Khám phá các nhân tố tác động đến ý định chuyển đổi số tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental
TS. Bùi Nhật Lê Uyên
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Yang Chấn Khoa
Viện Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu khám phá các nhân tố tác động đến ý định chuyển đổi số tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental trong bối cảnh ngành dệt may chịu áp lực mạnh mẽ từ các quy định bền vững quốc tế. Nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết kết hợp giữa Mô hình hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) và Khung Tổ chức - Công nghệ - Môi trường (TOE), áp dụng phương pháp định tính và định lượng với 399 mẫu khảo sát. Kết quả cho thấy 5 nhân tố thuộc 3 nhóm (Công nghệ, Tổ chức, Môi trường) có ảnh hưởng đáng kể đến Ý định chuyển đổi số, trong đó dẫn đầu là nhân tố Áp lực lên doanh nghiệp, tiếp đến là Sự hỗ trợ của chính phủ, Hạ tầng công nghệ, Kỳ vọng hiệu quả và cuối cùng là Lòng tin. Nghiên cứu có giá trị trong bối cảnh Ban lãnh đạo Công ty TNHH Dệt Sợi Continental xây dựng lộ trình chuyển đổi số nhằm tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả tài chính - vận hành bền vững.
Từ khóa: Chuyển đổi số, ý định chuyển đổi số, ngành Dệt Sợi, Khung TOE, Mô hình UTAUT
Abstract
This study examines the factors influencing digital transformation intention at Continental Textile Yarn Company Limited, against the backdrop of mounting pressure on the textile industry to comply with international sustainability regulations. The study integrates the unified theory of acceptance and use of technology (UTAUT) with the technology-organization-environment (TOE) framework and employs a mixed-methods approach, combining qualitative and quantitative methods, based on a survey of 399 respondents. The results indicate that five factors across the three TOE dimensions - technology, organization, and environment - significantly influence digital transformation intention. In descending order of influence, these factors are business pressure, government support, technological infrastructure, performance expectancy, and trust. The findings provide practical implications for the company's management in developing a digital transformation roadmap to optimize resource allocation, enhance competitiveness, and improve financial and operational performance in support of long-term sustainability.
Keywords: Digital transformation, digital transformation intention, textile and yarn industry, TOE framework, UTAUT
GIỚI THIỆU
Chuyển đổi số (CĐS) đã trở thành động lực chiến lược bắt buộc giúp doanh nghiệp tái cấu trúc mô hình vận hành, tối ưu hóa chi phí và duy trì lợi thế cạnh tranh thương trường. CĐS không chỉ làm thay đổi phương thức quản trị nội bộ mà còn đặt ra bài toán sinh tồn đối với các doanh nghiệp thâm dụng lao động và năng lượng. Đối với ngành Dệt may Việt Nam, CĐS gắn liền “chuyển đổi xanh” là điều kiện sống còn để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Trước áp lực từ các cơ chế như CBAM của EU và Hoa Kỳ (IDH, 2024), doanh nghiệp bắt buộc phải ứng dụng IoT để kiểm soát năng lượng và phát thải theo thời gian thực. Tuy nhiên, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024), có tới 48% doanh nghiệp vẫn lúng túng do thiếu lộ trình và nhân tố ưu tiên, khiến họ đối mặt với rủi ro đánh mất 15-20% lợi thế chi phí vận hành. Công ty TNHH Dệt Sợi Continental là doanh nghiệp hoạt động trong ngành dệt sợi với đặc thù hệ thống máy móc truyền thống và lực lượng lao động đông đảo. Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định CĐS tại Continental không chỉ đóng góp về mặt lý luận trong việc ứng dụng khung lý thuyết quản trị công nghệ vào ngành công nghiệp chế biến - chế tạo, mà còn mang giá trị thực tiễn cấp thiết giúp Ban Giám đốc nhận diện đúng điểm nghẽn, phân bổ nguồn lực tài chính hợp lý và nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Mô hình hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) được phát triển bởi Venkatesh (2003) trên cơ sở tích hợp 8 mô hình hành vi kinh điển, bao gồm: Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), Thuyết hành động hợp lý (TRA), Mô hình động cơ (MM), Thuyết dự định hành vi (TPB), Mô hình kết hợp C-TAM-TPB, Mô hình sử dụng áy tính cá nhân (MPCU), Thuyết phổ biến sự đổi mới (IDT) và Thuyết nhận thức xã hội (SCT). UTAUT giải thích hiệu quả ý định hành vi của cá nhân thông qua các yếu tố: Kỳ vọng hiệu quả, Kỳ vọng nỗ lực, Ảnh hưởng xã hội và Các điều kiện thuận lợi.
Khung Lý thuyết Tổ chức - Công nghệ - Môi trường (TOE) của Tornatzky và Fleischer (1990) tiếp cận doanh nghiệp như một hệ thống kinh tế - xã hội phức tạp. Khác với các mô hình tâm lý hành vi cá nhân, TOE phân tích quyết định tiếp nhận công nghệ ở cấp độ tổ chức dựa trên 3 bối cảnh:
Bối cảnh công nghệ: Đặc tính kỹ thuật, tính tương thích, hạ tầng và độ tin cậy của công nghệ; Bối cảnh tổ chức: Năng lực tài chính, nhận thức của lãnh đạo, kỹ năng nguồn nhân lực và cấu trúc quản trị; Bối cảnh môi trường: Áp lực cạnh tranh ngành, hỗ trợ từ chính phủ và các rào cản thể chế/thị trường.
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Kỳ vọng hiệu quả và Ý định CĐS
Theo khung TOE và mô hình UTAUT, kỳ vọng hiệu quả phản ánh niềm tin lý trí và thực tiễn về những lợi ích vượt trội (tối ưu chi phí, nâng cao năng suất, xử lý điểm nghẽn ca kíp/phế phẩm sợi) của công nghệ số so với phương thức truyền thống (Susanty và cộng sự, 2025; Nguyễn và Uông, 2025). Tác động tích cực của kỳ vọng hiệu quả đến ý định CĐS được củng cố bởi Venkatesh và cộng sự (2003, 2012), Dương và Thái (2024). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H1: Kỳ vọng hiệu quả có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Lòng tin và Ý định CĐS
Lòng tin là sự an tâm mang tính chiến lược của nhân sự vào độ an toàn, tính bảo mật và sự ổn định của hệ thống số mới, giúp giảm thiểu rủi ro và triệt tiêu tâm lý phòng vệ (Susanty và cộng sự, 2025). Tại nhà máy thâm dụng kỹ thuật như Continental, sự tin cậy vào hệ thống ERP, IoT hay Cloud sẽ giúp nhân sự vượt qua văn hóa ghi chép thủ công để sẵn sàng số hóa. Mối quan hệ thuận chiều này đã được chứng minh bởi Gefen và cộng sự (2003), Nguyen và Sooksan (2024), Dương và Thái (2024). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H2: Lòng tin có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Hạ tầng công nghệ và Ý định CĐS
Theo khung TOE, hạ tầng là bệ phóng tích hợp giữa phần cứng, phần mềm, mạng kết nối và máy móc đầu cuối (Nguyễn và Uông, 2025; Trịnh và Nguyễn, 2022). Đối với Continental, nhiều thế hệ máy móc cơ khí cũ, hạ tầng mạng và thiết bị đầu cuối đồng bộ sẽ triệt tiêu rào cản kỹ thuật cơ học và giảm thiểu rủi ro gián đoạn sản xuất, tạo lực đẩy kích thích ý định số hóa. Tác động này được khẳng định bởi Hameed và cộng sự (2021), Nguyễn và Bùi (2021), Dương và Thái (2024). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H3: Hạ tầng công nghệ có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Kỳ vọng nỗ lực và Ý định CĐS
Kỳ vọng nỗ lực thể hiện sự dễ sử dụng và khả năng làm chủ công nghệ mới của người lao động (Venkatesh và cộng sự, 2003; Susanty và cộng sự, 2025). Tại Continental, lực lượng công nhân phân xưởng vốn e ngại công nghệ phức tạp; do đó, các hệ thống số (ERP, MES) thiết kế trực quan, dễ thao tác sẽ giúp giải phóng áp lực tinh thần và gia tăng sự sẵn sàng chuyển đổi. Luận điểm này nhận được sự đồng thuận từ Sukendro và cộng sự (2020), Dương và Thái (2024). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H4: Kỳ vọng nỗ lực có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Kỹ năng của người lao động và Ý định CĐS
Kỹ năng của người lao động bao gồm năng lực thực hành kỹ thuật số, khả năng xử lý sự cố và tâm thế thích ứng (Zhang và Xu, 2022), Trong ngành Dệt Sợi thâm dụng lao động như Continental, khi kỹ sư và công nhân sở hữu kỹ năng số tốt, họ sẽ tự tin vận hành các thiết bị phần mềm chuyên dụng mà không bài xích công nghệ. Mối quan hệ thuận chiều này được chứng minh qua các nghiên cứu của Tabrizi và cộng sự (2019), Nguyễn và Bùi (2021). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H5: Kỹ năng của người lao động có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Nhận thức của lãnh đạo và Ý định CĐS
Nhận thức của lãnh đạo thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự am hiểu cơ hội rủi ro và cam kết phân bổ nguồn lực cho chuyển đổi số (Susanty và cộng sự, 2025; Zhang và Xu, 2022). Trong văn hóa quản trị từ trên xuống tại các doanh nghiệp Việt Nam như Continental, khi Ban Giám đốc nhận thức rõ công nghệ là chìa khóa giải quyết điểm nghẽn vận hành, họ sẽ quyết liệt đầu tư và thúc đẩy ý định chuyển đổi toàn hệ thống. Ảnh hưởng tích cực của lãnh đạo đến CĐS được củng cố bởi Kane và cộng sự (2015), Nguyễn và Nguyễn (2022), Dương và Thái (2024). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H6: Nhận thức của lãnh đạo có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Áp lực cạnh tranh và Ý định CĐS
Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ nội địa và khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là mệnh lệnh tồn tại, buộc doanh nghiệp phải số hóa nhằm tối ưu chi phí, nâng cao chất lượng và bảo vệ thị phần (Zhang và Xu, 2022; Nguyễn và Uông, 2025). Tác động của áp lực cạnh tranh đến CĐS được củng cố bởi Oliveira và Martins (2011), Nguyễn và Bùi (2021). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H7: Áp lực cạnh tranh có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Sự hỗ trợ của chính phủ và Ý định CĐS
Sự hỗ trợ của Chính phủ bao gồm: chính sách, thể chế, ưu đãi tài chính, thuế và hạ tầng đóng vai trò là bệ đỡ an toàn vĩ mô giúp giảm gánh nặng chi phí và rủi ro pháp lý ban đầu (Zhang và Xu, 2022; Nguyễn và Uông (2025). Thể chế minh bạch và chính sách thiết thực sẽ củng cố niềm tin chiến lược và kích thích ý định CĐS (Gibbs và Kraemer, 2004; Dương và Thái (2024). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H8: Sự hỗ trợ của chính phủ có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Áp lực lên doanh nghiệp và Ý định CĐS
Áp lực lên doanh nghiệp là thế “gọng kìm” kết hợp từ đối thủ cạnh tranh và yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu tiêu chuẩn xanh từ chuỗi giá trị toàn cầu (Nguyễn và Uông, 2025). Đây là chất xúc tác chiến lược giúp Continental bẻ gãy tính trì trệ nội bộ, biến áp lực ngoại cảnh thành quyết tâm CĐS (Zhang và Xu, 2022; Susanty và cộng sự, 2025). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H9: Áp lực lên doanh nghiệp có tác động tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các giả thuyết, nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental như Hình. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 9 biến độc lập thuộc 3 nhóm (Công nghệ: H1-H3; Tổ chức: H4-H6; Môi trường: H7-H9) và 1 biến phụ thuộc (Ý định CĐS - Y), với 43 biến quan sát.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng kết hợp phương pháp định tính (thảo luận chuyên gia, hiệu chỉnh thang đo) và định lượng. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi cấu trúc với cỡ mẫu thực tế N = 399 người lao động, kỹ sư và cán bộ quản lý tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental. Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS thông qua các bước: kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định mức độ tác động của các nhân tố.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả kiểm định thang đo và hồi quy
Kết quả thống kê mô tả cho thấy, dữ liệu đạt chuẩn: giá trị dao động từ 1,00-5,00 và độ lệch chuẩn nằm trong khoảng 0,69-0,80 (< 1,00), đảm bảo tính phù hợp cho các phân tích tiếp theo.
Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho thấy toàn bộ biến quan sát đều đạt hệ số tương quan biến - tổng ≥ 0,30 và hệ số Cronbach’s Alpha > 0,60, đảm bảo tính nhất quán để đưa vào phân tích EFA.
Kiểm định độ thích hợp dữ liệu cho thấy hệ số KMO = 0,950 > 0,50, phản ánh dung lượng mẫu N = 399 là hoàn toàn thích hợp với phân tích nhân tố. Kiểm định Bartlett có giá trị = 10542,563 với mức ý nghĩa Sig. = 0,000 < 0,05 chứng tỏ giữa các biến quan sát có mối tương quan thuộc tính cao, đủ điều kiện để thực hiện EFA.
Kết quả thực hiện EFA: Sau khi loại biến Áp lực cạnh tranh (ALCT - X9), ma trận xoay trích xuất được 8 nhân tố với tổng phương sai trích đạt 74,544% (> 50%). Trong đó 6 nhân tố đầu đạt tiêu chuẩn Kaiser (1960) với Eigenvaluege = 1,093 > 1,0; nhân tố Kỳ vọng nỗ lực (KVNL - X7) với Eigenvalue = 0,909 và Kỹ năng người lao động (KNNLD - X8) với Eigenvalue = 0,755) đều < 1,0.
Về mặt lý thuyết truyền thống, quy tắc Kaiser đòi hỏi Eigenvaluege > 1,0. Tuy nhiên, áp dụng tiêu chuẩn Jolliffe (1986,2002) - cho phép giữ lại các nhân tố có Eigenvaluege >= 0,70, việc giữ lại 2 nhân tố này là hoàn toàn có giá trị khoa học và thực tiễn cao vì
giúp đóng góp thêm gần 5% vào tổng phương sai trích tích lũy (đạt mức vượt trội 74,544%), phản ánh tối đa thực trạng doanh nghiệp dệt sợi.
Kết quả ma trận xoay cho thấy các biến thành phần của KVNL (0,597-0,717) và KNNLD (0,562-0,699) đều hội tụ tốt (Factor Loading > 0,50), không có hiện tượng tải chéo, đảm bảo trọn vẹn giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.
Với kích thước mẫu khảo sát N = 399, tất cả các biến quan sát còn lại thuộc 8 nhóm nhân tố đều đạt hệ số tải > 0,50, đáp ứng hoàn hảo tiêu chuẩn của (Hair, 2010), khẳng định các biến quan sát có mối liên kết chặt chẽ với nhân tố đại diện và đảm bảo ý nghĩa thực tiễn cao.
Không có biến quan sát nào vi phạm hiện tượng tải kép hoặc có sự hội tụ chéo giữa các cột. Cấu trúc 8 nhóm nhân tố phân tách hoàn toàn riêng biệt và cô động.
Mô hình điều chỉnh còn 8 nhân tố: HTCN (X1), SHTCCP (X2), KVHQ (X3), NTCLD (X4), ALDN (X5), LT (X6), KVNL (X7), KNNLD (X8).
Phân tích mô hình hồi quy đa biến
Sau khi đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, nghiên cứu kiểm định sự phù hợp của mô hình.
Bảng 1: Kiểm định sự phù hợp của mô hình
| ANOVAa | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Model | Sum of Squares | df | Mean Square | F | Sig. | |
| 1 | Regression | 100,319 | 8 | 12,540 | 82,640 | ,000b |
| Residual | 59,179 | 390 | ,152 |
|
| |
| Total | 159,497 | 398 |
|
|
| |
Nguồn: Nhóm tác giả xử lý số liệu SPSS
Kết quả kiểm định (Bảng 1) cho thấy giá trị F = 82,640 với mức ý nghĩa Sig. = 0,000 < 0,05. Điều này đồng nghĩa với việc bác bỏ giả thuyết H0 và chấp nhận giả thuyết H1, khẳng định mô hình hồi quy tuyến tính bội được xây dựng là hoàn toàn phù hợp với tập dữ liệu thực nghiệm.
Lần thứ nhất sau khi thực hiện chạy SPSS cho mô hình ban đầu, biến X6 (NTCLD) có Sig. = 0,376 > 0,05 (không có ý nghĩa thống kê) nên bị loại bỏ để tiếp tục chạy SPSS lần 2. Tuy nhiên, ở lần thứ 2, sau khi loại X6, kết quả cho thấy, biến X4 (Sig. = 0,174 > 0,10) và X5 (Sig. = 0,639 > 0,10) tiếp tục vi phạm điều kiện ý nghĩa thống kê, nhóm tác giả tiếp tục tiến hành loại bỏ X4 (KVNL) và X5 (KNNLD) để tối ưu hóa mô hình. Trước khi quyết định loại bỏ các nhân tố trên, nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu định tính để đảm bảo tính khách quan chính xác cho mô hình nghiên cứu.
Bảng 2: Kết quả hồi quy
| Mô hình | Hệ số chưa chuẩn hóa | Hệ số chuẩn hóa | t | Sig. | Thống kê cộng tuyến | |||
| B | Std. Error | Beta | Tolerance | VIF | ||||
| 1 | (Constant) | ,248 | ,165 |
| 1,501 | ,134 |
|
|
| X1 | ,094 | ,040 | ,102 | 2,362 | ,019 | ,513 | 1,947 | |
| X2 | ,099 | ,046 | ,100 | 2,164 | ,031 | ,449 | 2,230 | |
| X3 | ,116 | ,044 | ,115 | 2,628 | ,009 | ,494 | 2,023 | |
| X7 | ,245 | ,051 | ,230 | 4,821 | ,000 | ,420 | 2,382 | |
| X8 | ,407 | ,048 | ,392 | 8,402 | ,000 | ,439 | 2,278 | |
Nguồn: Nhóm tác giả xử lý số liệu SPSS
Đánh giá mô hình hồi quy chính thức: Sau khi loại X4, X5, X6, mô hình còn lại 5 biến độc lập đạt kiểm định với độ tin cậy 95%. Cả 5 biến đều có Sig. < 0,05 (X8, X7 có Sig. = 0,000; X3 có Sig. = 0,009; X1 có Sig. = 0,019; X2 có Sig. = 0,031), khẳng định tác động tích cực và có ý nghĩa thực sự lên biến phụ thuộc Y.
Kiểm định đa cộng tuyến: Hệ số VIF dao động từ 1,947-2,382 (< 3,0) và Tolerance > 0,420 (> 0,10), chứng tỏ mô hình không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến.
Căn cứ vào hệ số beta chuẩn hóa, thứ tự tác động từ mạnh nhất đến yếu nhất lần lượt là:
X8 (ALDN) (β = 0,392; t = 8,402; Sig. = 0,000): Tác động mạnh nhất tới biến Y.
X7 (SHTCP) (β = 0,230; t = 4,821; Sig = 0,000): Tác động mạnh thứ hai.
X3 (HTCN) (β = 0,115; t = 2,628; Sig. = 0,009): Tác động ở mức độ trung bình khá.
X1 (KVHQ) (β = 0,102; t = 2,362; Sig. = 0,019): Tác động nhỏ.
X2 (LT) (β = 0,100; t = 2,164; Sig. = 0,031): Tác động yếu nhất trong 5 biến.
Phương trình hồi quy chuẩn hóa được xác lập như sau:
Ý định CĐS = 0,392 X8 + 0,230 X7 + 0,115 X3 + 0,102 X1 + 0,100 X2
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu khẳng định và chấp nhận 5 giả thuyết tương ứng với 5 nhân tố tác tích cực đến Ý định CĐS tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental.
Áp lực lên doanh nghiệp (β = 0,392 xếp vị trí thứ 1, chấp nhận giả thuyết H9). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Zhang và Xu (2022), Susanty và cộng sự (2025). Đối với doanh nghiệp dệt sợi thâm dụng lao động, CĐS không phải là lựa chọn ngẫu hứng mà là áp lực sinh tồn khốc liệt từ chuỗi cung ứng toàn cầu (tiêu chuẩn xanh, liên thông dữ liệu thời gian thực). Nếu không chuyển đổi, Continental đối mặt nguy cơ mất đơn hàng vào tay các đối thủ quốc tế (Ấn Độ, Bangladesh).
Sự hỗ trợ của chính phủ (β = 0,230, xếp vị trí thứ 2, chấp nhận giả thuyết H8): Củng cố các phát hiện từ Gibbs và Kraemer (2004); Dương và Thái (2024), Nguyễn và Uông (2024). Thể chế minh bạch và chính sách thiết thực sẽ củng cố niềm tin chiến lược và kích thích ý định.
Hạ tầng công nghệ (β = 0,115 xếp vị trí thứ 3, chấp nhận giả thuyết H3). Tương đồng với quan điểm của Zhu và Kraemer (2005), Hameed và cộng sự (2021). Tại Continental - nơi sở hữu nhiều thế hệ máy móc cơ khí cũ, việc nâng cấp hạ tầng mạng, thiết bị đầu cuối và phần mềm đồng bộ đóng vai trò là bệ phóng cốt lõi giúp triệt tiêu rào cản kỹ thuật và giảm thiểu rủi ro gián đoạn sản xuất.
Kỳ vọng hiệu quả (β = 0,102 xếp vị trí thứ 4, chấp nhận giả thuyết H1). Phù hợp với các nghiên cứu của Venkatesh và cộng sự (2003, 2012). Khi người lao động và nhà quản lý nhận thức rõ công nghệ số giúp tối ưu chi phí, nâng cao năng suất và giải quyết triệt để các điểm nghẽn ca kíp hay phế phẩm sợi, họ sẽ gia tăng mạnh mẽ ý định ứng dụng.
Lòng tin (β = 0,100, xếp vị trí thứ 5, chấp nhận giả thuyết H2): Xác thực các luận điểm của Gefen và cộng sự (2003), Nguyen và Sooksan (2024). Lòng tin vào độ an toàn dữ liệu (bí quyết phối trộn sợi, chi phí) và tính ổn định của hệ thống số mới (ERP, IoT, Cloud) đóng vai trò là cơ chế giảm thiểu rủi ro tâm lý, giúp nhân sự vượt qua thói quen ghi chép thủ công để sẵn sàng bước vào kỷ nguyên số hóa.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, Ý định chuyển đổi số tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental được định hình chủ yếu bởi 5 nhân tố, trong đó Áp lực lên doanh nghiệp có tác động thuận chiều mạnh nhất, tiếp đến là Sự hỗ trợ của chính phủ, Hạ tầng công nghệ, Kỳ vọng hiệu quả và Lòng tin. Tuy nhiên, vai trò của một số nhân tố như: Áp lực cạnh tranh, Kỳ vọng nỗ lực, Kỹ năng người lao động, Nhận thức của lãnh đạo chưa được kiểm định trong nghiên cứu này do cấu trúc đo lường chưa đạt ngưỡng độ tin cậy và giá trị hội tụ theo yêu cầu. Điều này cho thấy, tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental, quyết định CĐS được định hình chủ yếu bởi sức ép sinh tồn từ thị trường, chuỗi giá trị toàn cầu và hành lang hỗ trợ từ Nhà nước.
Khuyến nghị
Từ các kết quả trên, khuyến nghị đặt ra cho ban lãnh đạo Công ty TNHH Dệt Sợi Continental là cần ưu tiên chủ động ứng phó với các tiêu chuẩn khắt khe từ chuỗi cung ứng quốc tế thông qua việc chuẩn hóa dữ liệu vận hành, áp dụng hệ thống quản lý sản xuất thông minh và đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc cũng như phát triển xanh. Đồng thời, doanh nghiệp cần tích cực khai thác các chương trình hỗ trợ, gói ưu đãi tài chính và tư vấn kỹ thuật từ phía Chính phủ nhằm giảm thiểu rủi ro đầu tư ban đầu và tối ưu hóa chi phí vận hành. Trong khi đó, việc nâng cấp hạ tầng công nghệ và đào tạo lại lực lượng lao động nội bộ nên được xem là điều kiện nền tảng để hiện thực hóa quyết tâm CĐS một cách bền vững hơn là một yếu tố mang tính tự phát.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Mẫu khảo sát mới chỉ được thực hiện điển hình tại Công ty TNHH Dệt Sợi Continental, làm giới hạn khả năng tổng quát hóa các phát hiện nghiên cứu cho toàn ngành Dệt Sợi tại Việt Nam. Ngoài ra, thang đo Áp lực cạnh tranh, Kỳ vọng nỗ lực, Kỹ năng người lao động, Nhận thức của lãnh đạo chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của mô hình đo lường và cần tiếp tục được tinh chỉnh, tái cấu trúc trong các nghiên cứu tương lai. Cuối cùng, nghiên cứu mới dừng lại ở việc xem xét các tác động trực tiếp; do đó, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mô hình bằng cách kiểm định thêm các mối quan hệ trung gian, điều tiết hoặc tích hợp các cấu trúc lý thuyết mới phù hợp với bối cảnh thực tiễn của ngành sản xuất công nghiệp.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Báo cáo thường niên CĐS doanh nghiệp 2023: Thúc đẩy CĐS kép xanh và số. Nxb Thống kê.
