Nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi 09:10 | 03/08/2026
Tại Việt Nam, việc thành thạo tiếng Anh là chìa khóa mở ra cơ hội cho người lao động được tiếp cận những công việc ổn định, có thêm nhiều kinh nghiệm chuyên môn và tri thức quốc tế. Nâng cao trình độ tiếng Anh cho nguồn nhân lực không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập mà còn là yếu tố góp phần nâng cao sức cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế.

ThS. Dương Hồng Nhung

Học viện Báo chí và Tuyên Truyền

Tóm tắt

Việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc giảng dạy và học tập tiếng Anh hiện vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải có những biện pháp kịp thời để cải thiện, qua đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Từ khóa: Giảng dạy tiếng Anh, nâng cao chất lượng, Việt Nam

Abstract

Improving the quality of English language teaching in Viet Nam has become an urgent priority amid deepening international integration. However, in practice, both the teaching and learning of English still face several limitations, underscoring the need for timely, effective measures to improve quality. Such improvements are essential to developing a more competitive, high-quality human resource base.

Keywords: English language teaching, quality improvement, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, đóng vai trò quan trọng, trở thành một công cụ không thể thiếu đối với người lao động ở các quốc gia. Tại Việt Nam, việc thành thạo tiếng Anh là chìa khóa mở ra cơ hội cho người lao động được tiếp cận những công việc ổn định, có thêm nhiều kinh nghiệm chuyên môn và tri thức quốc tế. Nâng cao trình độ tiếng Anh cho nguồn nhân lực không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập mà còn là yếu tố góp phần nâng cao sức cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế.

Trong giáo dục, môn tiếng Anh đã được triển khai rộng rãi trên cả nước. Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Anh tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu và người học còn thiếu sự tự tin khi sử dụng tiếng Anh trong học tập và đời sống. Để giải quyết những hạn chế này, cần nghiên cứu thực trạng, đánh giá mức độ, từ đó đề ra các chủ trương, giải pháp hợp lý, kịp thời nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay.

THỰC TRẠNG VIỆC GIẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bước tiến về chất lượng

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, trình độ tiếng Anh ở người học tại Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể. Education First Việt Nam đã công bố chỉ số thông thạo Anh Ngữ EF (EF EPI) 2025, cho thấy Việt Nam xếp thứ 64 trên toàn cầu và đứng thứ 7 ở khu vực châu Á. Chia sẻ trong bài viết “Chỉ số thông thạo tiếng Anh của Việt Nam đứng thứ 63 trong số 116 quốc gia được khảo sát” (Cao, T, 2026), ông Mark Do, Giám đốc EF Education First Việt Nam cho biết: “Việc đầu tư phát triển các kỹ năng ngoại ngữ cho thế hệ luôn nhận được sự quan tâm mạnh mẽ từ các cơ quan, ban, ngành và từ chính các bậc phụ huynh cùng các bạn trẻ Việt Nam khi họ ngày càng phát triển các kỹ năng mềm, trong đó tiếng Anh”. Từ những số liệu khảo sát, có thể thấy được rằng trình độ tiếng Anh của người Việt Nam hiện nay đang từng bước được cải thiện rõ rệt. Sự tiến bộ này không chỉ phản ánh nỗ lực từ người học mà còn phản ánh sự quan tâm và đầu tư từ sớm ngôn ngữ mới của các gia đình Việt Nam.

Một số tồn tại, hạn chế

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:

Về đánh giá năng lực

Hệ thống đánh giá năng lực tiếng Anh cho học sinh, sinh viên chủ yếu tập trung vào ngữ pháp, từ vựng và cách làm bài dưới các hình thức để đạt điểm cao. Các bài kiểm tra về kỹ năng nghe - nói còn chưa được chú trọng. Điều này tạo ra áp lực cho cả giáo viên và học sinh khi dạy và học theo định hướng luyện thi, thay vì học cách sử dụng ngôn ngữ linh hoạt. Hệ quả là quá trình dạy và học trở nên thiên lệch, nặng về lý thuyết và thiếu sự rèn luyện phản xạ giao tiếp. Theo nhận định của Ngọc Đông và Bình Minh (2017), nếu không được đào tạo bài bản và không có ý thức về việc phát âm đúng tiếng Anh thì người Việt thường nói tiếng Anh hời hợt, nửa vời. Về lâu dài, điều này làm ảnh hưởng tới hiệu quả học và người học thiếu tự tin, không phát triển được phản xạ giao tiếp.

Về chương trình học

Chương trình học và các tài liệu còn thiên về lý thuyết. Dù chương trình dạy học đã có sự đổi mới song một số nội dung còn mang tính hàn lâm và chưa gắn với các tình huống giao tiếp thực tế trong đời sống hàng ngày. Bên cạnh đó, tài liệu học thuật chưa thực sự bám sát nhu cầu giao tiếp hiện đại, chưa tạo được môi trường để người học rèn luyện đầy đủ các kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nói và nghe. Điều này khiến người học dễ rơi vào trạng thái học để biết hơn là học để áp dụng vào thực tế. Ngoài ra, việc thiết kế cấu trúc bài kiểm tra còn tập trung nhiều vào ngữ pháp và từ vựng, chưa đáng giá toàn diện kỹ năng nghe và nói. Việc thiết kế chương trình kiểm tra chỉ chú trọng đọc và viết, còn kỹ năng nghe và nói chưa được coi trọng đúng mức là một điểm trừ của chương trình thi cử (Nguyễn Minh Thanh, 2025).

Thiếu hụt giáo viên có chuyên môn

Ở một số địa phương, tình trạng thiếu giáo viên dạy tiếng Anh còn khá phổ biến. Không chỉ thiếu về số lượng mà giáo viên có chuyên môn cũng thiếu tại nhiều trường học, đặc biệt là cấp tiểu học. Giáo viên dạy học tại cấp tiểu học có bằng tốt nghiệp sư phạm tiếng Anh với tài liệu dạy học và phương pháp dạy học cấp trung học. Theo nhận định của Đức Thuận (2026), nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn về năng lực hoặc chưa được đào tạo đầy đủ về phương pháp giảng dạy hiện đại khiến cơ hội tiếp cận ngoại ngữ của học sinh suy giảm, chất lượng học cũng không được đảm bảo liên tục và hiệu quả.

Ngòa ra, theo Võ Hải (2024), thiếu tài nguyên và công cụ dạy học phù hợp, như sách ảnh, trò chơi giáo dục, và các hoạt động tương tác cũng là một yếu tố làm giảm hiệu quả của bài học. Sự thiếu hụt về số lượng và chất lượng chuyên môn của giáo viên có thể làm giảm cơ hội tiếp cận đến việc học ngoại ngữ của học sinh và khiến hiệu quả học tập không đạt yêu cầu.

Sự chênh lệch về điều kiện phát triển

Ở những địa bàn còn khó khăn, học sinh chưa có nhiều điều kiện tiếp cận với các giáo trình học tiếng Anh, thiết bị học tập và môi trường nói tiếng Anh. Tại một số trường học ở vùng sâu vùng xa, nguồn lực đầu tư còn hạn chế dẫn đến thiếu thốn cơ sở vật chất như phòng học, thiết bị nghe…; nhiều trường phải sử dụng phòng học chung vì thiếu phòng chuyên biệt; việc truyền dạy tiếng Anh được thực hiện với phấn trắng, bảng đen, khiến việc dạy và học trở nên khô khan, các bài học chú trọng nhiều về kiến thức ngữ pháp. Do thiếu các điều kiện vật chất khiến việc học ngoại ngữ trở nên khó khăn, gặp nhiều trở ngại, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giảng dạy và khả năng phát triển năng lực tiếng Anh của người học. Bên cạnh đó, thiếu môi trường sử dụng tiếng Anh khiến người học ít cơ hội được tiếp xúc và thực hành.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Anh, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, cần thay đổi phương pháp giảng dạy, chuyển từ cách dạy thụ động, truyền tải kiến thức ngữ pháp sang phát triển đầy đủ các kỹ năng và có tính vận dụng trong thực tế theo yêu cầu của Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045” (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Theo đó, tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh; tổ chức dạy học cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, trong đó chú trọng kỹ năng nghe và nói. Tập trung bài giảng về sự kết hợp phát triển cả 4 kỹ năng nhằm cung cấp đầy đủ các tri thức và kỹ năng cho học sinh. Đồng thời cần lựa chọn và sử dụng tài liệu học tập hợp lý, có tính thực tế cao để nâng cao hiệu quả học tập tiếng Anh và gia tăng khả năng vận dụng ngôn ngữ vào đời sống.

Hai là, thường xuyên bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, kỹ năng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên giảng dạy tiếng Anh giúp giáo viên tiếp nhận thêm những kiến thức mới, xây dựng lộ trình giảng dạy phù hợp với trình độ của học sinh để nâng cao hiệu quả giảng dạy. Theo Hà Giang (2025), việc tập huấn và khảo sát năng lực tiếng Anh trong đội ngũ giáo viên là cần thiết từ đó có cơ sở dữ liệu để xây dựng chiến lược phát triển giáo dục trong tương lai.

Ba là, ứng dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và chuyển đổi số vào dạy và học. Hiện nay các ứng dụng, phần mềm học ngoại ngữ, các nền tảng luyện phát âm đang ngày một phát triển và mở ra nhiều cơ hội luyện tập và tương tác cho người học. Việc giảng dạy và học tập cũng trở nên dễ dàng hơn với các phần mềm dạy học trực tuyến cho phép người sử dụng có thời gian thoải mái để tương tác và học tập. Theo Trương Tố Loan (2025), cần sử dụng dữ liệu lớn trong dạy học tiếng Anh; lưu trữ và phân tích dữ liệu học tập để phát hiện điểm mạnh, điểm yếu, đánh giá đúng năng lực tiếng Anh của sinh viên; cung cấp thông tin cho giảng viên nhằm điều chỉnh phương pháp giảng dạy tiếng Anh phù hợp với năng lực cá nhân của sinh viên. Đây cũng là nhiệm vụ được đặt ra tại Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045” (Thủ tướng Chính phủ, 2025), đó là: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến, trí tuệ nhân tạo (AI), tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo chất lượng cho phát triển hoạt động giáo dục, dạy học tiếng Anh, dạy học bằng tiếng Anh, ưu tiên cho khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn”. Việc khai thác thành tựu của khoa học - công nghệ góp phần nâng cao chất lượng học tập và mở rộng môi trường sử dụng tiếng Anh.

Bốn là, tăng cường các hoạt động ngoại khóa, tổ chức các cuộc thi hùng biện hoặc giao lưu ngoại ngữ nhằm phát triển các kỹ năng của người học. Xây dựng chương trình học tập theo hướng phát triển 4 kỹ năng, giảm áp lực về thi cử. Bên cạnh đó, chương trình và lộ trình học tập cũng cần có sự điều chỉnh theo hướng phát triển toàn diện 4 kỹ năng nhằm tăng phản xạ ngôn ngữ, khả năng vận dụng, chắc về cấu trúc và từ vựng để phục vụ giao tiếp.

KẾT LUẬN

Nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc giảng dạy còn nhiều hạn chế đòi hỏi phải có giải pháp phù hợp và kịp thời. Do đó, cần có sự đổi mới đồng bộ từ chương trình giảng dạy, phương pháp dạy và học đến các hình thức đánh giá, kiểm tra đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng và mở rộng môi trường thực hành tiếng Anh. Chỉ khi những giải pháp này được thực hiện nhanh chóng và đồng bộ thì việc dạy và học tiếng Anh mới đạt được những hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Cao, T (2026). Chỉ số thông thạo tiếng Anh của Việt Nam đứng thứ 63 trong số 116 quốc gia được khảo sát. https://nhandan.vn/chi-so-thong-thao-tieng-anh-cua-viet-nam-dung-thu-63-trong-so-116-quoc-gia-duoc-khao-sat-post844608.html

2. Đức, T (2026). Thiếu 22.000 giáo viên tiếng Anh - “nút thắt” khi triển khai tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. https://thoibaonganhang.vn/thieu-22000-giao-vien-tieng-anh-nut-that-khi-trien-khai-tieng-anh-nhu-ngon-ngu-thu-hai-176535.html

3. Hà, G (2025). Nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh: Đổi mới từ chất lượng giáo viên. Tạp chí Giáo dục. https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/89693/211/nang-cao-chat-luong-day-hoc-tieng-anh-doi-moi-tu-chat-luong-giao-vien/

4. Ngọc, Đ., Bình, M. (2017). Người nước ngoài thấy nhiều người Việt học tiếng Anh chỉ để…thi!. https://tuoitre.vn/nguoi-nuoc-ngoai-thay-nhieu-nguoi-viet-hoc-tieng-anh-chi-de-thi-20170903111536414.htm

5. Nguyễn, M. T (2025). Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh. Tạp chí Giáo dục. https://giaoduc.edu.vn/thuc-trang-va-giai-phap-nang-cao-chat-luong-giang-day-tieng-anh/

6. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 phê duyệt Đề án Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025- 2035, tầm nhìn đến năm 2045. https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/10/2371-ttg.signed.pdf

7. Trương, T. L (2025). Ứng dụng công nghệ 4.0 trong dạy học tiếng Anh ở các trường đại học hiện nay. Tạp chí điện tử Giáo chức Việt Nam. https://tapchigiaochuc.com.vn/ung-dung-cong-nghe-40-trong-day-hoc-tieng-anh-o-cac-truong-dai-hoc-hien-nay.html

8. Võ, H (2024). Nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh ở cấp tiểu học. https://nhandan.vn/nang-cao-chat-luong-day-hoc-tieng-anh-o-cap-tieu-hoc-post823942.html

Ngày nhận bài: 9/3/3026; Ngày hoàn thiện biên tập: 24/4/3026; Ngày duyệt đăng: 29/4/3026

Các tin khác

Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh tại Việt Nam

Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh tại Việt Nam

Chuyển đổi quản lý thuế đòi hỏi hộ kinh doanh nâng cao tuân thủ và thích ứng với quản lý số. Mô hình nghiên cứu đề xuất các yếu tố đến tuân thủ thuế, qua đó bổ sung bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh quản lý thuế tại Việt Nam.
Các yếu tố thúc đẩy lãnh đạo chuyển đổi của đội ngũ quản lý các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố thúc đẩy lãnh đạo chuyển đổi của đội ngũ quản lý các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh

Ngành Ngân hàng đang chịu tác động mạnh của chuyển đổi số, sự cạnh tranh từ các công ty công nghệ tài chính (fintech), sự thay đổi trong nhu cầu khách hàng và yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả quản trị. Trong bối cảnh đó, lãnh đạo chuyển đổi có vai trò quan trọng trong việc định hướng thay đổi, thúc đẩy đổi mới và nâng cao khả năng thích ứng của tổ chức.
Kinh tế trải nghiệm và phát triển nông nghiệp đa giá trị tại Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và định hướng chiến lược

Kinh tế trải nghiệm và phát triển nông nghiệp đa giá trị tại Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và định hướng chiến lược

Thực tiễn Việt Nam cho thấy các yếu tố của kinh tế trải nghiệm đang ngày càng được tích hợp vào phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đặc biệt thông qua chương trình OCOP (mỗi xã 1 sản phẩm), du lịch nông thôn, sản phẩm đặc sản và các hoạt động quảng bá, kết nối thị trường. Đây cũng là hướng phù hợp với Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
Các nhân tố ảnh hưởng đến cảm nhận chất lượng chuyến bay của hành khách tuyến TP. Hồ Chí Minh - Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến cảm nhận chất lượng chuyến bay của hành khách tuyến TP. Hồ Chí Minh - Hà Nội

Cảm nhận chất lượng chuyến bay không chỉ phản ánh các yếu tố hữu hình như tiện nghi trên chuyến bay và hiệu suất dịch vụ, mà còn bao gồm các yếu tố vô hình như thái độ phục vụ của nhân viên và trải nghiệm cảm xúc của hành khách trong suốt hành trình.
Tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp đô thị tại TP. Hồ Chí Minh

Tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp đô thị tại TP. Hồ Chí Minh

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, TP. Hồ Chí Minh trở thành một siêu đô thị với nhiều tiềm năng phát triển mới, trong đó có sự phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch từ hoạt động nông nghiệp đô thị.
Sự tham gia và mâu thuẫn của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái: Tổng quan trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị tại Việt Nam

Sự tham gia và mâu thuẫn của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái: Tổng quan trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị tại Việt Nam

Du lịch sinh thái được kỳ vọng vừa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, vừa cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, mâu thuẫn dễ phát sinh khi lợi ích, chi phí, quyền sử dụng tài nguyên và quyền tham gia quyết định không được phân chia hợp lý.
Thực hành logistics xanh, năng lực quản lý carbon và định hướng ESG: Mô hình nghiên cứu về hiệu quả ESG tại doanh nghiệp logistics Việt Nam

Thực hành logistics xanh, năng lực quản lý carbon và định hướng ESG: Mô hình nghiên cứu về hiệu quả ESG tại doanh nghiệp logistics Việt Nam

Trong ngành logistics, hoạt động vận tải, kho bãi và phân phối là những nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể, do đó việc nâng cao hiệu quả ESG được xem là giải pháp quan trọng nhằm giảm thiểu tác động môi trường và hướng tới phát triển bền vững.
Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu hành vi theo thời gian thực, các nền tảng số đang ngày càng có khả năng cung cấp những trải nghiệm được cá nhân hóa cụ thể như việc gợi ý sản phẩm phù hợp, đưa nội dung thích ứng và khả năng tương tác với khách hàng cũng được điều chỉnh theo từng cá nhân.
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Kể từ khi Thỏa thuận Xanh châu Âu được thông qua, EU đã đẩy mạnh việc chuyển đổi các chuẩn mực tự nguyện về ESG sang nghĩa vụ pháp lý có gắn chế tài và có tác động xuyên biên giới.
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Chuyển đổi số đã trở thành định hướng chiến lược của ngành ngân hàng Việt Nam, được thể chế hóa qua Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đến năm 2025, nhiều tổ chức tín dụng đã đạt trên 90% giao dịch của khách hàng thực hiện trên kênh số, hơn 87% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng.