Phân tích lợi ích - chi phí của việc thay thế túi nilon sang túi giấy tại các quán thức ăn nhanh trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
ThS. Bùi Minh Tiết
Trường Đại học Văn Hiến, Email: [email protected]
Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Thanh Vi, Đặng Thị Bảo Phúc
Trường Đại học Văn Hiến
Tóm tắt
Nghiên cứu vận dụng phân tích lợi ích - chi phí (CBA) kết hợp Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để đánh giá tính khả thi và tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến quyết định thay thế túi nilon bằng túi giấy tại các quán thức ăn nhanh ở TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu khảo sát 171 người tiêu dùng được phân tích bằng Cronbach's Alpha, tương quan Pearson và hồi quy đa biến. Kết quả cho thấy, Chuẩn chủ quan cá nhân tác động mạnh nhất; tiếp theo là Mối quan tâm môi trường, Sự sẵn sàng chi trả và Chi phí chuyển đổi. Chi phí chuyển đổi có quan hệ cùng chiều với Quyết định thay thế, cho thấy người tiêu dùng nhận thức các rào cản nhưng vẫn sẵn sàng chấp nhận vì lợi ích môi trường và xã hội. Theo phân tích CBA, việc chuyển đổi có tính khả thi và gợi mở các hàm ý quản trị, chính sách cho doanh nghiệp F&B và cơ quan quản lý đô thị.
Từ khóa: Phân tích lợi ích - chi phí (CBA), thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), túi giấy, thức ăn nhanh, thành phố Hồ Chí Minh
Abstract
This study applies cost-benefit analysis (CBA) in combination with the Theory of Planned Behavior (TPB) to assess the feasibility of replacing plastic bags with paper bags at fast-food restaurants in Ho Chi Minh City and examine the effects of socioeconomic factors on this decision. Survey data from 171 consumers were analyzed using Cronbach’s Alpha, Pearson correlation, and multiple regression. The results show that personal subjective norms have the strongest effect, followed by environmental concern, willingness to pay, and switching costs. Switching costs are positively associated with the decision to switch, indicating that consumers recognize the barriers involved but remain willing to accept them in view of the environmental and social benefits. The CBA results suggest that the transition is feasible and provide managerial and policy implications for food and beverage (F&B) businesses and urban authorities.
Keywords: Cost-benefit analysis (CBA), Theory of Planned Behavior (TPB), paper bags, fast-food restaurants, Ho Chi Minh City
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành dịch vụ ẩm thực (F&B) tại Việt Nam, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh ngày càng tăng trưởng cùng với lối sống đô thị, kéo theo xu hướng thức ăn nhanh, mua mang đi và đặt món trực tuyến. Sự tiện lợi này đồng thời làm gia tăng lượng bao bì nhựa và túi nilon dùng một lần, tạo áp lực lên hệ thống quản lý chất thải và môi trường đô thị.
Túi nilon phổ biến nhờ giá rẻ, nhẹ, bền và chống nước tốt. Tuy nhiên, loại rác thải này mất hàng trăm năm để phân hủy, gây ô nhiễm đất, nước, tắc nghẽn thoát nước và ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, một số túi nilon tái chế thủ công có thể chứa chì, cadimi; khi đựng thực phẩm nóng, nhiều dầu mỡ, các chất này có nguy cơ thôi nhiễm vào thức ăn.
Xu hướng tiêu dùng xanh thúc đẩy việc thay túi nilon bằng túi giấy nhờ khả năng phân hủy, tái chế và phù hợp hơn với mục tiêu bảo vệ môi trường. Tuy vậy, đây vẫn là bài toán kinh tế: túi giấy thường có giá cao hơn 3-5 lần, làm tăng chi phí vận hành; đồng thời có hạn chế như dễ rách, thấm nước và bất tiện khi mang xách. Vì vậy, cần thiết đánh giá đồng thời lợi ích và chi phí của quá trình chuyển đổi. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm bù đắp khoảng trống và sự cần thiết này.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu trong nước cho thấy nhận thức môi trường, sự sẵn sàng chi trả và chuẩn chủ quan là những yếu tố quan trọng đối với hành vi giảm sử dụng nhựa và lựa chọn bao bì xanh. Do và cộng sự (2021), khảo sát 126 cửa hàng thức ăn nhanh tại TP. Hồ Chí Minh, ghi nhận khoảng 6 tấn chất thải/ngày, trong đó, nhựa chiếm 39% và giấy 28%, cho thấy nhu cầu cải thiện quản lý chất thải. Dương Thị Ngọc Liên và Nguyễn Thị Đăng Trinh (2023), với N = 147, cũng xác định sự sẵn sàng chi trả, mối quan tâm môi trường và chuẩn chủ quan là 3 nhân tố cốt lõi của ý định mua sản phẩm có bao bì xanh.
Một số nghiên cứu quốc tế chỉ ra sự đánh đổi giữa chi phí sản xuất và chi phí môi trường. Yousuf và Dunlop (2024) cho rằng túi giấy tiêu tốn nhiều gỗ, nước và năng lượng nên giá thành cao, trong khi túi nhựa có chi phí sản xuất thấp nhưng gây tác động môi trường kéo dài. Ho và cộng sự (2024) ước tính chi phí một túi nilon khoảng 1-5 xu, còn túi giấy 5-25 xu hoặc hơn. Ubando và cộng sự (2015) cho thấy, túi giấy có thể có tác động môi trường cao hơn trong giai đoạn sản xuất, nhưng túi nilon phát sinh chi phí lớn ở giai đoạn thải bỏ do khó phân hủy và gây tắc nghẽn đô thị. Oloyede và Lignou (2021)cũng nhấn mạnh rằng, người tiêu dùng chỉ sẵn sàng trả thêm khi túi giấy bảo đảm tính tiện dụng và khả năng bảo quản thực phẩm.
Cơ sở lý thuyết về phân tích lợi ích - chi phí (CBA)
Phân tích lợi ích - chi phí (CBA) (Boardman và cộng sự, 2018) là phương pháp lượng hóa và so sánh toàn bộ lợi ích, chi phí của một dự án hay chính sách, kể cả các tác động phi tiền tệ. Theo Boardman và cộng sự (2018), thước đo cốt lõi là Lợi ích xã hội ròng (Net Social Benefit - NSB):
NSB = B - C
Trong đó: B là tổng Lợi ích xã hội và C là tổng Chi phí xã hội.
Một phương án được xem là đáng giá khi NSB > 0; nhờ đó CBA cho phép đánh giá cả các ngoại tác môi trường và sức khỏe bên cạnh chi phí tài chính trực tiếp.
Các học thuyết kinh tế và hành vi bổ trợ
Học thuyết kinh tế học phúc lợi (Pigou, 1932): đánh giá sự thay đổi phúc lợi xã hội thông qua các lợi ích và tổn thất. Trong chuyển đổi bao bì, túi giấy có thể làm tăng chi phí cho doanh nghiệp và người tiêu dùng nhưng đồng thời tạo lợi ích về môi trường và sức khỏe.
Nguyên tắc bù trừ Kaldor-Hicks (Kaldor, 1939; Hick, 1939): một thay đổi được coi là hiệu quả nếu lợi ích của nhóm được lợi đủ lớn để bù đắp cho nhóm chịu thiệt và vẫn còn lợi ích ròng dương.
Lý thuyết ngoại tác và thuế/Trợ cấp Pigouvian (Pigou, 1920): thuế đối với túi nilon giúp nội hóa chi phí ngoại tác tiêu cực, trong khi trợ cấp cho bao bì giấy có thể khuyến khích các ngoại tác tích cực cho môi trường.
Thuyết hành vi có Kế hoạch (TPB): theo Ajzen (1991), ý định hành vi chịu ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong nghiên cứu này, ý định tiêu dùng xanh có thể làm tăng khả năng chấp nhận chi phí và bất tiện để lựa chọn túi giấy.
MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tích hợp CBA và TPB, nghiên cứu đánh giá tác động của 4 nhân tố đến quyết định thay thế túi nilon bằng túi giấy gồm: Mối quan tâm môi trường, Sự sẵn sàng chi trả, Chuẩn chủ quan cá nhân và Chi phí chuyển đổi. Các nhân tố này phản ánh sự cân nhắc giữa lợi ích cảm nhận và chi phí cảm nhận.
Mối quan tâm môi trường: Phản ánh nhận thức về tác hại của rác thải nhựa và lợi ích môi trường của túi giấy. Từ đó, giả thuyết được đề xuất:
H1: Mối quan tâm môi trường có ảnh hưởng tích cực đến Quyết định thay thế túi nilon bằng túi giấy.
Sự sẵn sàng chi trả: Phản ánh mức độ người tiêu dùng chấp nhận trả thêm cho bao bì giấy để đổi lấy lợi ích môi trường, xã hội và an toàn sức khỏe. Giả thuyết sau được đề xuất:
H2: Sự sẵn sàng chi trả có ảnh hưởng tích cực đến Quyết định thay thế túi nilon bằng túi giấy.
Chuẩn chủ quan cá nhân: Phản ánh ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các xu hướng sống xanh. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H3: Chuẩn chủ quan cá nhân có ảnh hưởng tích cực đến Quyết định thay thế túi nilon bằng túi giấy.
Chi phí chuyển đổi: gồm lo ngại về tăng giá, thời gian đóng gói và hạn chế vật lý của túi giấy. Giả thuyết sau được đề xuất:
H4: Chi phí chuyển đổi có ảnh hưởng tiêu cực đến Quyết định thay thế túi nilon bằng túi giấy.
Mô hình hồi quy thực nghiệm đề xuất
Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được xây dựng để kiểm định các giả thuyết trên có dạng:
TT = β0 + β1MT + β2CT + β3CCQ + β4CP + e
Trong đó: TT là Quyết định thay thế túi nilon bằng túi giấy; MT là Mối quan tâm môi trường; CT là Sự sẵn sàng chi trả; CCQ là Chuẩn chủ quan cá nhân; CP là Chi phí chuyển đổi; βi là các hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa và e là sai số ngẫu nhiên.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp giữa định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện trên cơ sở tổng quan tài liệu, lược khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, kết hợp Lý thuyết phân tích Lợi ích – Chi phí (CBA) và Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu, xây dựng khung lý thuyết tích hợp và điều chỉnh các biến quan sát trong bảng hỏi cho phù hợp bối cảnh ngành dịch vụ ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh.
Giai đoạn định lượng, nghiên cứu tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc để thu thập dữ liệu thực nghiệm từ người dùng dịch vụ thức ăn nhanh, mua mang đi hoặc đặt món trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh. Thu về được 171 mẫu hợp lệ, đưa vào phân tích để kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến. Các biến được đo lượng bằng thang đo Likert 5 điểm.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Mô tả mẫu khảo sát
Nghiên cứu thu được 171 phiếu khảo sát hợp lệ từ người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh; đặc điểm mẫu được trình bày tại Bảng 1.
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học và hành vi của mẫu khảo sát (N = 171)
|
Tiêu chí phân loại |
Nhóm đối tượng |
Tần số (n) |
Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
|
Khu vực sinh sống |
Nội thành TP. Hồ Chí Minh |
117 |
68,42 |
|
Ngoại thành TP. Hồ Chí Minh |
54 |
31,58 |
|
|
Độ tuổi |
Dưới 18 tuổi |
22 |
12,87 |
|
Từ 18 - 25 tuổi (Gen Z) |
111 |
64,91 |
|
|
Từ 26 - 35 tuổi |
29 |
16,96 |
|
|
Trên 35 tuổi |
9 |
5,26 |
|
|
Thu nhập hàng tháng |
Dưới 5 triệu đồng |
84 |
49,12 |
|
Từ 5 - 10 triệu đồng |
56 |
32,75 |
|
|
Từ 10 - 20 triệu đồng |
22 |
12,87 |
|
|
Trên 20 triệu đồng |
9 |
5,26 |
|
|
Tần suất ăn đồ nhanh |
Hàng ngày |
42 |
24,56 |
|
2 - 3 lần/tuần |
80 |
46,78 |
|
|
Ít hơn |
49 |
28,65 |
Nguồn: Kết quả khảo sát
Theo Bảng 1, mẫu tập trung ở nhóm 18-25 tuổi (64,91%); hơn 81% có thu nhập dưới 10 triệu đồng/tháng. Có 71,34% người trả lời sử dụng thức ăn nhanh từ 2 lần/tuần trở lên, cho thấy tần suất phát sinh bao bì dùng một lần tương đối cao.
Kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha)
Độ tin cậy của các thang đo được đánh giá bằng Cronbach's Alpha (Bảng 2).
Bảng 2: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha
|
Ký hiệu |
Thang đo và biến quan sát |
Tương quan biến-tổng |
Alpha nếu loại biến |
Alpha chung |
|---|---|---|---|---|
|
MT |
Mối quan tâm đến môi trường |
|
|
0,859 |
|
MT1 |
Sử dụng túi giấy giúp giảm ô nhiễm môi trường tại TP. Hồ Chí Minh |
0,789 |
0,748 |
|
|
MT2 |
Quán ăn nhanh chuyển đổi túi giấy là đóng góp tích cực |
0,705 |
0,828 |
|
|
MT3 |
Hiểu rõ tác hại lâu dài của việc lạm dụng bao bì nilon |
0,708 |
0,825 |
|
|
CT |
Sẵn sàng chi trả |
|
|
0,664 |
|
CT1 |
Sẵn lòng chi trả thêm 1.000 - 2.000 đồng để bảo vệ môi trường |
0,645 |
0,315 |
|
|
CT2 |
Sẵn lòng trả thêm nếu túi giấy đảm bảo an toàn đồ nóng |
0,220 |
0,863 |
|
|
CT3 |
Sẵn sàng tự trả chi phí chênh lệch thay vì dùng túi nilon free |
0,618 |
0,366 |
|
|
CCQ |
Chuẩn chủ quan cá nhân |
|
|
0,698 |
|
CCQ1 |
Mọi người xung quanh khuyến khích lựa chọn quán dùng túi giấy |
0,329 |
0,826 |
|
|
CCQ2 |
Xu hướng sống xanh hiện nay thúc đẩy lựa chọn túi giấy |
0,678 |
0,430 |
|
|
CCQ3 |
Người nổi tiếng và KOLs ảnh hưởng đến quyết định dùng túi giấy |
0,586 |
0,509 |
|
|
CP |
Chi phí chuyển đổi |
|
|
0,848 |
|
CP1 |
Lo ngại quán thức ăn nhanh tăng giá để bù đắp chi phí |
0,758 |
0,748 |
|
|
CP2 |
E ngại phải chờ lâu hơn khi đóng gói bằng túi giấy |
0,675 |
0,831 |
|
|
CP3 |
Lo ngại túi giấy dễ bị rách hoặc thấm nước khi mang về |
0,720 |
0,786 |
|
|
TT |
Quyết định thay thế túi nilon sang túi giấy |
|
|
0,823 |
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Kết quả Bảng 2 cho thấy, Cronbach's Alpha của 5 thang đo đều > 0,60. Biến CT2 có tương quan biến - tổng 0,220 nhưng được giữ lại do thang CT chỉ có ba biến quan sát và Alpha chung vẫn đạt 0,664.
Phân tích tương quan Pearson
Mối quan hệ tuyến tính giữa các biến được kiểm định bằng tương quan Pearson (Bảng 3).
Bảng 3: Kết quả ma trận tương quan Pearson giữa các biến nghiên cứu
|
Biến |
MT |
CT |
CCQ |
CP |
TT |
|---|---|---|---|---|---|
|
MT |
1000 |
0,529** |
0,525** |
0,264** |
0,596** |
|
CT |
0,529** |
1,000 |
0,742** |
0,352** |
0,710** |
|
CCQ |
0,525** |
0,742** |
1,000 |
0,246** |
0,801** |
|
CP |
0,264** |
0,352** |
0,246** |
1,000 |
0,354** |
|
TT |
0,596** |
0,710** |
0,801** |
0,354** |
1,000 |
Ghi chú: **. Mối tương quan có ý nghĩa thống kê ở mức 0,01 (2-tailed); N = 171.
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Theo kết quả Bảng 3, cả 4 biến độc lập đều tương quan có ý nghĩa với TT ở mức 0,01. CCQ có tương quan mạnh nhất với TT (r = 0,801), tiếp theo là CT (r = 0,710). Tương quan cao nhất giữa các biến độc lập là CT và CCQ (r = 0,742), < 0,80.
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến
Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để xác định mức độ và chiều tác động của 4 nhân tố (Bảng 4 và 5).
Bảng 4: Đánh giá mức độ phù hợp và kiểm định ANOVA của mô hình
|
Chỉ số |
Giá trị |
ANOVA |
Tổng bình phương |
df |
Bình phương TB |
F |
Sig. |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
Hệ số bội R |
0,843^a |
Hồi quy |
56,979 |
4 |
14,245 |
102,160 |
0,000^b |
|
R2 |
0,711 |
Phần dư |
23,146 |
166 |
0,139 |
|
|
|
R2 hiệu chỉnh |
0,704 |
Tổng |
80,125 |
170 |
|
|
|
a. Predictors: (Constant), CP, CCQ, MT, CT; b. Dependent Variable: TT
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Theo Bảng 4, R2 hiệu chỉnh= 0,704, nghĩa là 4 biến độc lập giải thích 70,4% biến thiên của TT. Kiểm định ANOVA cho F = 102,160, Sig. = 0,000 (< 0,01), cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê.
Bảng 5: Hệ số hồi quy của mô hình quyết định thay thế túi nilon
|
Biến |
Hệ số chưa chuẩn hóa B |
Sai số chuẩn |
Hệ số chuẩn hóa Beta |
Giá trị t |
Sig. |
|---|---|---|---|---|---|
|
(Hằng số) |
0,342 |
0,205 |
|
1,672 |
0,096 |
|
MT (Môi trường) |
0,194 |
0,051 |
0,192 |
3,780 |
0,000 |
|
CT (Chi trả) |
0,148 |
0,062 |
0,157 |
2,378 |
0,019 |
|
CCQ (Chủ quan) |
0,477 |
0,055 |
0,557 |
8,696 |
0,000 |
|
CP (Chi phí) |
0,093 |
0,038 |
0,111 |
2,484 |
0,014 |
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Từ kết quả Bảng 5, phương trình hồi quy chưa chuẩn hóa thực nghiệm được trình bày như sau:
TT = 0,342 + 0,194MT + 0,148CT + 0,477CCQ + 0,093CP
Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Bảng 6: Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
|
Giả thuyết |
Nội dung giả thuyết đề xuất |
Beta |
Sig. |
Kết luận |
|---|---|---|---|---|
|
H1 |
Mối quan tâm môi trường có tác động tích cực đến quyết định. |
0,192 |
0,000 |
Chấp nhận |
|
H2 |
Sự sẵn sàng chi trả có tác động tích cực đến quyết định. |
0,157 |
0,019 |
Chấp nhận |
|
H3 |
Chuẩn chủ quan có tác động tích cực đến quyết định. |
0,557 |
0,000 |
Chấp nhận |
|
H4 |
Chi phí chuyển đổi có tác động tiêu cực đến quyết định. |
0,111 |
0,014 |
Bác bỏ (*) |
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Kết quả Bảng 6 cho thấy, các giả thuyết H1, H2 và H3 được chấp nhận. CCQ tác động mạnh nhất (Beta = 0,557), tiếp theo là MT (Beta = 0,192) và CT (Beta = 0,157), khẳng định vai trò của Chuẩn chủ quan, Mối quan tâm môi trường và Sự sẵn sàng chi trả đối với Quyết định thay thế.
Riêng giả thuyết H4 bị bác bỏ vì Beta của CP mang dấu dương (0,111; Sig. = 0,014), trái với giả thuyết ban đầu. Kết quả cho thấy, dù nhận thức các bất tiện như tăng chi phí, thời gian đóng gói, nguy cơ thấm nước hoặc rách, người tiêu dùng vẫn có xu hướng lựa chọn túi giấy khi đánh giá cao lợi ích môi trường và hình ảnh tiêu dùng xanh.
Thảo luận kết quả theo góc độ CBA xã hội
Theo CBA xã hội, phương án có hiệu quả khi tổng Lợi ích xã hội lớn hơn tổng Chi phí xã hội. Với việc thay túi nilon bằng túi giấy, lợi ích gồm giảm rác nhựa khó phân hủy, giảm áp lực lên hệ thống thoát nước, hạn chế nguy cơ từ bao bì nhựa tái chế và tạo hiệu ứng tiêu dùng xanh; chi phí chủ yếu là chênh lệch giá và một số bất tiện khi sử dụng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, lợi ích cảm nhận vượt các rào cản chi phí, phù hợp với lập luận NSB > 0 và nguyên tắc Kaldor-Hicks.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nghiên cứu kết hợp CBA và TPB trên mẫu 171 người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy việc chuyển từ túi nilon sang túi giấy có tính khả thi về hành vi và xã hội. Chuẩn chủ quan, Mối quan tâm môi trường và Sự sẵn sàng chi trả có tác động tích cực; các rào cản chi phí không làm giảm quyết định thay thế trong mô hình thực nghiệm.
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị để chuyển đổi từ túi nilon sang túi giấy như sau:
Đối với doanh nghiệp F&B: (1) hợp tác với nhà cung ứng để cải thiện độ bền, khả năng chống ẩm của túi giấy; (2) tối ưu quy trình đóng gói; (3) khai thác ảnh hưởng của chuẩn chủ quan thông qua thiết kế và thông điệp sinh thái trên bao bì.
Đối với người tiêu dùng: Ưu tiên các cửa hàng sử dụng túi giấy và lan tỏa thói quen tiêu dùng xanh trong cộng đồng.
Đối với chính quyền đô thị: (1) xem xét Thuế Pigouvian đối với túi nilon dùng một lần; (2) hỗ trợ tài chính, thuế cho sản xuất bao bì giấy tự hủy; (3) xây dựng lộ trình giảm chất thải nhựa trong ngành dịch vụ ẩm thực tại TP. Hồ Chí Minh.
Tuy vậy, nghiên cứu cũng còn những hạn chế nhất định khi giới hạn ở mẫu 171 người tại TP. Hồ Chí Minh và tập trung nhiều vào Gen Z. Nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng địa bàn, độ tuổi và bổ sung các nhân tố như rào cản pháp luật, nhận thức an toàn sức khỏe.
Tài liệu tham khảo:
1. AEGplus (2025). Khách hàng nói gì về túi giấy AEGPlus. https://aegplus.vn/khach-hang-noi-gi-ve-tui-giay-aegplus/
2. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
3. Baumol, W. J. (1972). On taxation and the control of externalities. The American Economic Review, 62(3), 307-322. https://www.jstor.org/stable/1803378
4. Boardman, A. E., Greenberg, D. H., Vining, A. R., & Weimer, D. L. (2018). Cost-benefit analysis: Concepts and practice (5th ed.). Cambridge University Press.
5. Do, T. K. C., Herat, S., Lê, V. K., & Kaparaju, P. (2021). The current use and management of single-use items (SUIs) in the fast food industry in Ho Chi Minh City, Vietnam. Nature Environment and Pollution Technology, 20(3), 985-996.
6. Dương, T. N. L., & Nguyễn, T. Đ. T. (2023). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm có bao bì xanh của người tiêu dùng tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Công thương, (21), 264-270.
7. Hằng Hà (2019, November 22). Thuế Pigovian và chi phí xã hội. https://vietnambiz.vn/thue-pigovian-pigovian-tax-la-gi-thue-pigovian-va-chi-phi-xa-hoi-20191122102949828.htm
8. Hicks, J. R. (1939). The foundations of welfare economics. The Economic Journal, 49(196), 711-712. https://doi.org/10.2307/2224315
9. Ho, C., Warren, K., & Nadal, R. T. (2024). Economic comparison and pricing structures of disposable plastic vs. paper carryout bags in retail markets. Environmental Policy and Law, 54(2), 115-128. https://doi.org/10.3233/EPL-240112
10. iPOS.vn, & Nestlé Professional Việt Nam. (2026). Báo cáo thị trường Kinh doanh Ẩm thực tại Việt Nam năm 2025. https://ipos.vn/bao-cao-thi-truong-kinh-doanh-am-thuc-viet-nam-2025/
11. Kaldor, N. (1939). Welfare propositions of economics and interpersonal comparisons of utility. The Economic Journal, 49(195), 549-552. https://doi.org/10.2307/2224835
12. Oloyede, O. O., & Lignou, S. (2021). Sustainable paper-based packaging: A consumer's perspective. Foods, 10(5), Article 1035. https://doi.org/10.3390/foods10051035
13. Pigou, A. C. (1932). The economics of welfare (4th ed.). Macmillan and Co.
14. Tâm Ngọc (2025). Túi giấy Starbucks: Từ kỳ vọng xanh đến thực tế đầy thách thức. https://kinhtedouong.vn/tui-giay-starbucks/
15. Ubando, A. T., Felix, C. B., & Culaba, A. B. (2015). A comparative life cycle analysis of plastic and paper packaging bags in the Philippines. In 2015 8th International Conference on Humanoid, Nanotechnology, Information Technology, Communication and Control, Environment and Management (HNICEM) (pp. 1-6). IEEE. https://doi.org/10.1109/HNICEM.2015.7393237
16. Yousuf, A. K., & Dunlop, S. (2024). Environmental footprint and life cycle analysis of single-use packaging alternatives. Journal of Cleaner Production, 434, Article 140120. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2023.140120
| Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/10/2026; Ngày duyệt đăng: 27/10/2026 |
Các tin khác
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam
Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích
Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán
Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số
Phát triển năng lượng tái tạo tại Mexico và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Vai trò của chuyển đổi số trong việc nâng cao kết quả công việc: Hiệu ứng trung gian của văn hóa tổ chức số trong các cơ sở giáo dục đại học tại Vĩnh Long
Phân tích các nhân tố chi phối hành vi sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh
Hoàn thiện công cụ quản lý thuế ở Việt Nam theo chuẩn mực ESG
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030