3. Dương, M. H., & Thái, H. T. (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định CĐS của các đại lý thuế thuộc Hiệp hội Tư vấn và Đại lý thuế (HTCAA) tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam. International Journal of Management Studies and Social Science Research, 6(1), 1-10. https://doi.org/10.56293/IJMSSSR.2024.4801
4. Gefen, D., Karahanna, E. & Straub, D.W. (2003). Trust and TAM in online shopping: An integrated model. MIS Quarterly, 27(1), 51-90.
5. Gibbs, J. L., Kraemer, K. L. (2004), A cross‐country investigation of the determinants of scope of e‐commerce use: an institutional approach. Electronic markets, 14(2), 124-137.
6. Hair, J. F. (2010). Multivariate Data Analysis (7th ed.). Pearson Prentice Hall.
7. Nguyễn, D. N., & Uông, T. L. (2025). Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định CĐS trong các doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ: Bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam. Tạp chí Quản lý và Kinh tế Quốc tế.
8. Hameed, Z., Naeem, R. M., Hassan, M., Naeem, M., Nazim, M., & Maqbool, A. (2021). How GHRM is related to green creativity? A moderated mediation model of green transformational leadership and green perceived organizational support. International Journal of Manpower, 43(3), 595-613.
9. Kane, G. C., Palmer, D., Phillips, A. N., Kiron, D., & Buckley, N. (2015). Strategy, Not Technology, Drives Digital Transformation. MIT Sloan Management Review and Deloitte University Press, 1-25.
10. Nguyễn, T. M., & Bùi, T. S. (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Kế toán, 221, 60-65.
11. Nguyễn, T. Á., & Nguyễn, T. X. (2022). Các nhân tố ảnh hưởng đến CĐS của doanh nghiệp tại Bình Định. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 306, 45-55.
12. Nguyen, V. N., & Sooksan, K. (2024). Digital leadership, digital culture, and digital capability in relation to digital innovation: A theoretical framework. Journal of Open Innovation: Technology, Market, and Complexity, 10(1), Article 100121. https://doi.org/10.1016/j.joitmc.2023.100121.
13. Oliveira, T. and Martins, M.F. (2011) Literature Review of Information Technology Adoption Models at Firm Level. Electronic Journal of Information Systems Evaluation, 14, 110-121.
14. Sukendro, S., Habibi, A., Khaeruddin, K., Indrayana, B., Syahruddin, S., Makadada, F. A., & Hakim, H. (2020). Using an extended Technology Acceptance Model to understand students’ use of e-learning during Covid-19: Indonesian sport science education context. Heliyon, 6(11), e05410.
15. Susanty, A., Puspitasari, N.B., Siahaan, G. S., Setiawan, S. (2025). Susanty, A., & Handayani, N. U. (2025). Factors influencing the intention of textile and garment SMEs to adopt digital technologies and its impact on performance. Scientific Reports, 15(1), Article 94625. https://doi.org/10.1038/s41598-025-94625-7.
16. Tornatzky, & Fleischer, M. (1990). The Processes of Technological Innovation. Lexington Books.
17. Trịnh, T. A., & Nguyễn, V. A. (2022). Các yếu tố tác động đến sự chấp nhận CĐS của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt, 12(2), 27-52.
18. Tabrizi, B., Lam, E., Girard, K., & Irvin, V. (2019). Digital Transformation Is Not about Technology. Harvard Business Review, 97, 67-73.
19. Venkatesh, V. (2003). User acceptance of information technology: Toward a unified view. MIS Quarterly, 27(4), 425-478. https://doi.org/10.2307/30036540.
20. Zhang, X., & Xu, Y. (2022). Research on successful factors and influencing mechanism of the digital transformation in SMEs. Sustainability, 14(1), Article 2549. https://doi.org/10.3390/su14052549.
| Ngày nhận bài: 28/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/9/2026; Ngày duyệt đăng: 8/10/2026 |
Các tin khác
Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách
Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp
Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng
Ứng dụng Random Forest phân tích tác động trễ của giá năng lượng đến giá carbon tại Hệ thống thương mại phát thải châu Âu và hàm ý cho Việt Nam
Nghiên cứu ý định mua xe máy điện tại TP. Hồ Chí Minh dưới góc độ tiêu dùng xanh
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đồng Nai
