Mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á

Tài chính - Ngân hàng 17:06 | 29/09/2026 Phạm Thanh An
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tăng trưởng kinh tế (TTKT) luôn được xem là mục tiêu quan trọng của các quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển ở châu Á. Để đạt được mục tiêu này, việc phát triển hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

ThS. Phạm Thanh An

Nghiên cứu sinh Trường Đại học Tài chính - Marketing; Email: [email protected]

PGS, TS. Phạm Tiến Đạt

TS. Bùi Ngọc Toản

Trường Đại học Tài chính - Marketing

Tóm tắt

Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế tại 16 quốc gia đang phát triển ở châu Á, trong giai đoạn 2002-2023. Sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ trên dữ liệu dạng bảng (PVAR), kết quả ước lượng cho thấy, tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến phát triển ngân hàng, trong khi chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về tác động theo chiều ngược lại. Đáng chú ý, kiểm định nhân quả Granger cho thấy chỉ tồn tại quan hệ nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến phát triển ngân hàng trong đặc tả mô hình hiện tại, trong khi phân tích phản ứng xung cho thấy phản ứng của phát triển ngân hàng trước cú sốc tăng trưởng kinh tế có tính động và thay đổi theo thời gian, thay vì duy trì một mức độ tác động tích cực ổn định trong toàn bộ giai đoạn phân tích. Bên cạnh đó, tiêu thụ năng lượng tái tạo và đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến cả phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế, trong khi phát triển con người có tác động tích cực đến phát triển ngân hàng và lạm phát có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở này, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á.

Từ khóa: Châu Á, phát triển ngân hàng, tăng trưởng kinh tế

Abstract

This study examines the relationship between banking development and economic growth in 16 developing Asian countries during 2002-2023. Using a panel vector autoregression (PVAR) model, the estimation results show that economic growth has a positive and statistically significant effect on banking development, while no statistically significant evidence is found for the reverse effect. Notably, the Granger causality test indicates a unidirectional causal relationship from economic growth to banking development under the current model specification, while the impulse response analysis shows that banking development's response to an economic growth shock is dynamic and varies over time, rather than maintaining a stable positive effect throughout the analysis period. In addition, renewable energy consumption and foreign direct investment have positive effects on both banking development and economic growth, while human development has a positive effect on banking development, and inflation negatively affects economic growth. Based on these findings, the study proposes several policy implications to promote the sustainable development of banking systems and economies in developing Asian countries.

Keywords: Asia, banking development, economic growth

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tăng trưởng kinh tế (TTKT) luôn được xem là mục tiêu quan trọng của các quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển ở châu Á. Để đạt được mục tiêu này, việc phát triển hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Trên thực tế, hệ thống ngân hàng là trung gian tài chính chủ yếu tại nhiều quốc gia đang phát triển, được thể hiện thông qua việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và phân bổ nguồn vốn này cho các hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh (Levine, 1997). Do đó, phát triển ngân hàng có thể góp phần thúc đẩy tích lũy vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.

Mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT là một trong những chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm trong các tài liệu hiện có. Theo đó, phát triển ngân hàng có thể thúc đẩy TTKT thông qua việc huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế (Nguyen, 2022; Phan và cộng sự, 2025; Xu, 2025). Ngược lại, quá trình TTKT cũng có thể tạo động lực cho sự mở rộng của hệ thống ngân hàng thông qua việc gia tăng nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính (Robinson, 1952). Điều này cho thấy mối quan hệ giữa PTNH và TTKT có thể diễn ra theo cả 2 chiều tác động.

Về mặt lý thuyết, Schumpeter (1911) cho rằng hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ đổi mới sáng tạo và thúc đẩy TTKT thông qua hoạt động cung ứng tín dụng cho các doanh nghiệp. Trong khi đó, Robinson (1952) cho rằng sự phát triển của khu vực tài chính chủ yếu phản ánh nhu cầu phát triển của nền kinh tế, tức là TTKT sẽ tạo điều kiện cho sự mở rộng của hệ thống tài chính và ngân hàng. Bên cạnh đó, King và Levine (1993), Levine (1997), Levine và Zervos (1998), Levine và cộng sự (2000) đều nhấn mạnh vai trò của phát triển tài chính đối với TTKT thông qua việc nâng cao hiệu quả huy động vốn, giảm chi phí giao dịch và cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã ghi nhận mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT tại các quốc gia khác nhau. Cụ thể, Mhadhbi và cộng sự (2020) cho rằng sự phát triển của khu vực ngân hàng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Tương tự, nghiên cứu của Mlambo (2024) cho thấy phát triển tài chính đóng vai trò quan trọng đối với TTKT tại các quốc gia có thu nhập thấp thuộc khu vực Cộng đồng Phát triển Nam Phi (SADC). Tại Việt Nam, Nguyen (2022), Phan và cộng sự (2025) cũng ghi nhận vai trò tích cực của phát triển ngân hàng đối với TTKT. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về chiều hướng tác động giữa phát triển ngân hàng và TTKT. Phần lớn các nghiên cứu cho rằng phát triển ngân hàng là động lực thúc đẩy TTKT (Mhadhbi và cộng sự, 2020; Mlambo, 2024; Nguyen, 2022; Phan và cộng sự, 2025), trong khi một số nghiên cứu khác lại cho rằng TTKT mới là yếu tố tạo điều kiện cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng (Robinson, 1952; Ang, 2008). Ngoài ra, mức độ và chiều hướng tác động của mối quan hệ này còn phụ thuộc vào đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế của từng quốc gia (Iheanacho, 2016).

