Năng lực chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp
Đặng Xuân Trường
NCS., Đại học Phenikaa; Email: [email protected]
Trần Trọng Hào
NCS., Đại học Phenikaa; Email: [email protected]
Nguyễn Thị Nhung
ThS., Trường Đại học Victoria Hoà Bình; NCS., Đại học Phenikaa
Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong bối cảnh chuyển đổi số và môi trường kinh doanh ngày càng biến động, nghiên cứu này đề xuất khung lý thuyết giải thích tác động của năng lực chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. Dựa trên Lý thuyết năng lực động và Lý thuyết dựa trên nguồn lực, mô hình cho rằng năng lực chuyển đổi số (định hướng số, hạ tầng công nghệ số và nhân sự số) thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đổi mới mô hình kinh doanh được xem là cơ chế trung gian chuyển hóa nguồn lực số thành giá trị, trong khi biến động môi trường điều tiết mối quan hệ giữa đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh. Khung nghiên cứu cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam.
Từ khóa: Năng lực chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh, hiệu quả kinh doanh, biến động môi trường, doanh nghiệp khởi nghiệp, Việt Nam
Abstract
In the context of digital transformation and an increasingly volatile business environment, this study proposes a theoretical framework explaining the impact of digital transformation capabilities on the business performance of start-ups in Viet Nam. Drawing on Dynamic Capabilities Theory and the Resource-Based View, the model posits that digital transformation capabilities, comprising digital orientation, digital technology infrastructure, and digital human resources, promote business model innovation, thereby enhancing business performance. Business model innovation is considered an intermediary mechanism that transforms digital resources into value, while environmental volatility moderates the relationship between business model innovation and business performance. The research framework provides a basis for empirical studies and managerial implications for start-ups in Viet Nam.
Keywords: Digital transformation capabilities, business model innovation, business performance, environmental volatility, start-ups, Viet Nam
GIỚI THIỆU
Chuyển đổi số đang làm thay đổi cách thức các doanh nghiệp tạo lập, cung ứng và thu nhận giá trị. Đây không chỉ là quá trình số hóa các hoạt động mà còn là sự thay đổi về chiến lược, tổ chức, vận hành và tương tác với khách hàng, đối tác (Vial, 2019; Verhoef và cộng sự, 2021). Đồng thời, sự phát triển của công nghệ số khiến cho chiến lược kinh doanh và chiến lược công nghệ ngày càng gắn kết chặt chẽ, tạo ra các phương thức mới để phát triển sản phẩm, dịch vụ và thị trường (Bharadwaj và cộng sự, 2013).
Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp (startup), năng lực chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt do hạn chế về nguồn lực nhưng phải thích ứng nhanh với thị trường. Tuy nhiên, việc đầu tư vào công nghệ không tự động tạo ra hiệu quả kinh doanh. Giá trị của chuyển đổi số chỉ được hiện thực hóa khi doanh nghiệp chuyển hóa nguồn lực số thành những thay đổi trong cách thức tạo lập và cung cấp giá trị. Vì vậy, đổi mới mô hình kinh doanh được xem là cơ chế quan trọng giúp chuyển hóa năng lực số thành kết quả kinh doanh (Foss và Saebi, 2017; Bouwman và cộng sự, 2019).
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về chuyển đổi số và hiệu quả kinh doanh, song cơ chế tác động của năng lực chuyển đổi số thông qua đổi mới mô hình kinh doanh, cũng như vai trò của biến động môi trường trong bối cảnh doanh nghiệp khởi nghiệp, vẫn chưa được làm rõ. Trên cơ sở Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Barney, 1991) và Lý thuyết năng lực động (Teece, 2007), nghiên cứu đề xuất khung lý thuyết giải thích tác động của năng lực chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam, trong đó đổi mới mô hình kinh doanh đóng vai trò trung gian và biến động môi trường giữ vai trò điều tiết, phù hợp với lập luận của Schilke (2014) về giá trị của năng lực động trong các môi trường khác nhau.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Lý thuyết dựa trên nguồn lực và Lý thuyết năng lực động
Lý thuyết dựa trên nguồn lực cho rằng doanh nghiệp tạo lợi thế cạnh tranh khi sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực có giá trị, khan hiếm, khó sao chép và khó thay thế (Barney, 1991). Trong bối cảnh chuyển đổi số, các nguồn lực này bao gồm: công nghệ số, dữ liệu, tri thức và nhân lực số. Tuy nhiên, sở hữu nguồn lực chưa đủ để bảo đảm hiệu quả trong môi trường biến động. Lý thuyết năng lực động nhấn mạnh khả năng nhận diện cơ hội, nắm bắt cơ hội và tái cấu trúc nguồn lực nhằm thích ứng với thay đổi (Teece, 2007). Theo Warner và Wäger (2019), chuyển đổi số đòi hỏi doanh nghiệp liên tục đổi mới và phát triển năng lực thích ứng. Do đó, nghiên cứu kết hợp 2 lý thuyết để giải thích cách startup khai thác nguồn lực số nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Năng lực chuyển đổi số
Năng lực chuyển đổi số là khả năng doanh nghiệp huy động, tích hợp và khai thác công nghệ số để đổi mới hoạt động và tạo ra giá trị mới (Vial, 2019; Verhoef và cộng sự, 2021). Trong nghiên cứu này, năng lực chuyển đổi số được tiếp cận qua 3 thành phần: định hướng số, hạ tầng và công nghệ số và năng lực nhân sự số. Các thành phần này giúp startup nâng cao khả năng thích ứng, khai thác cơ hội thị trường và tạo nền tảng cho đổi mới mô hình kinh doanh.
Đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh
Mô hình kinh doanh phản ánh cách doanh nghiệp tạo lập, phân phối và thu nhận giá trị (Teece, 2010; Zott và Amit, 2010). Đổi mới mô hình kinh doanh là sự thay đổi có chủ đích trong logic hoặc các thành phần của mô hình kinh doanh nhằm tạo ra giá trị mới (Foss và Saebi, 2017). Trong bối cảnh chuyển đổi số, doanh nghiệp có thể đổi mới đề xuất giá trị, quy trình hoạt động, kênh phân phối và cơ chế doanh thu. Công nghệ số tạo điều kiện để startup thử nghiệm mô hình mới và nâng cao hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu của Bouwman và cộng sự (2019) cho thấy, đổi mới mô hình kinh doanh có tác động tích cực đến hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hiệu quả kinh doanh là khái niệm đa chiều, bao gồm cả kết quả tài chính và phi tài chính (Venkatraman và Ramanujam, 1986). Đối với startup, hiệu quả được phản ánh qua doanh thu, tăng trưởng khách hàng, mở rộng thị phần, khả năng đổi mới và triển vọng phát triển.
Biến động môi trường
Biến động môi trường phản ánh tốc độ thay đổi và mức độ khó dự đoán của công nghệ, sở thích khách hàng và cường độ cạnh tranh (Dess và Beard, 1984). Schilke (2014) đã chứng minh rằng giá trị của năng lực động chịu sự chi phối mạnh mẽ từ bối cảnh môi trường. Trong môi trường biến động cao, đổi mới mô hình kinh doanh trở thành công cụ sống còn giúp startup thích ứng nhanh chóng với các cú sốc thị trường.
GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Năng lực chuyển đổi số giúp startup thu thập và khai thác dữ liệu, tăng cường kết nối với khách hàng và đối tác, đồng thời nâng cao tốc độ ra quyết định. Theo Lý thuyết Năng lực động, doanh nghiệp tạo giá trị khi có khả năng nhận diện cơ hội, nắm bắt cơ hội và tái cấu trúc nguồn lực để thích ứng với thay đổi (Teece, 2007). Trong bối cảnh đó, năng lực chuyển đổi số tạo điều kiện để startup đổi mới đề xuất giá trị, quy trình hoạt động và cơ chế doanh thu. Các nghiên cứu cũng cho thấy giá trị của chuyển đổi số chỉ được hiện thực hóa khi công nghệ đi cùng với thay đổi về chiến lược, quy trình và tổ chức (Vial, 2019; Warner VÀ Wäger, 2019). Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H1: Năng lực chuyển đổi số tác động tích cực đến Đổi mới mô hình kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam.
Năng lực chuyển đổi số có thể cải thiện hiệu quả kinh doanh thông qua tối ưu hóa hoạt động, nâng cao khả năng phản ứng với thị trường và mở rộng cơ hội tiếp cận khách hàng. Theo Lý thuyết dựa trên nguồn lực, công nghệ số, dữ liệu và năng lực số của nhân sự có thể tạo lợi thế cạnh tranh khi được khai thác hiệu quả (Barney, 1991). Mặc dù hiệu quả còn phụ thuộc vào sự phù hợp giữa công nghệ, chiến lược và nhu cầu thị trường, doanh nghiệp có năng lực chuyển đổi số cao được kỳ vọng đạt kết quả kinh doanh tốt hơn. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H2: Năng lực chuyển đổi số tác động tích cực đến Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam.
Đổi mới mô hình kinh doanh là sự thay đổi trong cách doanh nghiệp tạo lập, phân phối và thu nhận giá trị, bao gồm điều chỉnh đề xuất giá trị, hoạt động và cơ chế doanh thu. Đối với startup, đổi mới mô hình kinh doanh giúp nâng cao khả năng thích ứng, tạo khác biệt cạnh tranh và phát triển các nguồn doanh thu mới. Nghiên cứu của Bouwman và cộng sự (2019) cũng chỉ ra rằng, đổi mới mô hình kinh doanh có tác động tích cực đến hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình số hóa. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H3: Đổi mới mô hình kinh doanh tác động tích cực đến Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam.
Năng lực chuyển đổi số cung cấp nguồn lực và khả năng hành động, trong khi đổi mới mô hình kinh doanh là cơ chế chuyển hóa các nguồn lực đó thành giá trị kinh tế. Chỉ khi doanh nghiệp sử dụng năng lực số để đổi mới cách thức tạo lập và cung cấp giá trị thì lợi ích của chuyển đổi số mới được phản ánh rõ trong kết quả kinh doanh. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết như sau:
H4: Đổi mới mô hình kinh doanh đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Năng lực chuyển đổi số và Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam.
Biến động môi trường phản ánh mức độ thay đổi của công nghệ, nhu cầu khách hàng và cạnh tranh. Trong môi trường biến động cao, doanh nghiệp cần liên tục điều chỉnh mô hình kinh doanh để duy trì khả năng tạo giá trị. Vì vậy, tác động của đổi mới mô hình kinh doanh đến hiệu quả kinh doanh được kỳ vọng sẽ mạnh hơn khi mức độ biến động môi trường cao. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H5: Biến động môi trường điều tiết tích cực mối quan hệ giữa Đổi mới mô hình kinh doanh và Hiệu quả kinh doanh; mối quan hệ này mạnh hơn khi biến động môi trường cao.
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất về tác động của năng lực chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Kết luận
Nghiên cứu đã đề xuất khung lý thuyết toàn diện nhằm giải thích tác động của năng lực chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. Dựa trên nền tảng Lý thuyết dựa trên nguồn lực và Lý thuyết Năng lực động, mô hình chỉ ra rằng các yếu tố gồm định hướng số, hạ tầng công nghệ số và nhân sự số là tiền đề quan trọng giúp startup nhận diện cơ hội, tích hợp nguồn lực và thích ứng linh hoạt với những biến động của thị trường.
Mô hình cũng làm rõ cơ chế tác động của năng lực chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh diễn ra theo cả hai con đường: tác động trực tiếp và tác động gián tiếp thông qua cơ chế trung gian là đổi mới mô hình kinh doanh. Đồng thời, biến động môi trường đóng vai trò điều tiết, làm gia tăng mạnh mẽ mối quan hệ giữa đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh trong những điều kiện thị trường có độ bất định cao.
Về mặt lý luận, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ cơ chế liên kết chiến lược giữa năng lực chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp. Về mặt thực tiễn, bài viết nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết đối với các startup trong việc kết hợp hài hòa giữa đầu tư công nghệ, phát triển năng lực tổ chức và đổi mới mô hình kinh doanh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Do đây là nghiên cứu khung lý thuyết, các mối quan hệ đề xuất chưa được kiểm định thực nghiệm. Các nghiên cứu tiếp theo có thể kiểm định mô hình trên các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam và mở rộng phân tích theo ngành, giai đoạn phát triển hoặc mức độ trưởng thành số.
Tài liệu tham khảo:
1. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.
2. Bharadwaj, A., El Sawy, O. A., Pavlou, P. A., & Venkatraman, N. (2013). Digital business strategy: Toward a next generation of insights. MIS Quarterly, 37(2), 471-482.
3. Bouwman, H., Nikou, S., & de Reuver, M. (2019). Digitalization, business models, and SMEs: How do business model innovation practices improve performance of digitalizing SMEs? Telecommunications Policy, 43(9), Article 101828.
4. Dess, G. G., & Beard, D. W. (1984). Dimensions of organizational task environments. Administrative Science Quarterly, 29(1), 52-73.
5. Foss, N. J., & Saebi, T. (2017). Fifteen years of research on business model innovation: How far have we come, and where should we go? Journal of Management, 43(1), 200-227.
6. Schilke, O. (2014). On the contingent value of dynamic capabilities for competitive advantage: The nonlinear moderating effect of environmental dynamism. Strategic Management Journal, 35(2), 179-203.
7. Teece, D. J. (2007). Explicating dynamic capabilities: The nature and microfoundations of (sustainable) enterprise performance. Strategic Management Journal, 28(13), 1319-1350.
8. Teece, D. J. (2010). Business models, business strategy and innovation. Long Range Planning, 43(2-3), 172-194.
9. Venkatraman, N., & Ramanujam, V. (1986). Measurement of business performance in strategy research: A comparison of approaches. Academy of Management Review, 11(4), 801-814.
10. Verhoef, P. C., Broekhuizen, T., Bart, Y., Bhattacharya, A., Dong, J. Q., Fabian, N., & Haenlein, M. (2021). Digital transformation: A multidisciplinary reflection and research agenda. Journal of Business Research, 122, 889-901.
11. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda. The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118-144.
12. Warner, K. S. R., & Wäger, M. (2019). Building dynamic capabilities for digital transformation: An ongoing process of strategic renewal. Long Range Planning, 52(3), 326-349.
13. Zott, C., & Amit, R. (2010). Business model design: An activity system perspective. Long Range Planning, 43(2-3), 216-226.
| Ngày nhận bài: 23/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/9/2026; Ngày duyệt đăng: 18/9/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA
Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách
