Phát triển thị trường chứng khoán trong chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam

Tài chính - Ngân hàng 15:12 | 21/10/2026 Nguyễn Thị Châu Long
Bài viết phân tích thực trạng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2020-2025, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng vận hành, tăng cường minh bạch và thúc đẩy thị trường phát triển an toàn, ổn định, bền vững.

Nguyễn Thị Châu Long

Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Cao Thị Nhân Anh

Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Nguyễn Thị Hoành Anh

Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Nguyễn Thị Thu Hồng

Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích thực trạng phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam giai đoạn 2020-2025 trên cơ sở dữ liệu thứ cấp được công bố công khai có độ tin cậy. Kết quả cho thấy quy mô thị trường tiếp tục mở rộng, thanh khoản được cải thiện, số lượng tài khoản nhà đầu tư tăng nhanh và các sản phẩm chứng khoán ngày càng đa dạng. Tuy nhiên, thị trường vẫn đối mặt với những hạn chế về cơ cấu nhà đầu tư, tính minh bạch, khung pháp lý và phát triển tài chính bền vững.Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vận hành, tăng cường tính minh bạch và thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển an toàn, ổn định, bền vững. Đặc biệt, quá trình nâng hạng thị trường theo phân loại của FTSE Russell mở ra cơ hội thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng thị trường.

Từ khóa: Chiến lược, phát triển, thị trường chứng khoán, Việt Nam

Abstract

This article examines the development of Viet Nam’s stock market during the 2020–2025 period based on reliable, publicly available secondary data. The findings indicate that market size has continued to expand, liquidity has improved, the number of investor accounts has increased rapidly, and securities products have become increasingly diversified. However, the market still faces challenges related to investor composition, transparency, the legal framework, and sustainable finance development. Based on these findings, the article proposes solutions to improve market operations, enhance transparency, and promote the safe, stable, and sustainable development of Viet Nam’s stock market. In particular, the market’s reclassification by FTSE Russell creates opportunities to attract international investment flows while highlighting the need for further institutional reforms and improvements in overall market quality.

Keywords: Strategy, development, stock market, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thị trường chứng khoán (TTCK) giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại, là kênh huy động vốn trung và dài hạn, tạo cơ hội đầu tư và góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực (Nguyễn Tiến Hưng & Lê Thị Huyền Trang, 2021). Tại Việt Nam, phát triển TTCK theo hướng an toàn, minh bạch, hiệu quả và bền vững là một định hướng quan trọng trong chính sách phát triển thị trường vốn, gắn với yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô và huy động nguồn lực cho tăng trưởng. Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 11/7/2022 của Chính phủ cũng nhấn mạnh định hướng phát triển thị trường vốn và tăng cường vai trò của TTCK trong cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế (Chính phủ, 2022).

Sau gần 30 năm hình thành và phát triển, TTCK Việt Nam đã ghi nhận những chuyển biến đáng kể về quy mô vốn hóa, thanh khoản và số lượng nhà đầu tư. Diễn biến của VN-Index qua các giai đoạn cũng cho thấy thị trường chịu ảnh hưởng đáng kể từ điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế (Hương Dịu, 2026). Quá trình phát triển này tạo nền tảng để TTCK tiếp tục đảm nhiệm vai trò huy động vốn và phân bổ nguồn lực, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng vận hành và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế, việc nâng cao vị thế của TTCK Việt Nam có thể mở rộng khả năng tiếp cận dòng vốn nước ngoài, nhưng đồng thời đòi hỏi thị trường đáp ứng tốt hơn các chuẩn mực về minh bạch thông tin, quản trị công ty và khả năng tiếp cận của nhà đầu tư. Vì vậy, phát triển TTCK không chỉ là mở rộng quy mô mà còn cần chú trọng chất lượng thị trường, tính ổn định và mức độ hội nhập.

Bên cạnh những kết quả đạt được, TTCK Việt Nam vẫn đối mặt với một số hạn chế như chất lượng hàng hóa chưa đồng đều, tính minh bạch và quản trị công ty cần tiếp tục cải thiện, cơ cấu nhà đầu tư còn phụ thuộc lớn vào nhà đầu tư cá nhân, trong khi vai trò của nhà đầu tư tổ chức chưa tương xứng. Những hạn chế này có thể ảnh hưởng đến tính ổn định, hiệu quả phân bổ vốn và khả năng thu hút dòng vốn dài hạn.

Từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu TTCK Việt Nam có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu góp phần làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển thị trường, xác định các hạn chế cần khắc phục và cung cấp cơ sở đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch, chất lượng quản trị, cơ cấu nhà đầu tư và khả năng chống chịu trước các biến động bên ngoài. Đây là yêu cầu cần thiết để TTCK phát triển theo hướng hiệu quả, bền vững và đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khái niệm

Thị trường chứng khoán (TTCK) là bộ phận của thị trường tài chính, nơi diễn ra hoạt động phát hành, mua bán và chuyển nhượng các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và chứng khoán phái sinh. Thị trường này góp phần huy động vốn, phân bổ nguồn lực tài chính và tạo cơ hội đầu tư cho các chủ thể trong nền kinh tế (IOSCO, 2017). Tại Việt Nam, thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán (Quốc hội, 2019).

Chỉ tiêu đánh giá

Để đánh giá thực trạng phát triển của TTCK Việt Nam, nghiên cứu kế thừa cách tiếp cận về phát triển kinh tế của Đinh Phi Hổ và Nguyễn Văn Phương (2015), trong đó xem xét các khía cạnh tăng trưởng quy mô, chuyển dịch cơ cấu, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường.

Trên cơ sở điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù của TTCK, bài viết xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá gồm: (1) tăng trưởng quy mô thị trường; (2) chuyển dịch cơ cấu sản phẩm chứng khoán; (3) hiệu quả kinh tế, thể hiện qua khả năng huy động vốn, thanh khoản và phân bổ nguồn lực; (4) hiệu quả xã hội, xem xét khả năng mở rộng cơ hội đầu tư và mức độ tham gia của các nhóm nhà đầu tư; và (5) phát triển thị trường theo hướng bền vững về môi trường, gắn với việc thúc đẩy tài chính xanh và huy động vốn cho các hoạt động kinh tế thân thiện với môi trường. Cách tiếp cận này kết hợp các tiêu chí phát triển kinh tế với những chỉ báo đặc thù của thị trường vốn, phù hợp với định hướng phát triển thị trường tài chính bền vững (World Bank, 2019).

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết chủ yếu sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn thông tin chính thống có độ tin cậy, bao gồm báo cáo thống kê, báo cáo thường niên, báo cáo chuyên đề và các ấn phẩm, thời điểm cập nhật đến tháng 11/2025.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tham khảo các công trình khoa học, bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành và các tài liệu có liên quan nhằm bổ sung cơ sở phân tích và đối chiếu thông tin.

Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phân tích, so sánh và đánh giá dữ liệu theo các tiêu chí nghiên cứu. Cách tiếp cận này nhằm làm rõ sự biến động về quy mô, cơ cấu và hiệu quả hoạt động TTCK Việt Nam, đồng thời xem xét các khía cạnh xã hội và định hướng phát triển bền vững của thị trường.

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG

Phát triển của TTCK trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam được thể hiện chủ yếu ở các khía cạnh:

Tăng trưởng về quy mô

Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) được thành lập vào tháng 7/2000 và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) được thành lập vào năm 2005; Các tổ chức kinh doanh và trung gian bao gồm các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các chủ thể tham gia thị trường bao gồm các doanh nghiệp, Chính phủ hoặc UBND phát hành chứng khoán để huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Số liệu cho thấy số lượng doanh nghiệp và sản phẩm niêm yết, đăng ký giao dịch (UPCoM) trên TTCK Việt Nam có sự biến động trong giai đoạn 2020-2025. Số lượng doanh nghiệp niêm yết/ đăng ký giao dịch ngày càng đa dạng, nhưng có thay đổi không đồng đều giữa các phân khúc cho thấy cần tiếp tục nâng cao chất lượng niêm yết và phát triển cân đối các thị trường giao dịch (Bảng 1).

Bảng 1: Số lượng doanh nghiệp niêm yết, đăng kí giao dịch

(Giai đoạn 2020- hết tháng 11/2025)

Thời gian

HOSE

HNX

UPCoM

ETF

CCQ

đóng

CW

TPCP

TP trên

HNX

TP trên

HOSE

Tổng

cộng

31/12/2020

392

353

910

7

3

118

440

2

33

2.258

31/12/2021

404

345

892

8

3

113

386

36

5

2.192

30/12/2022

402

341

856

11

3

99

391

59

0

2.162

31/12/2023

394

327

862

14

4

229

392

68

0

2.290

31/12/2024

393

311

888

16

4

114

393

68

0

2.187

30/11/2025

395

304

878

18

4

288

391

82

0

2.360

Nguồn: Ủy Ban chứng khoán Nhà nước; https://ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/m/thngtinthtrng/thngkthtrng

Về cơ cấu sản phẩm

Bảng 2 cho thấy quy mô TTCK Việt Nam tăng liên tục trong giai đoạn 2020-2025. Tổng giá trị các cấu phần thị trường tăng từ 165,67 năm 2020 lên 291,74 vào tháng 11/2025. Trong đó, cổ phiếu niêm yết, trái phiếu Chính phủ niêm yết và quy mô thị trường UPCoM đều gia tăng. Bên cạnh đó, các sản phẩm như ETF, CW và chứng chỉ quỹ cũng có sự phát triển. Nhìn chung, xu hướng này cho thấy quy mô và cơ cấu sản phẩm của TTCK Việt Nam ngày càng mở rộng.

Bảng 2: Khối lượng chứng khoán niêm yết/ đăng ký và giao dịch

Đơn vị: Tỷ đồng

Thời gian

Cổ phiếu niêm yết

TPCP niêm yết

TP DN

trên HNX

UPCoM

ETF

CW

Chứng chỉ quỹ

TP trên HoSE

Tổng cộng

31/12/2020

112,360

13,570

0,025

38,130

0,850

0,437

0,037

0,26

165,670

31/12/2021

133,521

15,112

0,316

39,201

1,144

0,847

0,042

0,005

190,188

30/12/2022

155,980

16,860

0,567

40,620

1,610

0,801

0,045

0

216,483

31/12/2023

167,440

19,648

0,651

43,870

1,420

1,932

0,062

0

235,023

31/12/2024

181,947

22,189

0,907

46,491

1,082

1,302

0,062

0

253,980

30/11/2025

212,691

24,918

1,309

49,971

0,940

1,849

0,062

0

291,740

Nguồn: Ủy Ban chứng khoán Nhà nước; https://ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/m/thngtinthtrng/thngkthtrng/quymthtrng

Hiệu quả kinh tế

Số liệu tại Bảng 3 thể hiện vốn huy động qua TTCK giai đoạn 2020-2025 biến động đáng kể. Tổng vốn huy động đạt mức cao nhất vào năm 2021, giảm mạnh trong năm 2022-2023 trước khi phục hồi trong hai năm tiếp theo. Trong cơ cấu huy động, trái phiếu doanh nghiệp có xu hướng tăng trở lại vào năm 2025, trong khi vốn huy động qua cổ phiếu giảm. Kết quả này cho thấy trái phiếu doanh nghiệp đang đóng góp ngày càng lớn vào tổng vốn huy động qua TTCK. Về định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, Nguyễn Thị Mai Huyên, Nguyễn Đặng Hải Yến và Ngô Sỹ Nam (2023) đề cập mục tiêu huy động 5,4 triệu tỷ đồng thông qua TTCK.

Bảng 3: Huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán

Đơn vị: Tỷ đồng

Hình thức huy động vốn

2020

2021

2022

2023

2024

2025

Cổ phiếu

171.520

219.370

176.630

50.527

134.800

113.000

Trái phiếu

doanh nghiệp

458.738

755.888

266.104

311.240

443.457

651.000

Trái phiếu

Chính phủ

333.042

318.213

203.222

322.827

308.345

378.000

Tổng

963.300

1.293.471

645.956

684.594

886.602

1.142.000

Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Hiệu quả xã hội

Số liệu cho thấy số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán tại Việt Nam tăng liên tục trong giai đoạn 2020–tháng 8/2026, từ 2,77 triệu lên gần 13,89 triệu tài khoản. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhà đầu tư cá nhân trong nước, với số tài khoản tăng từ 2,73 triệu lên 13,81 triệu. Trong khi đó, số tài khoản của nhà đầu tư tổ chức trong nước và nhà đầu tư nước ngoài cũng tăng nhưng với tốc độ chậm hơn đáng kể. Cơ cấu này cho thấy mức độ tham gia của nhà đầu tư vào TTCK ngày càng mở rộng, song thị trường vẫn phụ thuộc lớn vào nhà đầu tư cá nhân trong nước. Đây vừa là cơ sở thúc đẩy thanh khoản, vừa đặt ra yêu cầu tăng cường kiến thức tài chính, bảo vệ nhà đầu tư và phát triển nhóm nhà đầu tư tổ chức nhằm nâng cao tính ổn định và tính chuyên nghiệp của thị trường.

Bảng 4: Số lượng tài khoản nhà đầu tư

Đơn vị: Tài khoản

Thời gian

Trong nước

Nước ngoài

Tổng cộng

Cá nhân

Tổ chức

Cá nhân

Tổ chức

31/12/2020

2.725.087

11.251

31.134

3.937

2.771.409

31/12/2021

4.257.724

12.977

35.374

4.136

4.310.211

31/12/2022

6.839.633

14.727

38.383

4.328

6.897.071

31/12/2023

7.230.742

16.235

40.833

4.551

7.292.361

31/12/2024

9.232.471

17.737

43.138

4.642

9.297.988

31/12/2025

11.802.531

19.214

45.411

4.777

11.871.933

31/08/2026

13.814.693

20.277

47.719

4.914

13.887.603

Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; https://ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/m/thngtinthtrng/thngkthtrng/nhuttrnttck

Phát triển thị trường chứng khoán theo hướng bền vững

Phát triển TTCK là một trong những định hướng được Chính phủ chú trọng, thể hiện qua việc hoàn thiện khung pháp lý, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm giao dịch. Theo Chiến lược phát triển TTCK đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 1726/QĐ-TTg ngày 29/12/2023, Việt Nam định hướng phát triển thị trường theo hướng ổn định, an toàn, minh bạch, hiệu quả và bền vững, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý, giám sát thị trường (Thủ tướng Chính phủ, 2023).

Trên cơ sở định hướng này, hệ thống công nghệ thông tin mới KRX chính thức được đưa vào vận hành từ ngày 5/5/2025, tạo nền tảng kỹ thuật cho việc nâng cao năng lực xử lý giao dịch và hỗ trợ triển khai các sản phẩm, dịch vụ mới trên thị trường (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2025).

Bên cạnh đó, hợp đồng tương lai chỉ số VN100 chính thức được đưa vào giao dịch ngày 10/10/2025, góp phần đa dạng hóa sản phẩm chứng khoán phái sinh, mở rộng công cụ đầu tư và hỗ trợ nhà đầu tư quản trị rủi ro (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, 2025a).

Đối với thị trường cổ phiếu, HOSE đã cải tiến quy tắc xây dựng và quản lý bộ chỉ số HOSE-Index, trong đó có VN30, theo phiên bản 4.0, áp dụng từ năm 2025. Các thay đổi hướng đến nâng cao tính đại diện, cân bằng tỷ trọng giữa các ngành và duy trì chất lượng, tính ổn định của chỉ số (Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, 2025).

Những bước tiến này cho thấy quá trình phát triển TTCK Việt Nam không chỉ tập trung vào mở rộng quy mô mà còn chú trọng hoàn thiện thể chế, hiện đại hóa hạ tầng và nâng cao chất lượng vận hành thị trường.

Khó khăn, thách thức

Qua phân tích có thể thấy, TTCK (TTCK) Việt Nam đang từng bước phát triển theo định hướng bền vững. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với một số hạn chế và thách thức chủ yếu sau:

Khung pháp lý và tiêu chuẩn ESG chưa đồng bộ. Các quy định về công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị chưa được áp dụng toàn diện, trong khi cơ chế giám sát và chế tài xử lý vi phạm cần tiếp tục hoàn thiện.

Thị trường chứng khoán thiếu tính bền vững. Các công cụ như cổ phiếu xanh, trái phiếu xanh và quỹ đầu tư xanh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, làm hạn chế khả năng huy động vốn cho các hoạt động kinh tế xanh.

Cơ cấu nhà đầu tư chưa cân đối. Nhà đầu tư cá nhân chiếm ưu thế, trong khi vai trò của nhà đầu tư tổ chức và các quỹ đầu tư chuyên nghiệp còn hạn chế. Điều này có thể làm gia tăng biến động thị trường và ảnh hưởng đến khả năng thu hút dòng vốn dài hạn.

Tính minh bạch và năng lực quản trị doanh nghiệp chưa đồng đều. Chất lượng công bố thông tin phi tài chính, đặc biệt là thông tin ESG, còn hạn chế ở một số doanh nghiệp niêm yết, gây khó khăn cho việc đánh giá, so sánh hiệu quả hoạt động và mức độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

TTCK Việt Nam ngày càng phát triển mạnh và chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2030 đã được phê duyệt nhằm xây dựng TTCK Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững theo đúng thông lệ quốc tế. Bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về quy mô, chất lượng và tính bền vững, giữ vai trò then chốt trong việc cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế đòi hỏi TTCK Việt Nam phải đảm bảo tính ổn định và bền vững. Để đạt được mục tiêu này, bài viết đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, tiếp tục rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật theo hướng đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đồng thời, từng bước xây dựng yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp niêm yết trong việc công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), hướng tới áp dụng các tiêu chuẩn báo cáo quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Thứ hai, khuyến khích phát triển các sản phẩm tài chính xanh. Xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp và các chủ thể phát hành phát triển các công cụ huy động vốn gắn với mục tiêu phát triển bền vững, như cổ phiếu xanh, trái phiếu Chính phủ xanh, trái phiếu chính quyền địa phương xanh và trái phiếu doanh nghiệp xanh. Qua đó, đa dạng hóa kênh huy động vốn, thúc đẩy phân bổ nguồn lực cho các dự án thân thiện với môi trường và thu hút nhà đầu tư quan tâm đến các mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ ba, thúc đẩy phát triển nhà đầu tư tổ chức trong nước. Tăng cường phát triển các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán, đồng thời nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý cho các quỹ đầu tư vào thị trường tiền tệ và các sản phẩm chứng chỉ quỹ phù hợp với trình độ phát triển của TTCK. Định hướng này nhằm cải thiện cơ cấu nhà đầu tư, tăng vai trò của dòng vốn chuyên nghiệp và dài hạn, đồng thời nâng cao tính ổn định của thị trường.

Thứ tư, tăng cường giám sát công bố thông tin và chất lượng kiểm toán. Đẩy mạnh kiểm tra việc tuân thủ các quy định về công bố thông tin và báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết; đồng thời phối hợp giám sát hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên. Qua đó, nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính, hạn chế bất cân xứng thông tin và củng cố niềm tin của nhà đầu tư đối với TTCK.

* Công trình này là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2026 mã số T2026-69 do Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh tài trợ kinh phí thực hiện.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ. (2022). Nghị quyết số 86/NQ-CP về phát triển thị trường vốn an toàn, minh bạch, hiệu quả, bền vững nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, huy động nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=509&docid=206106&pageid=27160.

2. Đinh Phi Hổ, & Nguyễn Văn Phương. (2015). Kinh tế phát triển: Căn bản và nâng cao. Nxb. Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Hương Dịu. (2026). Nâng hạng chứng khoán mở rộng dòng vốn cho tăng trưởng. https://tapchikinhtetaichinh.vn/nang-hang-chung-khoan-mo-rong-dong-von-cho-tang-truong-167426.html.

4. International Organization of Securities Commissions. (IOSCO, 2017). Objectives and principles of securities regulation. https://www.iosco.org/library/pubdocs/pdf/ioscopd561.pdf.

5. Nguyễn Tiến Hưng, & Lê Thị Huyền Trang. (2021). Thực trạng phát triển thị trường vốn Việt Nam. http://consosukien.vn/thuc-trang-phat-trien-thi-truong-von-viet-nam.htm.

6. Nguyễn Thị Mai Huyên, Nguyễn Đặng Hải Yến, & Ngô Sỹ Nam. (2023). Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam và đề xuất một số giải pháp phát triển https://tapchinganhang.gov.vn/thuc-trang-thi-truong-trai-phieu-doanh-nghiep-viet-nam-va-de-xuat-mot-so-giai-phap-phat-trien-10167.html.

7. Quốc hội. (2019). Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14. https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?docid=198541&lang=vi&pageid=27160.

8. Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. (HOSE, 2025). Cải tiến chỉ số VN30 kỳ tháng 7/2025. https://static2.vietstock.vn/vietstock/2025/7/25/tcbc__cai_tien_chi_so_vn30_t7_2025.pdf.

9. Thủ tướng Chính phủ. (2023). Quyết định số 1726/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030. https://cms.baochinhphu.vn/phe-duyet-chien-luoc-phat-trien-thi-truong-chung-khoan-den-nam-2030-102231229170730034.htm.

10. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. (2025). Khai trương giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số VN100. https://ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/l/chitit?dDocName=APPSSCGOVVN1620159940.

11. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. (2026). Thống kê thị trường chứng khoán. https://ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/m/thngtinthtrng/thngkthtrng.

12. World Bank. (2019). Taking stock: An update on Vietnam’s recent economic developments—Finance in transition: Unlocking capital markets for Vietnam’s future development. https://documents.worldbank.org/curated/en/971881576078190397/pdf/Finance-in-Transition-Unlocking-Capital-Markets-for-Vietnam-s-Future-Development.pdf.

Ngày nhận bài: 30/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026

Các tin khác

Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) bổ sung cho lợi nhuận dồn tích về thanh khoản, khả năng tự tài trợ và chất lượng kết quả kinh doanh.
​​​​​​​Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

​​​​​​​Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Đội ngũ giao dịch viên - những người tiếp xúc và giao dịch trực tiếp với khách hàng - được xem như “bộ mặt” của ngân hàng; là nhóm lao động có kết quả công việc gắn liền với năng lực cạnh tranh và uy tín thương hiệu của mỗi ngân hàng thương mại cổ phần.
Xu hướng ngân hàng dịch vụ: Thách thức và giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Xu hướng ngân hàng dịch vụ: Thách thức và giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Ngân hàng dịch vụ là một mô hình phân phối dịch vụ tài chính hiện đại đột phá, cho phép các tổ chức phi ngân hàng thực hiện tích hợp trực tiếp các tính năng và dịch vụ ngân hàng cốt lõi vào các sản phẩm và nền tảng của họ thông qua nền tảng giao diện.
Chuyển dịch cơ chế phòng ngừa rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân và vai trò của ngân hàng hợp tác xã

Chuyển dịch cơ chế phòng ngừa rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân và vai trò của ngân hàng hợp tác xã

Tại Việt Nam, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đóng một vai trò đặc thù và trọng yếu trong kiến trúc tài chính nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy tài chính toàn diện. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động trong những năm qua đã bộc lộ những hạn chế mang tính cơ cấu.
Tín dụng bất động sản Việt Nam: Thực trạng và những vẫn đề đặt ra

Tín dụng bất động sản Việt Nam: Thực trạng và những vẫn đề đặt ra

Do đặc thù cần vốn lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn dài, tín dụng ngân hàng trở thành nguồn vốn quan trọng đối với doanh nghiệp và người dân tham gia thị trường bất động sản.
Phân tích FINBERT về sự lan truyền tâm lý chung và tâm lý thị trường cụ thể đến thị trường chứng khoán cận biên Việt Nam

Phân tích FINBERT về sự lan truyền tâm lý chung và tâm lý thị trường cụ thể đến thị trường chứng khoán cận biên Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng FinBERT đo lường tâm lý và mô hình định lượng kiểm định, cho thấy tâm lý địa chính trị có mối liên hệ với VN-Index mạnh hơn tâm lý từ tin tức tài chính chuyên biệt, qua đó gợi mở hàm ý về quản trị rủi ro và đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Cùng với sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư cá nhân ngày càng dễ dàng tiếp cận thông tin, tham gia giao dịch và tác động đáng kể đến thanh khoản cũng như sự vận động của thị trường.
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng danh mục cho vay.
Nâng cao dịch vụ sau bán hàng trong logistics Việt Nam: Tiếp cận từ hiệu quả tài chính và trung thành khách hàng

Nâng cao dịch vụ sau bán hàng trong logistics Việt Nam: Tiếp cận từ hiệu quả tài chính và trung thành khách hàng

Logistics là lĩnh vực có vai trò quan trọng trong vận hành nền kinh tế, đặc biệt đối với một quốc gia có độ mở thương mại cao như Việt Nam.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò trung gian của năng lực số nhân viên

Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò trung gian của năng lực số nhân viên

Chuyển đổi số là yêu cầu chiến lược giúp ngân hàng thương mại thích ứng với công nghệ tài chính, thay đổi hành vi khách hàng và áp lực cạnh tranh.