Tài chính xanh trong phát triển nông nghiệp bền vững: Kinh nghiệm từ một số địa phương và hàm ý chính sách cho tỉnh Phú Thọ
TS. Vũ Thị Phương Lan
Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì
Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, tài chính xanh đóng vai trò là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường. Nghiên cứu này phân tích kinh nghiệm thực tiễn về phát triển tài chính xanh gắn với các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, chuỗi giá trị và chuyển đổi số tại hai tỉnh Sơn La và Thái Nguyên. Trên cơ sở đánh giá thực trạng huy động nguồn lực, tín dụng xanh và chuỗi giá trị nông sản tại tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2021-2025, nghiên cứu chỉ ra những điểm còn hạn chế và khoảng cách so với các địa phương đi trước. Từ đó, tác giả đề xuất 5 hàm ý chính sách đồng bộ nhằm hoàn thiện cơ chế tín dụng, mở rộng vùng sản xuất đạt chuẩn, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp xanh, tạo tiền đề vững chắc cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp bền vững của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2026-2030.
Từ khóa: Tài chính xanh, nông nghiệp bền vững, tín dụng xanh, nông nghiệp hữu cơ, Phú Thọ
Abstract
In the context of climate change and sustainable development requirements, green finance plays an important role in promoting the transition toward environmentally friendly agricultural production. This study analyzes practical experience in developing green finance in association with high-tech agricultural production models, value chains, and digital transformation in the provinces of Son La and Thai Nguyen. Based on an assessment of resource mobilization, green credit, and agricultural value chains in Phu Tho Province during the 2021-2025 period, the study identifies remaining limitations and gaps compared with leading localities. On this basis, the study proposes five coordinated policy implications to improve credit mechanisms, expand areas that meet quality standards, promote value-chain linkages, accelerate digital transformation, and develop a green agricultural development strategy, thereby laying a solid foundation for Phu Tho Province’s sustainable agricultural transformation during the 2026-2030 period.
Keywords: Green finance, sustainable agriculture, green credit, organic agriculture, Phu Tho Province
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển nông nghiệp bền vững đang trở thành xu hướng tất yếu nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên và nâng cao giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp. Trong quá trình này, tài chính xanh đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực cho sản xuất thân thiện với môi trường và ứng dụng công nghệ.
Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, 82 tổ chức tín dụng đã phát sinh dư nợ tín dụng xanh với quy mô khoảng 828.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20%/năm giai đoạn 2017-2025, trong đó, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực ưu tiên cấp vốn (Hoa Trà, 2026). Thực tiễn tại nhiều địa phương trong cả nước, đặc biệt là Sơn La và Thái Nguyên cho thấy hiệu quả của tài chính xanh trong phát triển nông nghiệp, qua đó cung cấp nhiều bài học cho tỉnh Phú Thọ.
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH XANH CỦA SƠN LA VÀ THÁI NGUYÊN
Tỉnh Sơn La phát triển tài chính xanh gắn với vùng nguyên liệu, công nghệ cao và xuất khẩu
Sơn La là trường hợp cho thấy tài chính xanh đang từng bước gắn với quá trình chuyển đổi và nâng cấp chuỗi giá trị nông nghiệp. Những năm gần đây, tỉnh đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với khoa học công nghệ, chuyển đổi số và mở rộng thị trường xuất khẩu; theo Kế hoạch số 61/KH-UBND, giá trị xuất khẩu nông sản năm 2025 tăng 9,22% so với năm 2024 (UBND tỉnh Sơn La, 2025a). Cùng với việc mở rộng thị trường, tỉnh chú trọng xây dựng các vùng sản xuất tập trung, truy xuất nguồn gốc và mã số vùng trồng; đến năm 2026, hơn 216 mã số vùng trồng xuất khẩu đối với các sản phẩm chủ lực như xoài, nhãn, mận và cà phê tiếp tục được duy trì và cấp lại (Sở Nông nghiệp và Môi trường Sơn La, 2026). Sự phát triển của các chuỗi sản xuất và yêu cầu ngày càng cao của thị trường đã tạo nhu cầu lớn về nguồn vốn đầu tư theo hướng xanh, qua đó thúc đẩy tín dụng xanh trên địa bàn.
Đến ngày 31/7/2025, Agribank Sơn La có tổng dư nợ trên 17.585 tỷ đồng, trong đó khoảng 12.000 tỷ đồng dành cho nông nghiệp; riêng chương trình tín dụng xanh đã cam kết hơn 500 tỷ đồng và giải ngân trên 300 tỷ đồng, tập trung vào nông nghiệp hữu cơ, sản xuất sạch và đầu tư công nghệ giảm tác động môi trường. Một số khoản vay được sử dụng để phát triển cây ăn quả đạt VietGAP, đầu tư hệ thống xử lý nước thải, làm mát và bảo đảm an toàn sinh học trong chăn nuôi (Báo Sơn La, 2025). Tuy nhiên, việc tiếp cận vốn xanh vẫn đòi hỏi người sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn về VietGAP, hữu cơ và môi trường. Do đó, kinh nghiệm Sơn La cho thấy tài chính xanh chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, từ quy hoạch vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn hóa và truy xuất nguồn gốc đến liên kết ngân hàng-doanh nghiệp-hợp tác xã-nông hộ và phát triển thị trường đầu ra. Đây là cơ sở để Phú Thọ tham khảo trong việc gắn nguồn vốn xanh với nâng cấp chuỗi giá trị và chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững.
Tỉnh Thái Nguyên phát triển tài chính xanh gắn với thương hiệu chè và chuyển đổi số
Khác với Sơn La nổi bật về phát triển cây ăn quả xuất khẩu, Thái Nguyên thành công trong việc xây dựng chuỗi giá trị chè theo hướng xanh, hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao. Theo Kế hoạch phát triển ngành chè giai đoạn 2025-2030, Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 24.500 ha chè, sản lượng 300.000 tấn chè búp tươi; trong đó, 70% diện tích chè được chứng nhận theo tiêu chuẩn GAP hoặc hữu cơ và 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng. Đồng thời, Tỉnh hướng tới mục tiêu 100% doanh nghiệp và hợp tác xã ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc sản phẩm (Trần Huyền, 2026).
Để thực hiện các mục tiêu phát triển ngành chè, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Nghị quyết số 08/2025/NQ-HĐND với 11 chính sách hỗ trợ, tổng kinh phí khoảng 523 tỷ đồng trong giai đoạn 2025-2030. Nguồn vốn này được sử dụng để hỗ trợ giống chè mới, chứng nhận VietGAP và hữu cơ, phân bón hữu cơ, hệ thống tưới tiết kiệm, máy móc chế biến, truy xuất nguồn gốc và xúc tiến thương mại. Tỉnh hỗ trợ 100% chi phí chứng nhận VietGAP lần đầu, hỗ trợ chứng nhận hữu cơ, đồng thời hỗ trợ đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm và ứng dụng công nghệ nhằm thúc đẩy sản xuất chè xanh, bền vững (Đỗ Hương, 2025).
Bên cạnh phát triển sản xuất, Thái Nguyên còn gắn phát triển ngành chè với chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Theo Kế hoạch phát triển ngành chè giai đoạn 2025-2030, đến năm 2030 Tỉnh đặt mục tiêu 100% sản phẩm trà và sản phẩm từ chè được kinh doanh trên các nền tảng thương mại điện tử, đồng thời có ít nhất 250 sản phẩm trà đạt tiêu chuẩn OCOP từ 3-5 sao, trong đó có 6 sản phẩm OCOP 5 sao (Trần Huyền, 2026). Những định hướng này tạo thêm đầu ra và giá trị gia tăng cho sản phẩm, qua đó nâng cao khả năng hấp thụ và hoàn trả nguồn vốn đầu tư cho các mô hình sản xuất chè xanh, hữu cơ và ứng dụng công nghệ.
Từ kinh nghiệm của Thái Nguyên, có thể khẳng định rằng, tài chính xanh không chỉ là việc cung cấp vốn mà còn là công cụ thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường cho nông sản địa phương.
THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH XANH TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TẠI TỈNH PHÚ THỌ
Giai đoạn 2021-2025, Phú Thọ đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng xanh, hiện đại và bền vững, tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực như chè, bưởi Đoan Hùng, cây ăn quả, cây dược liệu và kinh tế lâm nghiệp. Năm 2025, GRDP của Tỉnh tăng 10,22%, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,12%, đóng góp 0,34 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).
Tài chính xanh trong nông nghiệp tại Phú Thọ được triển khai thông qua nhiều nguồn lực khác nhau, gồm tín dụng ngân hàng cho lĩnh vực nông nghiệp, nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, vốn đầu tư của doanh nghiệp, hợp tác xã và các chương trình hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn. Các định hướng này phù hợp với Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 150/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2022).
Song song với việc đa dạng hóa nguồn lực tài chính, Phú Thọ đang từng bước hoàn thiện các chính sách thúc đẩy tăng trưởng xanh trong nông nghiệp. Tỉnh tập trung phát triển các vùng sản xuất chè, bưởi, cây ăn quả và cây dược liệu; đồng thời đẩy mạnh xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất (UBND tỉnh Phú Thọ, 2025). Bên cạnh đó, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 đã tạo cơ sở quan trọng để địa phương mở rộng tín dụng xanh và phát triển nông nghiệp phát thải thấp (Thủ tướng Chính phủ, 2021).
Nhờ các chính sách hỗ trợ, ngành nông nghiệp Phú Thọ đã đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2025, diện tích chè toàn Tỉnh đạt 14.500 ha, sản lượng 161.000 tấn, tăng 2,4%; diện tích bưởi đạt 11.900 ha, sản lượng 41.500 tấn, tăng 4,2% so với năm trước. Đồng thời, nhiều mô hình nông nghiệp an toàn, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao được triển khai, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).
Tuy nhiên, quá trình phát triển tài chính xanh trong nông nghiệp của Phú Thọ vẫn còn đối mặt với một số khó khăn như: chưa hình thành đầy đủ các công cụ hỗ trợ chuyên biệt; quy mô sản xuất nông nghiệp đạt tiêu chuẩn xanh còn thấp hơn đáng kể so với Sơn La và Thái Nguyên; năng lực kết nối thị trường và tham gia chuỗi giá trị nông sản còn hạn chế; chuyển đổi số trong nông nghiệp chưa tạo được nền tảng cho phát triển tài chính xanh; năng lực hấp thụ vốn của khu vực kinh tế hợp tác chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh…
Thực tế cho thấy Phú Thọ vẫn còn khoảng cách với Sơn La và Thái Nguyên về quy mô sản xuất, khả năng thu hút vốn xanh và liên kết thị trường. Kinh nghiệm của 2 địa phương cho thấy tài chính xanh chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tín dụng ưu đãi, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và phát triển chuỗi giá trị nông sản, theo những định hướng của Chính phủ (2018), Thủ tướng Chính phủ (2020a, 2020b, 2021, 2022).
HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO TỈNH PHÚ THỌ
Từ kinh nghiệm của Sơn La và Thái Nguyên, Phú Thọ cần triển khai đồng bộ các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính xanh và thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp bền vững.
Thứ nhất, xây dựng cơ chế tín dụng xanh chuyên biệt cho nông nghiệp. Tỉnh cần phối hợp với các ngân hàng và tổ chức tín dụng xây dựng các gói vay ưu đãi dành cho nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp công nghệ cao và các dự án giảm phát thải. Đồng thời, mở rộng các hình thức hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng để doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn.
Thứ hai, mở rộng các vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và hữu cơ. Trên cơ sở lợi thế về chè, bưởi Đoan Hùng, cây ăn quả và cây dược liệu, Tỉnh cần tăng cường hỗ trợ chứng nhận chất lượng, ứng dụng hệ thống tưới tiết kiệm, sử dụng phân bón hữu cơ và từng bước hình thành các vùng nguyên liệu tập trung phục vụ chế biến, xuất khẩu.
Thứ ba, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị nông sản. Cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, bảo quản và logistics, đồng thời phát triển các hợp tác xã kiểu mới gắn với hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Việc tăng cường liên kết giữa ngân hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học - công nghệ trong nông nghiệp thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu, mở rộng hệ thống mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương mại điện tử.
Thứ năm, xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp xanh gắn với lợi thế địa phương và hội nhập thị trường quốc tế. Quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực. Đây là cơ sở để nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút nguồn lực tài chính xanh trong giai đoạn 2026-2030.
Tài liệu tham khảo:
1. Báo Sơn La (2025). Tín dụng xanh thúc đẩy kinh tế nông nghiệp sạch, https://baosonla.vn/kinh-te/tin-dung-xanh-thuc-day-kinh-te-nong-nghiep-sach-lBFQXUlNg.html
2. Chính phủ (2018). Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
3. Đỗ Hương (2025). “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên trước thời cơ trở thành ngành hàng tỷ USD. https://baochinhphu.vn/de-nhat-danh-tra-thai-nguyen-truoc-thoi-co-tro-thanh-nganh-hang-ty-usd-102250807104730901.htm
4. Hội Nông dân tỉnh Phú Thọ (2025). Báo cáo công tác hội và phong trào nông dân năm 2025.
5. Hoa Trà (2026). Dư nợ tín dụng xanh đạt quy mô 828.000 tỷ đồng. VTV Times. https://vtv.vn/du-no-tin-dung-xanh-dat-quy-mo-828000-ty-dong-100260609175312736.htm
6. Ngọc An (2026). Phú Thọ đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
7. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La (2026). Kế hoạch phát triển vùng trồng và mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu năm 2026.
8. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên (2025). Báo cáo kết quả phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn tỉnh Thái Nguyên năm 2025.
9. Thành Dân, & Thiên Long (2026). Nông nghiệp tỉnh Phú Thọ 2025: Ngành trồng trọt thu về hơn 16.000 tỷ đồng.
10. Thống kê tỉnh Phú Thọ (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025.
11. Thủ tướng Chính phủ (2020a). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
12. Thủ tướng Chính phủ (2020b). Quyết định số 645/QĐ-TTg ngày 15/5/2020 phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021-2025.
13. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
14. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/1/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
15. Thúy Hà (2026). Nông nghiệp tỉnh Sơn La tiếp tục khẳng định vai trò là “trụ đỡ” của nền kinh tế. https://sonla.gov.vn/tin-kinh-te/nong-nghiep-tinh-son-la-tiep-tuc-khang-dinh-vai-tro-la-tru-do-cua-nen-kinh-te-975557
16. Trần Huyền (2026). Thái Nguyên triển khai kế hoạch phát triển ngành chè giai đoạn 2025 - 2030. https://thainguyen.gov.vn/tin-hoat-dong-cua-tinh/thai-nguyen-trien-khai-ke-hoach-phat-trien-nganh-che-giai-doan-2025-2030-251756
17. TTXVN (2026). Tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết 57 cho nông nghiệp Việt Nam: Sơn La đột phá trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao. https://mst.gov.vn/tam-nhin-chien-luoc-cua-nghi-quyet-57-cho-nong-nghiep-viet-nam-son-la-dot-pha-trong-phat-trien-nong-nghiep-cong-nghe-cao-197260327090045801.htm
18. UBND tỉnh Phú Thọ (2025). Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ.
19. UBND tỉnh Sơn La (2025a). Kế hoạch số 61/KH-UBND ngày 28/02/2025 về xuất khẩu sản phẩm hàng hóa tỉnh Sơn La năm 2025.
20. UBND tỉnh Sơn La (2025b). Kế hoạch xây dựng nông thôn mới tỉnh Sơn La giai đoạn 2021-2025.
| Ngày nhận bài: 14/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/8/2026; Ngày duyệt đăng: 28/9/2026 |
Các tin khác
Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19
Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh
Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam
Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh