Phát triển nguồn nhân lực thương mại điện tử tại Việt Nam: Thực trạng giai đoạn 2021-2025 và định hướng giai đoạn 2026-2030

Nghiên cứu - Trao đổi 17:38 | 22/12/2025
Bài viết phân tích thực trạng nguồn nhân lực thương mại điện tử giai đoạn 2021-202, từ đó đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực thương mại điện tử một cách bền vững, phù hợp với Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Vũ Hiền Thương

Trường Đại học Công nghệ Đông Á

Email: [email protected]

Tóm tắt

Sự bùng nổ của thương mại điện tử tại Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra hàng triệu việc làm mới, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số, vươn tới thị trường toàn cầu, trở thành động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, sự phát triển “nóng” của thương mại điện tử đã và đang đặt ra bài toán nguồn nhân lực khi thị trường lao động chưa phát triển đồng bộ với tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử. Bài viết phân tích thực trạng nguồn nhân lực thương mại điện tử giai đoạn 2021-202, từ đó đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực thương mại điện tử một cách bền vững, phù hợp với Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Từ khóa: Thương mại điện tử, nguồn nhân lực, nhân lực thương mại điện tử

Summary

The rapid expansion of e-commerce in Viet Nam in recent years has created millions of new jobs, encouraged enterprises to undergo digital transformation, and enabled them to reach global markets, thereby becoming a significant driver of economic growth. However, the “overheated” development of e-commerce has posed significant challenges for human resources, as the labor market has not evolved in line with the growth pace of e-commerce. This article analyzes the current state of e-commerce human resources during the 2021-2022 period and, based on this, proposes solutions for the sustainable development of e-commerce human resources in alignment with the National Master Plan for E-commerce Development for the 2026-2030 period.

Keywords: E-commerce, human resources, e-commerce workforce

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự bùng nổ của thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra hàng triệu việc làm mới, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số, vươn tới thị trường toàn cầu, trở thành động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, sự phát triển “nóng” của TMĐT đã và đang đặt ra bài toán nguồn nhân lực (NNL) khi thị trường lao động chưa phát triển đồng bộ với tốc độ tăng trưởng TMĐT. NNL phục vụ ngành TMĐT đang thiếu hụt trầm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng. Theo Bộ Công Thương, tính đến năm 2022, chỉ khoảng 30% nhân lực TMĐT tại các doanh nghiệp cung cấp giải pháp TMĐT được đào tạo bài bản, chính quy; 70% còn lại xuất thân từ các ngành khác (kinh doanh, công nghệ thông tin, marketing…) và phải tự học để thích ứng công việc (Uyên Hương, 2025). Điều này đồng nghĩa phần lớn nhân sự TMĐT chưa được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên sâu, gây nên khoảng trống lớn về kỹ năng so với nhu cầu thực tế. Đây là lĩnh vực đòi hỏi kiến thức liên ngành (kinh tế, công nghệ thông tin, quản trị, ngoại ngữ), cần thời gian đào tạo dài hạn trong khi các khóa ngắn hạn chỉ giải quyết tạm thời phần nào tình trạng thiếu nhân lực. Do đó, việc thúc đẩy đào tạo chính quy, bài bản tại các cơ sở giáo dục đại học được xem là giải pháp căn cơ để phát triển NNL TMĐT chất lượng cao trong tương lai.

KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Vấn đề phát triển NNL TMĐT đã thu hút sự quan tâm của nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng NNL là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển TMĐT (Phan Thi Thuy và cộng sự 2024). Điều này hàm ý muốn thúc đẩy TMĐT, các quốc gia phải đầu tư vào đào tạo nhân sự chất lượng cao trong lĩnh vực này. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy cần triển khai đào tạo một cách bài bản, chuyên môn hóa, đồng thời đẩy mạnh hợp tác Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong phát triển nhân lực TMĐT (Loso Judijanto và cộng sự 2023). Chẳng hạn, Trung Quốc đã xây dựng các chương trình đào tạo TMĐT quy mô lớn kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và trường đại học, giúp sinh viên ra trường có thể đáp ứng ngay yêu cầu thực tiễn(Meiyu Fang và cộng sự 2023). Các doanh nghiệp TMĐT hàng đầu cũng tham gia vào quá trình đào tạo thông qua chương trình thực tập, học việc, góp phần rút ngắn khoảng cách kỹ năng giữa nhà trường và thị trường lao động.

Tại Việt Nam, Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM) đánh giá NNL cho TMĐT đang và sẽ thiếu hụt trầm trọng. Báo cáo Đào tạo TMĐT 2022 của VECOM cho thấy, số lượng cơ sở đào tạo TMĐT tuy tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thị trường. Đồng thời, hoạt động đào tạo TMĐT tại các trường còn nhiều trở ngại về giảng viên, học liệu, chương trình cũng như chưa gắn kết chặt chẽ với thực tiễn doanh nghiệp. Tình trạng đào tạo TMĐT hiện nay còn hạn chế, mới chỉ ở phạm vi cơ bản mà thiếu hụt trình độ cao, chưa có nhiều chương trình chuyên sâu, tạo ra khoảng trống kỹ năng số cho nền kinh tế số.

Báo cáo của McKinsey (2023) chỉ ra xu hướng đa kênh số đang nổi lên tại Việt Nam: TMĐT qua mạng xã hội bắt đầu phát triển nhanh, đặc biệt với sự xuất hiện của TikTok Shop và vai trò của người ảnh hưởng (KOL) trong thúc đẩy tiêu dùng. Điều này đòi hỏi nhân sự TMĐT phải am hiểu cả kỹ năng tiếp thị số, quản lý cộng đồng trực tuyến và vận hành bán hàng trên các mạng xã hội (Sal Arora và cộng sự 2022). Hơn nữa, sự dịch chuyển của người tiêu dùng sang kênh trực tuyến đòi hỏi doanh nghiệp cung cấp trải nghiệm dịch vụ logistics, giao hàng ngày càng khắt khe đòi hỏi nhân lực ngành phải thích nghi với việc quản lý chuỗi cung ứng nhanh và linh hoạt trong TMĐT.

Trong lĩnh vực TMĐT, xu hướng xanh thể hiện ở việc sàn TMĐT áp dụng bao bì tái chế, logistics xanh, kho hàng carbon thấp… Những thay đổi này đòi hỏi lực lượng lao động TMĐT phải được trang bị kiến thức về sản xuất xanh, chuỗi cung ứng xanh và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường. Hiện nay, nội dung này còn tương đối mới trong chương trình đào tạo TMĐT, đặt ra nhu cầu cần cập nhật kịp thời.

THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021-2025

Nhu cầu nhân lực tăng cao

Giai đoạn 2021-2025 chứng kiến sự bùng nổ của thị trường TMĐT Việt Nam và kéo theo nhu cầu nhân lực tăng đột biến. Sự dịch chuyển mạnh mẽ từ mua sắm truyền thống sang trực tuyến khiến cho không chỉ các sàn TMĐT hàng đầu (như Shopee, Lazada, Tiki) “khát” nhân lực, mà các doanh nghiệp bán lẻ truyền thống đang chuyển đổi số cũng cần tuyển dụng lượng lớn nhân viên chuyên về TMĐT. Cơ cấu nhu cầu nhân lực TMĐT cũng ngày càng đa dạng. Do đặc thù liên ngành, doanh nghiệp tìm kiếm nhân sự không chỉ am hiểu kinh doanh mà còn phải thành thạo công nghệ số và các nền tảng trực tuyến. Những vị trí được săn đón nhiều gồm: quản lý vận hành TMĐT, phân tích dữ liệu, tiếp thị số (digital marketing), quản lý sản phẩm online, chuyên viên SEO/SEM, chuyên viên chuỗi cung ứng cho TMĐT... Đáng chú ý, sự trỗi dậy của TMĐT qua mạng xã hội và livestream bán hàng cũng tạo nhu cầu mới về nhân lực thông thạo quản lý cộng đồng mạng, sáng tạo nội dung số, và phối hợp với KOLs.

Nguồn cung nhân lực và công tác đào tạo

Về đào tạo chính quy, trước năm 2015, có rất ít trường đại học có ngành TMĐT. Nhờ nỗ lực của Bộ Công Thương và VECOM, từ 2018 trở lại đây số trường mở ngành/chuyên ngành TMĐT tăng nhanh. Cả nước có hơn 500 trường đại học, cao đẳng, nhưng đến năm 2022 chỉ có 36 trường đào tạo chuyên ngành TMĐT và khoảng 50-60 trường có đào tạo học phần TMĐT. Đến năm 2023, đã có 89 cơ sở giáo dục đại học cung cấp các khóa học TMĐT, 16 cơ sở cung cấp chương trình chuyên ngành TMĐT, 40 cơ sở cung cấp chuyên ngành TMĐT và 47% cơ sở cung cấp các khóa học TMĐT(Phan Thi Thuy và cộng sự 2024).

Cùng với mở ngành, chất lượng và kết quả đào tạo bước đầu có tín hiệu khả quan. Nhiều sinh viên ngành TMĐT đã có việc làm ngay từ cuối năm cuối và hầu hết có việc làm trong vòng một năm sau tốt nghiệp với mức thu nhập khá. Điều này cho thấy sức hấp dẫn của thị trường lao động TMĐT đối với sinh viên. Nhu cầu tuyển sinh ngành TMĐT cũng tăng vọt, các ngành liên quan, như: logistics, tiếp thị số cũng thu hút thí sinh do liên hệ mật thiết với TMĐT. Một số sinh viên tốt nghiệp TMĐT không chỉ làm tại các công ty TMĐT lớn, mà còn khởi nghiệp hoặc làm ở các lĩnh vực khác, như: quản lý chuỗi cung ứng, phát triển sản phẩm số…, cho thấy kỹ năng TMĐT có tính ứng dụng rộng.

Tuy nhiên, nguồn cung nhân lực TMĐT vẫn chưa đáp ứng đủ cầu về số lượng lẫn chất lượng. Hiện mỗi năm, Việt Nam chỉ đào tạo khoảng 10.000-15.000 sinh viên ngành TMĐT, trong khi riêng Shopee có hơn 600.000 gian hàng đang hoạt động và cần nhân sự vận hành. Nếu giả định mỗi doanh nghiệp/gian hàng chỉ cần 1 nhân viên TMĐT, thì “phải mất… 30 năm mới có đủ nhân lực cho ngành” với tốc độ đào tạo hiện nay (Phong Lâm, 2025). Con số này cho thấy một khoảng cách rất lớn giữa cung và cầu.

Về kỹ năng và chất lượng nhân lực, nhiều phản hồi từ doanh nghiệp cho thấy, sinh viên TMĐT mới ra trường còn thiếu kinh nghiệm thực hành. Phần đông doanh nghiệp khi tham gia TMĐT gặp khó khăn trong tuyển dụng nhân sự thành thạo kỹ năng số chuyên sâu (như quản trị cơ sở dữ liệu khách hàng, phân tích dữ liệu, vận hành hệ thống TMĐT phức tạp).

Một số hạn chế và tồn tại

Bên cạnh kết quả đạt được, thực trạng NNL TMĐT giai đoạn 2021-2025 vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như:

Thứ nhất, số nhân sự được đào tạo chính quy bài bản chỉ chiếm 30%, tức là đa số làm TMĐT không qua đào tạo chuyên ngành, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp địa phương.

Thứ hai, chương trình và phương pháp đào tạo TMĐT tại nhiều trường đại học chưa theo kịp yêu cầu thực tế. Kiến thức truyền tải cho sinh viên còn nghiêng về lý thuyết, thiếu đa dạng về thực hành thực tế và chưa đc cập nhật các công nghệ số mới (như AI, blockchain, bigdata trong TMĐT). Nhiều trường gặp khó khăn do thiếu giảng viên có chuyên môn sâu về TMĐT, thiếu giáo trình, tài liệu cập nhật và chưa có sự liên kết hiệu quả với doanh nghiệp để tổ chức thực tập, dự án thực tế. Điều này dẫn đến sinh viên tốt nghiệp khó tránh bỡ ngỡ khi bước vào môi trường làm việc năng động của TMĐT.

Thứ ba, sự mất cân đối về nhân lực TMĐT giữa các vùng miền vẫn khá lớn. Các trung tâm kinh tế như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh tập trung đa số nhân sự TMĐT có trình độ, trong khi ở nhiều địa phương khác, doanh nghiệp rất khó tuyển người làm TMĐT.

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ GIAI ĐOẠN 2026-2030

Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026-2030 (sau đây gọi tắt là Kế hoạch) do Bộ Công Thương phê duyệt đã xác định, phát triển NNL TMĐT là một trong những ưu tiên và đưa ra các chỉ tiêu cụ thể nhằm lượng hóa định hướng phát triển. Về quy mô và phổ cập TMĐT, 70% dân số Việt Nam sẽ tham gia mua sắm trực tuyến vào năm 2030. Tỷ trọng TMĐT trong tổng mức bán lẻ dự kiến đạt 20%. Điều này gián tiếp đòi hỏi lực lượng lao động TMĐT phải mở rộng tương ứng để phục vụ lượng lớn người tiêu dùng số và giao dịch trực tuyến gia tăng.

Kế hoạch cũng đề ra mục tiêu liên quan đến TMĐT xanh và bền vững, trong đó yêu cầu cần cải tiến công nghệ, quy trình logistics và cần nhân lực TMĐT hiểu biết, thực hành được các tiêu chuẩn “xanh”. Bên cạnh đó, Kế hoạch cũng tiếp tục kế thừa định hướng thu hẹp khoảng cách phát triển TMĐT giữa các vùng miền. Một chỉ tiêu cụ thể là giá trị giao dịch TMĐT của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh giảm từ 75% (giai đoạn 2021-2025) xuống còn 50% tổng giao dịch cả nước vào 2030. Ngược lại, các địa phương khác sẽ chiếm 50% thị phần. Do đó, trong các kế hoạch TMĐT cấp tỉnh giai đoạn tới, nội dung đào tạo nhân lực sẽ tiếp tục là ưu tiên, làm “trung tâm phát triển TMĐT địa phương”.

Xuất phát từ thực trạng và định hướng chính sách nói trên, tác giả đề xuất một số nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phát triển NNL TMĐT Việt Nam trong thời gian tới. Các giải pháp này cần sự phối hợp chặt chẽ theo mô hình “liên kết ba bên” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp), cụ thể là:

Về phía Nhà nước

- Hoạch định chiến lược và đầu tư cho đào tạo nhân lực TMĐT: Nhà nước cần cụ thể hóa các mục tiêu phát triển nhân lực trong ngành TMĐT trong Kế hoạch thành các đề án và chương trình hành động rõ ràng. Ví dụ khi triển khai Đề án Đào tạo 1 triệu kỹ năng số và TMĐT cần phân công trách nhiệm rõ ràng cho các bộ, ngành; nên xác định chỉ tiêu hàng năm, đối tượng đào tạo (sinh viên, nhân viên doanh nghiệp, hộ kinh doanh) và các nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách hoặc ODA. Đây là một khoản đầu tư dài hạn, cần ưu tiên cùng mức độ với đầu tư cho hạ tầng số.

- Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đào tạo: Nhà nước nên ban hành các chính sách hỗ trợ các trường mở ngành TMĐT như ưu tiên chỉ tiêu tuyển sinh, tài trợ kinh phí cho các chương trình thí điểm ngành mới và khen thưởng các trường có thành tích xuất sắc. Chính sách cần hỗ trợ thu hút giảng viên giỏi, hỗ trợ lương cho chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy hoặc cấp học bổng nghiên cứu cho giảng viên trẻ học lên tiến sĩ về TMĐT. Đồng thời, cần xem xét việc xây dựng chứng chỉ nghề TMĐT quốc gia để chuẩn hóa kỹ năng cho người lao động ngoài hệ thống giáo dục chính quy tạo điều kiện cho việc học suốt đời và chuyển đổi kỹ năng.

- Tăng cường vai trò điều phối của Bộ Công Thương và các hiệp hội: Bộ Công Thương cần chủ động phối hợp điều phối các hoạt động đào tạo TMĐT trên toàn quốc, phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo TMĐT, tổ chức họp mặt định kỳ, chia sẻ thông tin và kết nối các thành viên. Hiệp hội TMĐT như VECOM nên tham gia tích cực vào việc khảo sát đào tạo hàng năm và hỗ trợ trường học xây dựng chương trình đào tạo cũng như tạo cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà trường.

- Đưa nội dung TMĐT vào các chương trình mục tiêu quốc gia: Nhà nước có thể lồng ghép mục tiêu phát triển nhân lực TMĐT vào các chương trình quốc gia liên quan như Chương trình Chuyển đổi số quốc gia và Chiến lược phát triển kinh tế số. Điều này sẽ giúp tận dụng nguồn lực chung và tránh sự trùng lặp, đồng thời giúp TMĐT được coi là một phần quan trọng của phát triển kinh tế số.

- Theo dõi, đánh giá và điều chỉnh linh hoạt: Cần xây dựng bộ chỉ số để đánh giá sự phát triển của nhân lực TMĐT, bao gồm số lượng sinh viên tốt nghiệp, số khóa đào tạo, tỷ lệ có việc làm và mức độ hài lòng của doanh nghiệp. Hàng năm cần có các cuộc đánh giá để theo dõi tiến độ, kịp thời điều chỉnh nếu cần thiết, như hỗ trợ các trường thiếu giảng viên hoặc tổ chức đối thoại giữa trường và doanh nghiệp để cải thiện chương trình đào tạo.

Về phía Nhà trường

- Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy: Các trường đại học và cao đẳng cần cập nhật chương trình TMĐT theo xu hướng hội nhập, bổ sung các môn học mới, như: phân tích dữ liệu trong TMĐT, AI trong TMĐT, quản lý TMĐT trên nền tảng di động và mạng xã hội, TMĐT xanh và bền vững… Đồng thời, tăng cường thực hành, đồ án và case study trong từng học phần. Sinh viên có thể được yêu cầu xây dựng website TMĐT, triển khai chiến dịch quảng cáo trực tuyến hoặc quản lý gian hàng trên các nền tảng như Shopee/Tiki…

- Phát triển đội ngũ giảng viên và nghiên cứu về TMĐT: Các trường cần có kế hoạch dài hạn để phát triển đội ngũ giảng viên TMĐT, bao gồm việc mời chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy và hỗ trợ giảng viên trẻ học lên tiến sĩ về TMĐT. Trường cũng nên tạo cơ hội cho giảng viên tham gia thực tế tại doanh nghiệp để cập nhật kiến thức thực tiễn và áp dụng vào giảng dạy.

- Hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo: Cần chủ động kết nối với doanh nghiệp để xây dựng các chương trình hợp tác đào tạo, như chương trình thực tập kéo dài từ 3-6 tháng tại các doanh nghiệp TMĐT cho sinh viên năm cuối. Doanh nghiệp có thể tham gia hội đồng tư vấn ngành học, hỗ trợ các hoạt động tài trợ cho phòng lab TMĐT tại trường và cung cấp cơ hội thực tập hoặc hướng dẫn làm dự án thực tế cho sinh viên.

- Phát triển các khóa đào tạo ngắn hạn, chứng chỉ chuyên môn: Các trường có thể mở các khóa đào tạo ngắn hạn về TMĐT cho doanh nghiệp và người lao động. Các khóa học như "Digital Marketing nền tảng", "Quản lý gian hàng trên sàn TMĐT" hay "Xuất khẩu trực tuyến" sẽ giúp bổ sung kiến thức cho 70% nhân lực TMĐT chưa qua đào tạo chính quy. Các trường cũng có thể hợp tác với các nền tảng học online uy tín như Coursera, edX để phát triển các khóa học MOOC về TMĐT.

- Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và học tập suốt đời: Các trường cần khuyến khích sinh viên tham gia các câu lạc bộ khởi nghiệp, các cuộc thi ý tưởng kinh doanh online, hackathon về TMĐT để rèn luyện kỹ năng sáng tạo và năng động. Đồng thời, cần giáo dục sinh viên ý thức tự học và học tập liên tục sau khi ra trường, cập nhật xu hướng mới trong ngành.

Về phía doanh nghiệp và xã hội

- Doanh nghiệp chủ động tham gia đào tạo và thu hút nhân tài: Doanh nghiệp TMĐT nên chủ động hợp tác với các trường đại học trong đào tạo, nhận sinh viên thực tập, cử chuyên gia giảng dạy và tài trợ học bổng. Doanh nghiệp cũng có thể thiết lập học viện TMĐT nội bộ hoặc các chương trình Management Trainee (MT) để thu hút nhân tài. Để giữ chân nhân viên, doanh nghiệp cần có chính sách đãi ngộ cạnh tranh và môi trường sáng tạo.

- Phát huy vai trò của các sàn TMĐT lớn: Các sàn như Shopee, Lazada, Amazon nên tổ chức các khóa học và webinar cho người bán hàng để nâng cao kỹ năng. Nhà nước có thể hỗ trợ các sàn trong việc kết nối và vinh danh các sàn tích cực tham gia đào tạo cộng đồng.

- Người lao động tự nâng cao kỹ năng: Mỗi cá nhân trong ngành TMĐT cần có ý thức tự học và cập nhật xu hướng mới. Người lao động nên tham gia các khóa học trực tuyến và các cộng đồng TMĐT để duy trì sự cạnh tranh trong ngành.

- Tăng cường truyền thông về nghề TMĐT: Công tác truyền thông cần giúp xã hội nhận thức rõ ràng về cơ hội nghề nghiệp trong TMĐT và thu hút người trẻ tham gia. Các câu chuyện thành công về doanh nghiệp bán hàng online thành công cần được lan tỏa để tạo động lực học hỏi cho cộng đồng.

- Chú trọng yếu tố "xanh" và đạo đức kinh doanh trong đào tạo: Ngoài kỹ năng chuyên môn, việc giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội và môi trường trong hoạt động TMĐT là rất cần thiết. Doanh nghiệp nên xây dựng văn hóa xanh, khuyến khích sáng kiến giảm tác động môi trường trong hoạt động TMĐT. Trường học cũng cần bổ sung các chuyên đề về phát triển bền vững, tiêu dùng xanh vào chương trình đào tạo.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công Thương (2025). Quyết định số 1568/QĐ-BCT ngày 3/6/2025 phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026-2030.

2. Meiyu Fang et al (2023). An Empirical Study of the Influencing Factors of University-Enterprise Authentic Cooperation on Cross-Border E-Commerce Employment: The Case of Zhejiang. Sustainability, 15(8). https://doi.org/10.3390/su15086993

3. Loso Judijanto et al (2023). Strategic human capital planning in the asian digital economy: aligning workforce development with business objectives. International journal of economic literature, 1(3), 344-360.

4. Phong Lâm (2025). Giải “cơn khát” nhân lực trong thương mại điện tử. https://congthuong.vn/giai-con-khat-nhan-luc-trong-thuong-mai-dien-tu-386494.html.

5. Phan Thi Thuy et al (2024). Vietnamese current e-commerce and opportunities for human resources training in educational institutions. Tay Nguyen Journal of Science, 5(18).

6. Sal Arora et al (2022). E-commerce is entering a new phase in Southeast Asia. Are logistics players prepared?. https://www.linkedin.com/redir/redirect?url=https%3A%2F%2Fwww%2Emckinsey%2Ecom%2Findustries%2Ftravel-logistics-and-infrastructure%2Four-insights%2Fe-commerce-is-entering-a-new-phase-in-southeast-asia-are-logistics-players-prepared&urlhash=mn23&trk=article-ssr-frontend-pulse_little-text-block

7. Uyên Hương (2025). Cơn khát' nhân lực thương mại điện tử. https://baotintuc.vn/kinh-te/con-khat-nhan-luc-thuong-mai-dien-tu-20250511144115626.htm.

Ngày nhận bài: 15/10/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/11/2025; Ngày duyệt đăng: 21/12/2025

Các tin khác

Thực trạng chuyển dịch năng lượng trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp

Thực trạng chuyển dịch năng lượng trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp

Bài viết phân tích thực trạng sử dụng và chuyển dịch năng lượng của doanh nghiệp sản xuất giai đoạn 2020-2023 từ số liệu của Cục Thống kê, qua đó đề xuất giải pháp thúc đẩy chuyển dịch năng lượng trong tương lai.
Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao chất lượng công tác tham mưu phục vụ chỉ đạo, điều hành: Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam nói chung và Bộ Tài Chính nói riêng

Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao chất lượng công tác tham mưu phục vụ chỉ đạo, điều hành: Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam nói chung và Bộ Tài Chính nói riêng

Dựa trên kinh nghiệm quốc tế về tổ chức hệ thống tham mưu, phát triển nhân lực, phối hợp liên ngành và ứng dụng công nghệ số, bài viết đề xuất các bài học và hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng tham mưu phục vụ chỉ đạo, điều hành tại Việt Nam, đặc biệt là Bộ Tài chính, trong bối cảnh quản lý kinh tế – tài chính ngày càng phức tạp.
Quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi hướng môi trường nơi làm việc: Tổng quan hệ thống tài liệu và khung nghiên cứu tương lai

Quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi hướng môi trường nơi làm việc: Tổng quan hệ thống tài liệu và khung nghiên cứu tương lai

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và áp lực chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng, quản trị nguồn nhân lực xanh đã trở thành chiến lược trọng yếu giúp các tổ chức kích hoạt hành vi hướng môi trường của người lao động và nâng cao hiệu suất sinh thái bền vững
Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Việc tổ chức lại đơn vị hành chính làm thay đổi căn bản đặc điểm địa kinh tế của tỉnh Vĩnh Long. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới là yêu cầu cấp thiết.
Vai trò điều tiết của chất lượng thể chế địa phương trong mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng FDI và hiệu quả kinh tế khu vực tư nhân

Vai trò điều tiết của chất lượng thể chế địa phương trong mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng FDI và hiệu quả kinh tế khu vực tư nhân

Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ lâu được xem là kênh chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản trị quan trọng nhất đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, lợi ích thực tế mà doanh nghiệp thu được từ mối liên kết này không đồng đều giữa các địa phương.
Nhận thức và đánh giá về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác kế toán: Kết quả khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên

Nhận thức và đánh giá về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác kế toán: Kết quả khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên

Tại Việt Nam, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong kế toán và kiểm toán ngày càng được quan tâm, song doanh nghiệp vẫn đối mặt với những thách thức về nguồn lực, hạ tầng công nghệ và năng lực nhân sự...
Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Du lịch cộng đồng tạo sinh kế từ tài nguyên tự nhiên, văn hóa và tri thức địa phương, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân vào tổ chức dịch vụ, bảo vệ tài nguyên và phân phối lợi ích.
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư và cung cấp dịch vụ cấp nước sạch nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, song vẫn chịu nhiều rào cản liên quan đến rủi ro đầu tư và khả năng thu hồi vốn
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Nghiên cứu làm rõ yêu cầu cân bằng giữa bảo đảm an ninh quốc gia và thu hút FDI thông qua các tiêu chí kiểm soát minh bạch, rõ ràng và tương xứng với mức độ rủi ro, trên cơ sở phân tích cơ chế kiểm soát đầu tư nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam.
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Bài viết phân tích các cơ hội và thách thức trong đổi mới mô hình kinh doanh dưới tác động của công nghệ số, từ đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả đổi mới và xác định hướng nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.