông tin và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chí quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp ngày càng phải quan tâm đến CSR, coi đây là một yếu tố phản ánh chất lượng quản trị, đạo đức kinh doanh và cam kết lâu dài đối với các bên liên quan. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường chứng khoán phát triển, CSR không chỉ góp phần nâng cao uy tín doanh nghiệp mà còn có thể ảnh hưởng đến hành vi công bố thông tin tài chính.

Tại Việt Nam, ngành cảng biển giữ vai trò then chốt trong hệ thống logistics và hoạt động thương mại quốc tế, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và hội nhập toàn cầu. Các doanh nghiệp cảng biển niêm yết không chỉ chịu áp lực về hiệu quả kinh doanh mà còn phải đối mặt với các yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường, an toàn lao động và trách nhiệm đối với cộng đồng. Do đặc thù hoạt động gắn với môi trường biển và hạ tầng quy mô lớn, việc thực hiện CSR trong ngành này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật, vừa nâng cao hình ảnh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, việc thực hiện CSR cũng có thể làm gia tăng chi phí trong ngắn hạn, từ đó tạo áp lực lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, các nhà quản lý có thể phát sinh động cơ điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được các mục tiêu tài chính hoặc đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư. Điều chỉnh lợi nhuận được hiểu là hành vi can thiệp có chủ đích vào quá trình ghi nhận và trình bày thông tin kế toán, có thể làm sai lệch chất lượng báo cáo tài chính và ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường.

Mối quan hệ giữa CSR và điều chỉnh lợi nhuận vì vậy đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Một số quan điểm cho rằng việc thực hiện CSR giúp nâng cao tính minh bạch và hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận do doanh nghiệp chịu sự giám sát chặt chẽ hơn từ các bên liên quan. Ngược lại, một số nghiên cứu khác cho rằng CSR có thể bị sử dụng như một công cụ nhằm xây dựng hình ảnh tích cực, qua đó che giấu các hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Điều này cho thấy mối quan hệ giữa CSR và điều chỉnh lợi nhuận là phức tạp và cần được xem xét trong từng bối cảnh cụ thể.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSR và điều chỉnh lợi nhuận chủ yếu tập trung ở phạm vi tổng thể các doanh nghiệp niêm yết, trong khi các nghiên cứu chuyên sâu theo ngành, đặc biệt là ngành cảng biển, còn hạn chế. Trong khi đó, ngành cảng biển có những đặc thù riêng về quy mô vốn lớn, mức độ tác động môi trường cao và cơ cấu sở hữu đa dạng, có thể ảnh hưởng đáng kể đến hành vi quản trị và công bố thông tin tài chính của doanh nghiệp. Việc thiếu các nghiên cứu chuyên biệt trong lĩnh vực này tạo ra khoảng trống cả về lý luận và thực tiễn.

Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của CSR đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cảng biển niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2015-2024. Thông qua việc sử dụng dữ liệu bảng và mô hình hồi quy bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS), nghiên cứu kỳ vọng làm rõ mức độ tác động của CSR đến điều chỉnh lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho lĩnh vực kế toán và quản trị doanh nghiệp, mà còn cung cấp cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý và nhà đầu tư trong việc nâng cao tính minh bạch tài chính và hướng tới phát triển bền vững.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mối quan hệ giữa CSR và điều chỉnh lợi nhuận được xây dựng trên nền tảng một số lý thuyết quan trọng trong lĩnh vực kế toán và quản trị doanh nghiệp. Trước hết, Lý thuyết đại diện cho rằng sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý có thể làm phát sinh xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông, từ đó tạo động cơ cho nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân (Jensen và Meckling, 1976). Trong bối cảnh đó, việc thực hiện CSR có thể đóng vai trò như một cơ chế giám sát bổ sung, góp phần hạn chế hành vi cơ hội và nâng cao tính minh bạch trong công bố thông tin tài chính.