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT, tuy nhiên các nghiên cứu tập trung vào nhóm các quốc gia đang phát triển ở châu Á vẫn còn tương đối hạn chế. Đây là nhóm quốc gia mà hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, trong khi các quốc gia này đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến duy trì TTKT, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và bảo đảm ổn định tài chính.

Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á. Nghiên cứu kỳ vọng góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT; đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách nhằm phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng trong việc thúc đẩy TTKT bền vững tại các quốc gia này.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT là một trong những chủ đề được nghiên cứu rộng rãi trong các tài liệu. Các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ này có thể diễn ra theo cả 2 chiều. Một mặt, sự phát triển của hệ thống ngân hàng có thể thúc đẩy TTKT thông qua việc thực hiện chức năng trung gian tài chính, huy động tiết kiệm và phân bổ nguồn vốn cho các hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh. Mặt khác, quá trình TTKT cũng có thể thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng thông qua việc gia tăng nhu cầu về vốn, tín dụng và các dịch vụ tài chính. Vì vậy, mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT thường được xem xét dưới góc độ tác động 2 chiều.

Về mặt lý thuyết, mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT có thể được giải thích chủ yếu dựa trên Lý thuyết trung gian tài chính và Lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Theo Schumpeter (1911), hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tín dụng cho các hoạt động đầu tư, sản xuất và đổi mới sáng tạo, qua đó góp phần thúc đẩy tích lũy vốn và TTKT. Quan điểm này tiếp tục được phát triển trong các nghiên cứu của McKinnon (1973) và Shaw (1973). Theo các tác giả này, sự phát triển của hệ thống tài chính và ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả huy động tiết kiệm, mở rộng khả năng cung ứng tín dụng và cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực, từ đó thúc đẩy đầu tư và TTKT. Levine (1997) cho rằng, hệ thống ngân hàng có thể thúc đẩy TTKT thông qua 5 chức năng cơ bản, bao gồm huy động tiết kiệm, phân bổ vốn cho các hoạt động đầu tư hiệu quả, giám sát và quản lý đầu tư, đa dạng hóa và phân tán rủi ro; đồng thời giảm chi phí giao dịch trong nền kinh tế. Khi các chức năng này được thực hiện hiệu quả, nguồn lực tài chính có thể được huy động và chuyển đến các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh hiệu quả hơn, qua đó góp phần gia tăng tích lũy vốn, nâng cao năng suất và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Ngoài ra, từ góc độ Lý thuyết tăng trưởng nội sinh, sự phát triển của hệ thống ngân hàng còn có thể hỗ trợ đầu tư vào công nghệ, nghiên cứu và phát triển, nâng cao năng suất lao động và khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Vai trò của phát triển ngân hàng đối với TTKT đặc biệt quan trọng tại các quốc gia đang phát triển, nơi thị trường vốn còn chưa phát triển đầy đủ và doanh nghiệp vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Trong bối cảnh này, sự phát triển của hệ thống ngân hàng có thể góp phần mở rộng khả năng tiếp cận vốn, thúc đẩy đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nền kinh tế. Bên cạnh việc cung ứng vốn, hệ thống ngân hàng còn có thể nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực thông qua hoạt động thẩm định, giám sát tín dụng và quản trị rủi ro, qua đó góp phần giảm thông tin bất đối xứng, giảm chi phí giao dịch và hạn chế tình trạng phân bổ vốn kém hiệu quả.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp bằng chứng về tác động của phát triển ngân hàng đối với TTKT. King và Levine (1993) cho thấy các chỉ tiêu phát triển tài chính có khả năng dự báo TTKT trong dài hạn. Levine và Zervos (1998) cho rằng, các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển thường đạt tốc độ TTKT cao hơn. Levine và cộng sự (2000) chỉ ra rằng, phát triển ngân hàng có thể thúc đẩy tăng trưởng thông qua tích lũy vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Beck và Levine (2004) tiếp tục nhấn mạnh vai trò của hệ thống tài chính trong việc cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy TTKT. Các nghiên cứu của Murari (2017) và Xu (2025) cũng cho thấy, phát triển tài chính có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế thông qua việc giảm chi phí giao dịch và cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực. Đối với các quốc gia đang phát triển, Nguyen (2022) cho rằng, vai trò của hệ thống ngân hàng đối với TTKT càng trở nên quan trọng do thị trường vốn còn hạn chế và doanh nghiệp phụ thuộc đáng kể vào tín dụng ngân hàng. Phan và cộng sự (2025) cũng ghi nhận rằng, sự phát triển của hệ thống ngân hàng có thể góp phần thúc đẩy đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nền kinh tế.

Ở chiều ngược lại, TTKT cũng có thể thúc đẩy phát triển ngân hàng. Cơ chế này được giải thích thông qua giả thuyết “demand-following” (phát triển tài chính theo nhu cầu) của Robinson (1952), theo đó sự phát triển của khu vực tài chính chủ yếu phản ánh nhu cầu phát sinh từ quá trình tăng trưởng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập, tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng được mở rộng, từ đó làm gia tăng nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính như tín dụng, thanh toán, tiết kiệm, bảo lãnh và đầu tư. Nhu cầu tài chính gia tăng tạo động lực để hệ thống ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các sản phẩm tài chính. Ang (2008) cũng cho rằng, TTKT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh việc mở rộng quy mô hoạt động, TTKT còn có thể góp phần nâng cao hiệu quả và tính ổn định của hệ thống ngân hàng. Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp được cải thiện, khả năng trả nợ của khách hàng gia tăng, qua đó có thể giúp giảm tỷ lệ nợ xấu và nâng cao chất lượng tài sản của ngân hàng. Đồng thời, TTKT còn tạo điều kiện mở rộng nguồn vốn huy động trong dân cư, gia tăng nhu cầu tín dụng và nâng cao khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng.

Ngoài 2 chiều tác động riêng biệt, một số nghiên cứu cho thấy phát triển ngân hàng và TTKT có thể tồn tại mối quan hệ nhân quả 2 chiều (Levine và Zervos, 1998). Hassan và cộng sự (2011) cũng cho rằng, phát triển ngân hàng và TTKT có mối quan hệ nhân quả, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, nơi hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp vốn cho nền kinh tế. Mhadhbi và cộng sự (2020) tìm thấy mối quan hệ nhân quả giữa phát triển ngân hàng và TTKT tại 25 quốc gia, trong khi Mlambo (2024) ghi nhận mối quan hệ tích cực giữa phát triển tài chính và TTKT tại khu vực SADC.

Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu trước đây chưa hoàn toàn thống nhất. Demetriades và James (2011) chưa tìm thấy bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ tích cực giữa phát triển ngân hàng và TTKT. Iheanacho (2016) cho rằng, phát triển ngân hàng có thể tác động tiêu cực đến TTKT trong một số bối cảnh nhất định. Ngoài ra, sự mở rộng tín dụng quá mức hoặc phát triển tài chính thiếu kiểm soát có thể dẫn đến bất ổn tài chính, gia tăng nợ xấu và rủi ro khủng hoảng ngân hàng, từ đó ảnh hưởng bất lợi đến TTKT (Wesiah và Onyekwere, 2021).

Nhìn chung, lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm đều cho thấy, giữa phát triển ngân hàng và TTKT có thể tồn tại mối quan hệ tác động 2 chiều. Một mặt, sự phát triển của hệ thống ngân hàng góp phần huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính, thúc đẩy đầu tư và hỗ trợ TTKT. Mặt khác, quá trình TTKT tạo động lực cho sự mở rộng của hệ thống ngân hàng thông qua việc gia tăng nhu cầu về vốn và dịch vụ tài chính. Tuy nhiên, mức độ và chiều hướng tác động của mối quan hệ này chưa hoàn toàn đồng nhất và còn phụ thuộc vào đặc điểm cũng như trình độ phát triển của từng quốc gia. Đây là cơ sở để nghiên cứu tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mô hình nghiên cứu

Căn cứ vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm đã được lược khảo, phát triển ngân hàng và TTKT được kỳ vọng có mối quan hệ tác động 2 chiều. Một mặt, phát triển ngân hàng có thể hỗ trợ TTKT thông qua việc huy động tiết kiệm, mở rộng cung ứng tín dụng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính; qua đó, thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh và nâng cao năng suất của doanh nghiệp. Mặt khác, TTKT cũng có thể tạo động lực cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng thông qua việc gia tăng nhu cầu về vốn, tín dụng và các dịch vụ tài chính. Trên cơ sở đó, nghiên cứu này sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ trên dữ liệu dạng bảng (PVAR) để phân tích mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và TTKT tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á. Phương pháp PVAR cho phép xem xét đồng thời sự tác động qua lại giữa các biến trong mô hình; đồng thời kết hợp các đặc tính của mô hình VAR truyền thống với dữ liệu bảng (Abrigo và Love, 2016).

Mô hình nghiên cứu được xây dựng cụ thể như sau:

Mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á

Các biến trong mô hình được lựa chọn trên cơ sở kế thừa từ các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa Phát triển ngân hàng và TTKT. Trong đó, TTKT (EG) và Phát triển ngân hàng (BD) là 2 biến chính của mô hình nhằm phân tích mối quan hệ tác động qua lại giữa 2 yếu tố này. EG được đo lường bằng logarit của GDP bình quân đầu người, chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế. BD được xây dựng từ 3 chỉ tiêu thành phần, bao gồm: (i) tín dụng khu vực tư nhân do ngân hàng cung cấp so với GDP; (ii) tổng tài sản của ngân hàng so với GDP; và (iii) nghĩa vụ nợ có tính thanh khoản so với GDP. Chỉ số tổng hợp BD được xác định bằng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) nhằm phản ánh toàn diện hơn về mức độ phát triển của hệ thống ngân hàng. Cụ thể, Phát triển ngân hàng được đo lường toàn diện ở các khía cạnh huy động vốn, quy mô hoạt động và cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, qua đó có thể thúc đẩy TTKT.

Ngoài 2 biến chính, mô hình còn sử dụng các biến kiểm soát (X), bao gồm: Năng lượng tái tạo (RPC), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Phát triển con người (HDI), Lạm phát (INF) và Chất lượng thể chế (INS). Các biến này được lựa chọn nhằm phản ánh các yếu tố kinh tế, xã hội và thể chế có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Phát triển ngân hàng và TTKT tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á. Trong đó, Chất lượng thể chế được xây dựng từ 6 chỉ số thành phần của bộ chỉ số Quản trị Toàn cầu (WGI) thông qua phương pháp phân tích thành phần chính (PCA).

Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 16 quốc gia đang phát triển ở châu Á trong giai đoạn 2002-2023. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn trên cơ sở loại bỏ các quốc gia không có đầy đủ dữ liệu đối với các biến sử dụng trong mô hình. Mẫu nghiên cứu bao gồm các quốc gia đang phát triển, nơi hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc huy động và phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế. Đồng thời, đây cũng là nhóm quốc gia mà thị trường vốn và các kênh tài chính khác còn chưa phát triển đầy đủ. Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Phát triển ngân hàng và TTKT tại các quốc gia này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Dữ liệu năng lượng tái tạo được thu thập từ cơ sở dữ liệu Our World in Data thuộc Đại học Oxford, trong khi dữ liệu phát triển con người (HDI) được thu thập từ Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Các biến còn lại, bao gồm TTKT (EG), các chỉ tiêu thành phần của PTNH (BD), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Lạm phát (INF) và các chỉ tiêu thành phần dùng để xây dựng chỉ số Chất lượng thể chế (INS), được thu thập từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB).

Phương pháp ước lượng

Nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ trên dữ liệu bảng (PVAR) do Abrigo và Love (2016) phát triển để phân tích mối quan hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Mô hình PVAR kết hợp ưu điểm của mô hình VAR truyền thống với dữ liệu bảng và được ước lượng bằng phương pháp mô men tổng quát (GMM). Nhờ đó, phương pháp này cho phép phân tích đồng thời mối quan hệ tác động qua lại giữa các biến, cũng như phản ánh ảnh hưởng của các giá trị trong quá khứ đến diễn biến ở hiện tại.

KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

Kết quả ước lượng

Trước khi ước lượng mô hình theo phương pháp PVAR, nghiên cứu tiến hành kiểm định tính dừng của các biến bằng kiểm định Levin-Lin-Chu (LLC) do Levin và cộng sự (2002) đề xuất. Kết quả kiểm định cho thấy, biến Lạm phát không dừng ở bậc gốc nhưng dừng sau khi lấy sai phân bậc nhất, trong khi các biến còn lại đều dừng ở bậc gốc. Vì vậy, biến Lạm phát được đưa vào mô hình dưới dạng sai phân bậc nhất (DINF), còn các biến khác được sử dụng ở dạng bậc gốc. Tiếp theo, căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn độ trễ của Andrews và Lu (2001), mô hình PVAR với độ trễ một kỳ được lựa chọn để tiến hành phân tích thực nghiệm.

Bảng 1: Kết quả ước lượng mô hình theo PVAR

BiAR

EG

BD

EG(-1)

0,929***

(0,00)

3,482***

(0,00)

BD(-1)

-0,001

(0,32)

0,752***

(0,00)

RPC(-1)

0,042*

(0,06)

2,070***

(0,01)

FDI(-1)

0,007***

(0,00)

0,142***

(0,00)

HDI(-1)

-0,040

(0,90)

27,029***

(0,01)

DINF(-1)

-0,004***

(0,00)

-0,047

(0,17)

INS(-1)

-0,084

(0,26)

-2,581

(0,34)

Ghi chú: * và *** tương ứng với mức ý nghĩa 10% và 1%.

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Kết quả ước lượng bằng phương pháp PVAR cho thấy, mô hình đạt tính ổn định (Hình 1) và phù hợp với dữ liệu nghiên cứu. Cụ thể, Bảng 1 cho thấy TTKT (EG) chịu tác động tích cực bởi chính yếu tố này ở độ trễ một kỳ; đồng thời chịu tác động tích cực bởi Năng lượng tái tạo (RPC) và Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhưng bị tác động tiêu cực bởi lạm phát (DINF). Đối với Phát triển ngân hàng (BD), kết quả ước lượng cho thấy BD chịu tác động tích cực bởi EG, RPC, FDI, HDI và chính yếu tố BD ở độ trễ một kỳ. Những kết quả này cho thấy, trong các quốc gia đang phát triển ở châu Á, quá trình TTKT góp phần thúc đẩy Phát triển ngân hàng , trong khi chưa có đủ bằng chứng để khẳng định chiều tác động ngược lại trong giai đoạn nghiên cứu.

Hình 1: Kết quả kiểm định tính ổn định của kết quả ước lượng

Mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Kết quả ước lượng bằng phương pháp PVAR (Bảng 1) phù hợp với kiểm định nhân quả Granger (Bảng 2), theo đó chỉ tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ TTKT đến Phát triển ngân hàng, trong khi chiều tác động ngược lại không có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy, tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á, sự mở rộng của hệ thống ngân hàng chủ yếu được thúc đẩy bởi quá trình tăng trưởng của nền kinh tế hơn là đóng vai trò như một động lực trực tiếp đối với TTKT.

Bảng 2: Kết quả kiểm định Granger

Tác động

Kết quả

BD → EG

0,99

(0,32)

Không có ý nghĩa

EG → BD

6,35***

(0,01)

Có ý nghĩa

Ghi chú: *** mức ý nghĩa 1%.

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa Phát triển ngân hàng (BD) và TTKT (EG) tồn tại mối quan hệ tác động một chiều tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á. Trong khi TTKT có tác động tích cực đến Phát triển ngân hàng, nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về chiều tác động ngược lại. Ngoài ra, các biến kiểm soát như Năng lượng tái tạo, Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Phát triển con người và Lạm phát cũng có ảnh hưởng đáng kể đến 2 biến chính của mô hình.

Hình 2: Phản ứng của phát triển ngân hàng trước các cú sốc của tăng trưởng kinh tế

Mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Kết quả ước lượng cho thấy TTKT có tác động tích cực đến Pphát triển ngân hàng (Bảng 1), đồng thời kết quả phân tích phản ứng xung cho thấy tác động này tiếp tục được duy trì trong dài hạn (Hình 2). Điều này hàm ý rằng, khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu về tín dụng và các dịch vụ tài chính gia tăng, tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao khả năng huy động, phân bổ nguồn vốn. Kết quả này phù hợp với Giả thuyết phát triển tài chính theo nhu cầu của Robinson (1952), theo đó, sự phát triển của hệ thống ngân hàng chủ yếu phản ánh nhu cầu mở rộng của nền kinh tế. Đồng thời, phát hiện này cũng thống nhất với các nghiên cứu của Ang (2008), Mhadhbi và cộng sự (2020) và Mlambo (2024), khi đều cho rằng TTKT là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khu vực tài chính. Trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển ở châu Á, nơi hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu, kết quả này phản ánh vai trò của TTKT trong việc mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Hình 3: Phản ứng của tăng trưởng kinh tế trước các cú sốc của phát triển ngân hàng

Mối quan hệ giữa phát triển ngân hàng và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Ngược lại, nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng thống kê cho thấy cú sốc phát triển ngân hàng tạo ra phản ứng khác 0 của TTKT. Kết quả này chưa hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Schumpeter (1911), McKinnon (1973), Shaw (1973), Levine (1997) và nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho rằng, phát triển ngân hàng có thể thúc đẩy TTKT thông qua việc nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực tài chính. Tuy nhiên, kết quả lại phù hợp với Demetriades và James (2011), Iheanacho (2016), khi cho rằng, tác động của phát triển ngân hàng đến TTKT phụ thuộc vào hiệu quả phân bổ vốn và trình độ phát triển tài chính của từng quốc gia. Đối với các quốc gia đang phát triển ở châu Á, mặc dù hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhưng nguồn vốn tín dụng chưa chắc đã tạo ra tác động trực tiếp đối với TTKT. Trên thực tế, tác động của phát triển ngân hàng đến TTKT thường diễn ra gián tiếp thông qua hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh và nâng cao năng suất của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là việc mở rộng quy mô tín dụng hoặc tài sản ngân hàng chỉ có thể thúc đẩy TTKT khi nguồn vốn được phân bổ hiệu quả vào các lĩnh vực sản xuất, đổi mới công nghệ và các ngành có giá trị gia tăng cao.

Đối với các biến kiểm soát, kết quả nghiên cứu cho thấy Năng lượng tái tạo (RPC) và Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động tích cực đến cả TTKT và Phát triển ngân hàng. Điều này cho thấy quá trình chuyển dịch năng lượng và thu hút dòng vốn FDI không chỉ góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế, mà còn làm gia tăng nhu cầu về các dịch vụ tài chính và tín dụng. Bên cạnh đó, Phát triển con người (HDI) có tác động tích cực đến Phát triển ngân hàng, phản ánh vai trò của chất lượng nguồn nhân lực trong việc mở rộng khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính. Ngược lại, Lạm phát có tác động tiêu cực đến TTKT, cho thấy biến động giá cả có thể làm giảm hiệu quả đầu tư và kìm hãm hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á, sự phát triển của hệ thống ngân hàng hiện nay có xu hướng phản ánh nhu cầu mở rộng của nền kinh tế hơn là đóng vai trò dẫn dắt TTKT. Điều này hàm ý rằng, việc mở rộng quy mô của hệ thống ngân hàng cần đi đôi với nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và chất lượng tín dụng nhằm phát huy tốt hơn vai trò của khu vực ngân hàng đối với TTKT trong dài hạn.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết luận

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích mối quan hệ giữa Phát triển ngân hàng và TTKT tại 16 quốc gia đang phát triển ở châu Á, trong giai đoạn 2002-2023. Bằng cách sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ trên dữ liệu bảng (PVAR), kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ giữa Phát triển ngân hàng và TTKT chủ yếu diễn ra theo một chiều từ TTKT đến Phát triển ngân hàng trong đặc tả mô hình hiện tại. Cụ thể, kết quả ước lượng PVAR và kiểm định nhân quả Granger cho thấy TTKT có tác động tích cực và tồn tại quan hệ nhân quả một chiều đến Phát triển ngân hàng, trong khi chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về chiều tác động từ Phát triển ngân hàng đến TTKT. Đáng chú ý, kết quả phân tích phản ứng xung cho thấy, phản ứng của PTNH trước cú sốc TTKT có tính động và thay đổi theo thời gian, thay vì duy trì mức độ tác động tích cực ổn định trong toàn bộ các kỳ phân tích.

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy TTKT và Phát triển ngân hàng đều có tính duy trì theo thời gian, khi giá trị của các biến này ở quá khứ tiếp tục tác động tích cực đến giá trị ở hiện tại. Bên cạnh đó, Năng lượng tái tạo và FDI có tác động tích cực đến cả TTKT và Phát triển ngân hàng, trong khi Lạm phát tác động tiêu cực đến TTKT và Phát triển con người góp phần thúc đẩy Phát triển ngân hàng. Nhìn chung, phát hiện nổi bật của nghiên cứu là bằng chứng về quan hệ nhân quả Granger một chiều từ TTKT đến Phát triển ngân hàng, trong đó phản ứng động của Phát triển ngân hàng trước cú sốc TTKT thay đổi theo thời gian.

Hàm ý chính sách

Trên cơ sở kết quả thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng gắn với thúc đẩy TTKT tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á.

Trước hết, các quốc gia cần tiếp tục duy trì tốc độ TTKT ổn định, bởi đây là nền tảng quan trọng tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, gia tăng khả năng huy động vốn và phát triển các dịch vụ tài chính. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thông qua việc cải thiện chất lượng phân bổ tín dụng, ưu tiên nguồn vốn cho các lĩnh vực sản xuất, đổi mới công nghệ và các ngành có giá trị gia tăng cao nhằm nâng cao khả năng chuyển hóa nguồn vốn thành TTKT.

Bên cạnh đó, các quốc gia cần tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI, thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bởi đây là những yếu tố góp phần thúc đẩy cả TTKT và sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát cũng cần được quan tâm nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh và hướng đến thúc đẩy TTKT. Tác động của TTKT đến Phát triển ngân hàng được duy trì trong nhiều giai đoạn và cả 2 biến này đều có tính kế thừa theo thời gian, các chính sách phát triển kinh tế và tài chính cần được triển khai theo hướng ổn định, nhất quán và dài hạn để tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đề ra, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế. Cụ thể, nghiên cứu chỉ sử dụng mẫu gồm 16 quốc gia đang phát triển ở châu Á trong giai đoạn 2002-2023, chưa xem xét đầy đủ sự khác biệt về cấu trúc tài chính, trình độ phát triển kinh tế và chất lượng thể chế giữa các quốc gia. Đồng thời, nghiên cứu tập trung vào một số biến kiểm soát cơ bản và chưa xem xét các yếu tố có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Phát triển ngân hàng và TTKT như tài chính xanh hay đổi mới công nghệ. Do đó, các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các khu vực khác; đồng thời bổ sung các yếu tố này nhằm làm rõ hơn cơ chế tác động giữa Phát triển ngân hàng và TTKT.

Tài liệu tham khảo:

1. Abrigo, M. R. M., & Love, I. (2016). Estimation of panel vector autoregression in Stata. The Stata Journal, 16(3), 778-804. https://doi.org/10.1177/1536867X1601600314

2. Andrews, D. W. K., & Lu, B. (2001). Consistent model and moment selection procedures for GMM estimation with application to dynamic panel data models. Journal of Econometrics, 101(1), 123-164. https://doi.org/10.1016/S0304-4076(00)00077-4

3. Ang, J. B. (2008). What are the mechanisms linking financial development and economic growth in Malaysia? Economic Modelling, 25(1), 38-53. https://doi.org/10.1016/j.econmod.2007.04.006

4. Beck, T., & Levine, R. (2004). Stock markets, banks, and growth: Panel evidence. Journal of Banking & Finance, 28(3), 423-442. https://doi.org/10.1016/S0378-4266(02)00408-9

5. Demetriades, P. O., & James, G. A. (2011). Finance and growth in Africa: The broken link. Economics Letters, 113(3), 263-265. https://doi.org/10.1016/j.econlet.2011.08.007

6. Hassan, M. K., Sanchez, B., & Yu, J. (2011). Financial development and economic growth: New evidence from panel data. The Quarterly Review of Economics and Finance, 51(1), 88-104. https://doi.org/10.1016/j.qref.2010.09.001

7. Iheanacho, E. (2016). The Impact of Financial Development on Economic Growth in Nigeria: An ARDL Analysis. Economies, 4(4), 26. https://doi.org/10.3390/economies4040026

8. King, R. G., & Levine, R. (1993). Finance and growth: Schumpeter might be right. The Quarterly Journal of Economics, 108(3), 717-737. https://doi.org/10.2307/2118406

9. Levine, R. (1997). Financial development and economic growth: Views and agenda. Journal of Economic Literature, 35(2), 688-726. https://www.jstor.org/stable/2729790

10. Levine, R., & Zervos, S. (1998). Stock markets, banks, and economic growth. American Economic Review, 88(3), 537-558. https://www.jstor.org/stable/116848

11. Levine, R., Loayza, N., & Beck, T. (2000). Financial intermediation and growth: Causality and causes. Journal of Monetary Economics, 46(1), 31-77. https://doi.org/10.1016/S0304-3932(00)00017-9

12. Levin, A., Lin, C. F., & Chu, C. S. J. (2002). Unit root tests in panel data: Asymptotic and finite-sample properties. Journal of Econometrics, 108(1), 1-24.

13. McKinnon, R. (1973). Money and Capital in Economic Development. Brookings Institution Press, Washington DC.

14. Mhadhbi, K., Terzi, C., & Bouchrika, A. (2020). Banking sector development and economic growth in developing countries: a bootstrap panel Granger causality analysis. Empirical Economics, 58, 2817-2836. https://doi.org/10.1007/s00181-019-01670-z

15. Mlambo, C. (2024). Financial Development and Economic Growth: Evidence from Low-Income Nations in the SADC Region. International Journal of Financial Studies, 12(3), 62. https://doi.org/10.3390/ijfs12030062

16. Murari, K. (2017). Financial Development-Economic Growth Nexus: Evidence from South Asian Middle-income Countries. Global Business Review, 18(4), 924-935. https://doi.org/10.1177/0972150917692245

17. Nguyen, P. T. (2022). The Impact of Banking Sector Development on Economic Growth: The Case of Vietnam’s Transitional Economy. Journal of Risk and Financial Management, 15(8), 358. https://doi.org/10.3390/jrfm15080358

18. Phan, T. H., Tran, T. V., & Tran, T. M. (2025). Banking development contributes to economic growth and inflation control in Vietnam. International Journal of Economics and Business Research, 29(7), 1-16. https://doi.org/10.1504/IJEBR.2025.144102

19. Robinson, J. (1952). The generalization of the general theory. Macmillan.

20. Shaw, E. (1973). Financial Deepening in Economic Development. Oxford University Press, New York.

21. Schumpeter, J. A. (1911). The theory of economic development. Harvard University Press.

22. Wesiah, S., & Onyekwere, S. C. (2021). The Relationship Between Financial Development and Economic Growth in The United Kingdom: A Granger Causality Approach. Quantitative Economics and Management Studies, 2(1), 47-71. https://doi.org/10.35877/454RI.qems258

23. Xu, G. (2025). The role of banking development in economic growth: Quantity versus quality. Economic Affairs, 45(2), 261-276. https://doi.org/10.1111/ecaf.12699

Ngày nhận bài: 29/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/9/2026; Ngày duyệt đăng: 29/9/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Tiền gửi của khách hàng cá nhân là nguồn vốn quan trọng đối với ngân hàng thương mại, đồng thời đáp ứng nhu cầu bảo toàn và tích lũy tài sản của người gửi tiền. Khi lãi suất và sản phẩm có thể được điều chỉnh tương đối nhanh, chất lượng dịch vụ trở thành một tiêu chí quan trọng trong lựa chọn ngân hàng.
Phân loại dòng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Tổng quan hệ thống và định hướng nghiên cứu

Phân loại dòng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Tổng quan hệ thống và định hướng nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện tổng quan hệ thống nhằm nhận diện động cơ và kỹ thuật dịch chuyển phân loại dòng tiền; đồng thời, đánh giá khách quan rủi ro minh bạch từ sự khác biệt về triết lý giữa VAS 24 và IFRS. Qua đó, đề xuất khung nghiên cứu tương lai dành cho nhóm ngành thâm dụng vốn lưu động tại thị trường Việt Nam.
Tài chính xanh trong phát triển nông nghiệp bền vững: Kinh nghiệm từ một số địa phương và hàm ý chính sách cho tỉnh Phú Thọ

Tài chính xanh trong phát triển nông nghiệp bền vững: Kinh nghiệm từ một số địa phương và hàm ý chính sách cho tỉnh Phú Thọ

Phát triển nông nghiệp bền vững đang trở thành xu hướng tất yếu nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên và nâng cao giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp. Trong quá trình này, tài chính xanh đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực cho sản xuất thân thiện với môi trường và ứng dụng công nghệ.
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của người dân tại tỉnh An Giang

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của người dân tại tỉnh An Giang

Với bản chất của ví điện tử được sử dụng trong việc chi tiêu hàng ngày, tập trung vào những giao dịch nhỏ lẻ nhưng có tính chất thường xuyên nên việc sở hữu hệ sinh thái đủ để có thể thường xuyên phát sinh giao dịch là một trong những điều kiện tiên quyết để chiếm được thị phần.
Thu nhập từ kênh số và hiệu quả sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Bằng chứng dữ liệu bảng giai đoạn 2017-2025

Thu nhập từ kênh số và hiệu quả sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Bằng chứng dữ liệu bảng giai đoạn 2017-2025

Chuyển đổi số đang tái định hình cạnh tranh ngân hàng thông qua dịch chuyển giao dịch sang nền tảng số, tự động hóa quy trình và khai thác dữ liệu khách hàng. Tuy nhiên, đầu tư công nghệ không mặc nhiên tạo ra lợi nhuận. Chi phí nền tảng, an ninh mạng, nhân lực số và tái cấu trúc quy trình có thể làm giảm hiệu quả trong giai đoạn đầu; lợi ích chỉ xuất hiện rõ khi khách hàng sử dụng thường xuyên và ngân hàng thương mại hóa được năng lực số.
​​​​​​​Ràng buộc tài chính và chất lượng lợi nhuận: Vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

​​​​​​​Ràng buộc tài chính và chất lượng lợi nhuận: Vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Chất lượng lợi nhuận quyết định mức độ hữu ích của thông tin kế toán đối với nhà đầu tư, chủ nợ và cơ quan quản lý. Trong khi đó, ràng buộc tài chính có thể làm giảm khả năng thao túng nếu doanh nghiệp chịu sự giám sát chặt hơn của ngân hàng và nhà đầu tư. Còn sở hữu nhà nước làm cho mối quan hệ này phức tạp hơn.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Thực trạng và giải pháp trong kỷ nguyên mới

Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Thực trạng và giải pháp trong kỷ nguyên mới

Trong cuộc Cách mạng công nghệ 4.0, đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn mang tính xu hướng mà đã trở thành yếu tố sống còn, quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của ngành.
Quản trị rủi ro tài chính: “Bản lề” cho sự bứt phá của các công ty niêm yết

Quản trị rủi ro tài chính: “Bản lề” cho sự bứt phá của các công ty niêm yết

Quản trị rủi ro tài chính giúp công ty niêm yết bảo vệ lợi ích cổ đông, duy trì ổn định và hỗ trợ phát triển bền vững.
Phát triển tài chính số - Động lực mới thúc đẩy tài chính toàn diện ở Việt Nam

Phát triển tài chính số - Động lực mới thúc đẩy tài chính toàn diện ở Việt Nam

Việc đánh giá thực trạng, nhận diện những hạn chế và xác định định hướng phát triển tài chính số gắn với mục tiêu tài chính toàn diện có ý nghĩa thiết thực cho giai đoạn 2026-2030.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại HDBank - Phòng giao dịch Thạnh Phú

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại HDBank - Phòng giao dịch Thạnh Phú

Trong điều kiện các sản phẩm ngân hàng ngày càng tương đồng, chất lượng dịch vụ trở thành nhân tố quan trọng tạo nên sự khác biệt và củng cố sự hài lòng của khách hàng.