Bên cạnh đó, Lý thuyết các bên liên quan nhấn mạnh rằng doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm đối với cổ đông mà còn phải đáp ứng kỳ vọng của nhiều nhóm đối tượng khác như khách hàng, người lao động, nhà cung cấp và cộng đồng (Freeman, 1984). Việc thực hiện CSR giúp doanh nghiệp củng cố niềm tin của các bên liên quan, từ đó tạo áp lực buộc doanh nghiệp phải công bố thông tin trung thực hơn và hạn chế các hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Ngoài ra, Lý thuyết tính hợp pháp cho rằng doanh nghiệp luôn tìm cách duy trì sự chấp nhận của xã hội thông qua việc tuân thủ các chuẩn mực và kỳ vọng chung (Suchman, 1995). Theo đó, các hoạt động CSR có thể được sử dụng như một công cụ nhằm củng cố hình ảnh và tính hợp pháp của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, doanh nghiệp cũng có thể lợi dụng CSR như một “lá chắn” để che giấu các hành vi điều chỉnh lợi nhuận, đặc biệt khi chịu áp lực về kết quả kinh doanh.

Dựa trên các cơ sở lý thuyết này, CSR được tiếp cận như một yếu tố phản ánh mức độ cam kết của doanh nghiệp đối với phát triển bền vững và các bên liên quan. Trong khi đó, điều chỉnh lợi nhuận được xem là hành vi quản trị mang tính chủ đích, phản ánh mức độ can thiệp của nhà quản lý vào thông tin kế toán nhằm đạt được mục tiêu tài chính trong ngắn hạn.

Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây, có thể thấy mối quan hệ giữa CSR và điều chỉnh lợi nhuận là không đồng nhất. Một số nghiên cứu cho rằng CSR góp phần nâng cao tính minh bạch và giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận, trong khi các nghiên cứu khác lại cho thấy CSR có thể bị sử dụng như một công cụ nhằm che giấu hành vi này. Điều này cho thấy cần có thêm các bằng chứng thực nghiệm trong những bối cảnh cụ thể, đặc biệt là tại các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Do đó, nhóm nghiên cứu đưa ra giả thuyết:

Các công ty cảng biển niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thực hiện CSR tích cực sẽ làm giảm mức độ điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (AEM).

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Xuất phát từ những lập luận trên, nghiên cứu này xây dựng mô hình nhằm phân tích tác động của CSR và các đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty cảng biển niêm yết tại Việt Nam. Trong mô hình này, Điều chỉnh lợi nhuận được xác định là biến phụ thuộc, trong khi CSR là biến giải thích chính, cùng với một số biến kiểm soát phản ánh đặc điểm tài chính và quản trị của doanh nghiệp. Dựa trên các nghiên cứu tại mục tổng quan và qua mô hình nghiên cứu của Hickman và cộng sự (2021), Mô hình nghiên cứu tổng quát được đề xuất như sau:

Ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tới điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cảng biển niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Trong đó: i là doanh nghiệp và t là thời gian quan sát.

β1 có thể mang dấu dương hoặc âm tùy thuộc vào cách thức doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội, phản ánh 2 khả năng: CSR giúp nâng cao tính minh bạch và giảm điều chỉnh lợi nhuận, hoặc CSR bị lợi dụng như một công cụ nhằm che giấu hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Trong mô hình trên, Điều chỉnh lợi nhuận (AEM) được sử dụng làm biến phụ thuộc và được đo lường thông qua các khoản dồn tích có thể điều chỉnh theo mô hình Kothari và cộng sự (2005). Biến này phản ánh mức độ can thiệp của nhà quản lý vào thông tin kế toán nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận nhất định.

Các biến giải thích chính trong mô hình bao gồm CSR, được đo lường dựa trên mức độ công bố thông tin liên quan đến các khía cạnh môi trường, xã hội và quản trị trong báo cáo của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn xem xét một số biến kiểm soát phản ánh đặc điểm tài chính và quản trị của doanh nghiệp như: Quy mô doanh nghiệp, Đòn bẩy tài chính và Tốc độ tăng trưởng. Những biến này được lựa chọn do có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo cả góc độ động cơ và khả năng thực hiện của nhà quản lý.

Cụ thể, Quy mô doanh nghiệp (SIZE) được sử dụng nhằm phản ánh mức độ giám sát và minh bạch thông tin; Đòn bẩy tài chính (DAR) thể hiện áp lực từ các chủ nợ và ràng buộc tài chính; Tốc độ tăng trưởng (GR) phản ánh kỳ vọng của thị trường đối với doanh nghiệp. Ngoài ra, các biến liên quan đến đặc điểm quản trị như Quy mô HĐQT (BSIZE), Kiêm nhiệm chức danh giám đốc điều hành (DUAL) và Tỷ lệ sở hữu của HĐQT (BOWN) cũng được đưa vào mô hình nhằm kiểm soát ảnh hưởng của cơ chế quản trị đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1: Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu

Biến

Ký hiệu

Cách đo lường

Điều chỉnh lợi nhuận

AEM

Theo mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005)

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

CSR

Dựa trên 3 trụ cột về môi trường, lao động, xã hội và quản trị doanh nghiệp

Quy mô công ty

Csize

Log10/Tổng tài sản

Công ty được kiểm toán bởi BIG4

BIG4

Số lượng công ty kiểm toán BIG4

Tỷ lệ nữ trong HĐQT

BW

Số thành viên nữ/số thành viên HĐQT

Quy mô HĐQT

Bsize

Số lượng thành viên trong HĐQT

Chủ tịch HĐQT kiêm CEO

DUAL

Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm CEO

Tỷ lệ cổ phần do thành viên HĐQT nắm giữ

BOWN

Cổ phần thành viên HDQT nắm giữ/Tổng số cổ phần

Tỉ lệ nợ trên tổng tài sản

DAR

Tổng nợ / Tổng tài sản

Tốc độ tăng trưởng

GR

(Doanh thu năm nay-Doanh thu năm trước)/Doanh thu năm trước)

Nguồn: Tính toán của các tác giả

Thông qua mô hình nghiên cứu này, nghiên cứu đánh giá tác động của CSR và các đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi Điều chỉnh lợi nhuận của các công ty cảng biển niêm yết tại Việt Nam. Qua đó, nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa CSR và điều chỉnh lợi nhuận trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển, góp phần làm rõ vai trò của CSR đối với tính minh bạch và chất lượng thông tin tài chính của doanh nghiệp.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 19 doanh nghiệp cảng biển niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2015-2024, với tổng cộng 190 quan sát. Các doanh nghiệp cảng biển giao dịch trên thị trường UPCoM không được đưa vào mẫu nghiên cứu do không đáp ứng đầy đủ dữ liệu cần thiết.

Dữ liệu bảng được ước lượng bằng các mô hình hồi quy bao gồm Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Các kiểm định so sánh mô hình như kiểm định Breusch-Pagan LM và Hausman được thực hiện nhằm lựa chọn mô hình phù hợp cho phân tích. Toàn bộ quá trình ước lượng và kiểm định được thực hiện bằng phần mềm STATA 17.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả các biến

Kết quả thống kê mô tả các biến được thực hiện bằng phần mềm Stata và trình bày trong Bảng 2.

Bảng 2: Thống kê mô tả các biến

Biến

Số quan sát

Giá trị

trung bình

Độ

lệch chuẩn

Giá trị

nhỏ nhất

Giá trị

lớn nhất

AEM

190

-0,010865

0,039381

-0,285491

0,039381

CSR

190

0,6091

0,0866

0,4210

0,7890

Bsize

190

7,0842

2,0634

3

13

DUAL

190

0,0842

0,2784

0

1

BW

190

0,1717

0,1690

0

0,9772

BOWN

190

0,0166

0,0500

0

0,5111

Csize

190

12,1397

0,8468

7,5429

13,9351

BIG4

190

0,2316

0,4230

0

1

DAR

190

0,6882

1,6147

0,03

15,11

GR

190

0.1669

0.5075

-0.92

2.93

Nguồn: Tính toán của các tác giả

Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình cho thấy biến Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (AEM) có giá trị trung bình -0,010865, cho thấy mức độ điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp cảng biển trong mẫu nhìn chung không lớn và dao động quanh mức cân bằng. Tuy nhiên, khoảng biến thiên khá rộng giữa giá trị nhỏ nhất và lớn nhất phản ánh sự khác biệt nhất định trong hành vi điều chỉnh lợi nhuận giữa các doanh nghiệp.

Biến trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) có giá trị trung bình đạt 0,6091, cho thấy mức độ thực hiện CSR của các doanh nghiệp trong mẫu ở mức tương đối. Đồng thời, độ lệch chuẩn không lớn cho thấy sự chênh lệch giữa các doanh nghiệp về thực hiện CSR không quá cao.

Đối với các đặc điểm của hội đồng quản trị, Quy mô HĐQT (Bsize) có giá trị trung bình khoảng 7 thành viên, phù hợp với thực tiễn quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. Tỷ lệ nữ trong HĐQT (BW) và Tỷ lệ sở hữu của HĐQT (BOWN) còn ở mức thấp, phản ánh mức độ tham gia và gắn kết của các thành viên HĐQT chưa cao. Biến DUAL có giá trị trung bình thấp cho thấy hiện tượng kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc không phổ biến trong các doanh nghiệp cảng biển niêm yết.

Các biến kiểm soát như Quy mô doanh nghiệp (Csize), Đơn vị kiểm toán (BIG4), Tỷ lệ nợ (DAR) và Tốc độ tăng trưởng (GR) cho thấy sự phân tán tương đối lớn, phản ánh sự khác biệt về quy mô hoạt động, cấu trúc tài chính và khả năng tăng trưởng giữa các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu. Điều này tạo cơ sở phù hợp cho việc sử dụng mô hình hồi quy nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến điều chỉnh lợi nhuận.

Kết quả ước lượng mô hình POLS, FEM và REM

Kết quả ước lượng mô hình bình phương tối thiểu gộp (Pooled Ordinary Least Squares - POLS) được trình bày trong Bảng 3 cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê tổng thể. Cụ thể, thống kê F đạt giá trị F(9,180) = 2,22 với Prob > F = 0,0225 < 0,05, cho phép bác bỏ giả thuyết H0 và khẳng định các biến độc lập trong mô hình có khả năng giải thích sự biến động của biến phụ thuộc Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (AEM).

Hệ số xác định R² đạt 0,1000 (R² hiệu chỉnh = 0,0550), cho thấy các biến độc lập giải thích được khoảng 10% sự biến thiên của AEM. Mặc dù mức độ giải thích của mô hình chưa cao, kết quả này vẫn phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực điều chỉnh lợi nhuận, khi hành vi này thường chịu tác động của nhiều yếu tố khó quan sát.

Xét riêng từng biến, kết quả cho thấy Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) có tác động ngược chiều đến AEM và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (p-value = 0,001), cho thấy các doanh nghiệp thực hiện CSR tốt hơn có xu hướng hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Bên cạnh đó, Quy mô HĐQT (Bsize) có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, trong khi biến Tốc độ tăng trưởng (GR) có tác động ngược chiều và cũng có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Các biến còn lại như quy mô doanh nghiệp (Csize), chất lượng kiểm toán (BIG4), tỷ lệ nữ trong HĐQT (BW), Sự kiêm nhiệm (DUAL), Tỷ lệ sở hữu của HĐQT (BOWN) và Đòn bẩy tài chính (DAR) không có ý nghĩa thống kê trong mô hình.

Bảng 3: Kết quả mô hình POLS

Biến

Hệ số

Sai số chuẩn

t

P>|t|

CSR

-0,1166

0,0357954

-3,26

0,001

Bsize

0,00275

0,0016021

1,72

0,087

DUAL

-0,01071

0,01042

-1,03

0,306

BW

-0,00668

0,0169098

-0,39

0,693

BOWN

-0,03958

0,0585906

-0,68

0,5

Csize

-0,00157

0,0043173

-0,36

0,717

BIG4

0,00736

0,0070762

1,04

0,3

DAR

-0,00087

0,0018552

-0,47

0,641

GR

-0,00969

0,005751

-1,68

0,094

CONS

0,06292

0,0591637

1,06

0,289

Số quan sát (Obs) = 190

F(9,180) = 2,22

Prob > F = 0,0225

R-squared = 0,1000

Adj R-squared = 0,0550

Nguồn: Tính toán của các tác giả

Đối với mô hình tác động cố định (FEM), kết quả cho thấy mô hình không có ý nghĩa thống kê tổng thể với giá trị F(9,162) = 0,69 và Prob > F = 0,7142 > 0,05. Đồng thời, tất cả các biến trong mô hình đều không có ý nghĩa thống kê, cho thấy khi kiểm soát các đặc trưng riêng của từng doanh nghiệp, các biến giải thích không còn khả năng giải thích sự biến động của AEM.

Tương tự, mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) cũng không cho thấy ý nghĩa thống kê tổng thể với giá trị Wald chi2(9) = 12,84 và Prob > chi2 = 0,17 > 0,05. Các biến độc lập trong mô hình REM đều không có ý nghĩa thống kê.

Như vậy, kết quả ước lượng cho thấy mô hình POLS là mô hình duy nhất có ý nghĩa thống kê tổng thể và tồn tại một số biến có tác động đáng kể đến AEM, trong khi các mô hình FEM và REM không cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng.

Kết quả này là cơ sở quan trọng để tiếp tục thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình nhằm xác định mô hình hồi quy phù hợp nhất cho nghiên cứu.

Bảng 4: Kết quả mô hình FEM, REM

FEM

REM

Biến

Hệ số

Sai số chuẩn

t

P>|t|

Hệ số

Sai số chuẩn

z

P>|z|

CSR

-0,01953

0,04933

-0,4

0,693

-0,06896

0,04117

-1,68

0,094

Bsize

0,00109

0,00219

0,5

0,619

0,00281

0,00179

1,56

0,119

DUAL

0,00837

0,01335

0,63

0,531

-0,00401

0,01099

-0,36

0,716

BW

0,00887

0,02704

0,33

0,743

-0,00617

0,02074

-0,3

0,766

BOWN

-0,07069

0,06609

-1,07

0,286

-0,0525

0,06114

-0,86

0,391

Csize

-0,00106

0,00629

-0,17

0,866

0,00025

0,00496

0,05

0,96

BIG4

0,00424

0,01001

0,42

0,673

0,00531

0,00833

0,64

0,524

DAR

0,00361

0,00328

1,1

0,272

0,00074

0,00233

0,32

0,75

GR

-0,00909

0,00585

-1,55

0,122

-0,0088

0,00558

-1,58

0,115

CONS

0,00321

0,08474

0,04

0,97

0,01447

0,06826

0,21

0,832

Obs = 190

F(9,162) = 0,69

Prob > F = 0,7142

Obs = 190

Wald chi2(9) = 12,84

Prob > chi2 = 0,17

Nguồn: Tính toán của các tác giả

Lựa chọn mô hình phù hợp

Để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp cho phân tích, nghiên cứu tiến hành các kiểm định F-test và Hausman test nhằm so sánh giữa các mô hình POLS, FEM và REM. Trước hết, kiểm định F-test được sử dụng để so sánh giữa mô hình POLS và FEM. Kết quả cho thấy giá trị F(9,162) = 0,69 với mức ý nghĩa Prob > F = 0,7142 > 0,05, không đủ cơ sở để bác bỏ H₀. Điều này cho thấy mô hình POLS phù hợp hơn FEM.

Kiểm định Hausman được thực hiện nhằm lựa chọn giữa FEM và REM. Kết quả cho thấy giá trị Chi2(9) = 18,56 với Prob > chi2 = 0,035 < 0,05, do đó chưa đủ cơ sở để bác bỏ H₀, hàm ý rằng mô hình FEM phù hợp hơn REM.

Từ kết quả các kiểm định trên, nghiên cứu lựa chọn mô hình Pooled OLS (POLS) làm mô hình chính để phân tích ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tới Điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cảng biển niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Kiểm tra các khuyết tật của mô hình và khắc phục

Để đảm bảo độ tin cậy của các ước lượng hồi quy, nghiên cứu tiến hành kiểm tra một số khuyết tật thường gặp của mô hình, bao gồm phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và đa cộng tuyến. Kết quả kiểm định được trình bày trong Bảng 5

Trước hết, kiểm định phương sai sai số thay đổi được thực hiện thông qua kiểm định White. Kết quả cho thấy giá trị Prob > chi2 = 0,7876 > 0,05, do đó không có đủ bằng chứng để bác bỏ giả thuyết H0 về phương sai sai số không đổi. Điều này cho thấy mô hình không tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

Tiếp theo, nghiên cứu sử dụng kiểm định Wooldridge để xem xét hiện tượng tự tương quan trong dữ liệu bảng. Kết quả kiểm định cho thấy giá trị Prob > F = 0,9461 > 0,05, do đó không có đủ bằng chứng để kết luận tồn tại tự tương quan trong mô hình.

Cuối cùng, hiện tượng đa cộng tuyến được kiểm tra thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF). Kết quả cho thấy các giá trị VIF đều nhỏ hơn 2, với giá trị trung bình là 1,23. Điều này cho thấy mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng, các biến độc lập không có mối tương quan tuyến tính cao với nhau.

Tổng hợp các kết quả kiểm định cho thấy mô hình không gặp phải các khuyết tật nghiêm trọng. Do đó, các ước lượng từ mô hình Pooled OLS được xem là đáng tin cậy và phù hợp sử dụng trong phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Bảng 5: Kết quả kiểm tra khuyết tật của mô hình POLS

Kiểm định

Phương pháp

Giá trị thống kê

p-value

Kết luận

Phương sai sai số

thay đổi

White test

Chi2(52) = 43,67

0,7876

Không có phương sai sai số

thay đổi

Tự tương quan

Wooldridge test

F(1,19) = 5,832

0,9461

Không có tự tương quan

Đa cộng tuyến

VIF

Mean VIF = 1,23

-

Không có đa công tuyến

Nguồn: Tính toán của các tác giả

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) tới Điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cảng biển niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã chỉ ra mối quan hệ rõ ràng giữa CSR và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Cụ thể, CSR có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích, cho thấy các doanh nghiệp thực hiện CSR càng tốt thì càng có xu hướng hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Kết quả này cho thấy các doanh nghiệp cảng biển quan tâm và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội thường chú trọng hơn đến uy tín, tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính. Vì vậy, họ có xu hướng hạn chế việc điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu ngắn hạn. Ngược lại, những doanh nghiệp ít chú trọng đến trách nhiệm xã hội có khả năng thực hiện điều chỉnh lợi nhuận cao hơn để cải thiện kết quả kinh doanh trong ngắn hạn.

Bên cạnh đó, một số yếu tố như Quy mô HĐQT và Tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng có tác động nhất định đến Điều chỉnh lợi nhuận, trong khi các yếu tố khác chưa thể hiện ý nghĩa thống kê rõ ràng. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định vai trò của CSR như một cơ chế thúc đẩy tính minh bạch và hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong bối cảnh các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, đặc biệt trong ngành cảng biển - lĩnh vực có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và hội nhập quốc tế.

(*) Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Hàng hải Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Freeman, R.E. (1984). Strategic management: A stakeholder approach. Pitman, Boston.

2. Hickman, A., Byrd, J. and Hickman, K. (2021). Corporate social responsibility and earnings management: Evidence from U.S. firms. Journal of Accounting and Public Policy, 40(2), 106803.

3. Jensen, M.C. and Meckling, W.H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305-360.

4. Kothari, S.P., Leone, A.J. and Wasley, C.E. (2005). Performance matched discretionary accrual measures. Journal of Accounting and Economics, 39(1), 163-197.

5. Suchman, M.C. (1995). Managing legitimacy: Strategic and institutional approaches. Academy of Management Review, 20(3), 571-610.

Ngày nhận bài: 10/3/3026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/5/2026; Ngày duyệt đăng: 6/5/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng mạng xã hội đã làm thay đổi đáng kể cách doanh nghiệp tiếp cận, tương tác và xây dựng mối quan hệ với khách hàng
Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Công nghệ số có thể hỗ trợ tăng trưởng xanh bằng cách tối ưu hóa sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và cải thiện khả năng giám sát môi trường. Tuy nhiên, tác động môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời của công nghệ và hạ tầng số, từ khai thác nguyên liệu đến xử lý chất thải điện tử.
Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Dự báo giá là một trong những thách thức quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ, bởi những giao dịch điện tử ngày càng có quy mô lớn.
Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Trong hệ thống quản trị tài chính doanh nghiệp, tiền lương không chỉ là công cụ duy trì nguồn nhân lực mà còn là một khoản chi phí trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp lữ hành, nơi chất lượng dịch vụ phụ thuộc trực tiếp vào năng lực xử lý nghiệp vụ và tình huống của người lao động.
Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, người dân Trà Quế (Đà Nẵng) đã chuyển từ nghề chài lưới sang làm nông dân và khai sinh ra nghề trồng rau nổi tiếng. Bề dày lịch sử và sự độc đáo của nghề trồng rau đã giúp làng rau Trà Quế nổi tiếng không chỉ trong Thành phố, khu vực mà trên cả nước.
Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Trong bối cảnh các sàn thương mại điện tử ngày càng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để cá nhân hóa đề xuất sản phẩm, người tiêu dùng dễ bị tác động bởi các gợi ý phù hợp với sở thích, nhu cầu và lịch sử mua sắm.
Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Biến đổi khí hậu toàn cầu và nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng truyền thống đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Để hướng tới mục tiêu trung hòa carbon, giảm cường độ năng lượng, tức nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên một đơn vị đầu ra kinh tế đã trở thành chiến lược cốt lõi của nhiều quốc gia.
Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Phát triển du lịch hiện nay phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng liên kết giữa các ngành, địa phương và chủ thể kinh tế. Đối với du lịch sinh thái, yêu cầu này càng rõ do tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa vừa là nguồn lực khai thác, vừa cần được bảo vệ để bảo đảm phát triển bền vững.
Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Ngành ngân hàng Việt Nam có mức độ số hóa ngày càng cao, kéo theo yêu cầu lớn về bảo đảm an toàn dữ liệu và hạ tầng mật mã