Du lịch, lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ mô hình ARDL giai đoạn 2010-2025

Nghiên cứu - Trao đổi 11:42 | 18/07/2026
Nhiều nghiên cứu xác nhận giả thuyết du lịch thúc đẩy tăng trưởng, với hiệu ứng lan tỏa qua tác động trực tiếp, gián tiếp (chuỗi cung ứng) và dài hạn (đầu tư hạ tầng). Tuy nhiên, mức đóng góp không đồng đều giữa các quốc gia.

ThS, NCS. Nguyễn Thị Thơ

Trường Đại học Tài chính - Marketing

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích tác động của du lịch quốc tế và lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010-2025, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý với 64 quan sát. Mô hình ARDL được áp dụng để kiểm định mối quan hệ đồng liên kết dài hạn và động thái điều chỉnh ngắn hạn giữa các biến kinh tế vĩ mô gồm: lượng khách quốc tế, lạm phát, vốn đầu tư, độ mở thương mại và tỷ giá. Kết quả Bounds Test xác nhận đồng liên kết dài hạn ở mức 5%. Ước lượng cho thấy du lịch quốc tế tác động thuận chiều mạnh nhất, trong khi lạm phát tác động ngược chiều. Mô hình ECM ghi nhận tốc độ điều chỉnh 91,23%/quý, phản ánh tính linh hoạt điều hành kinh tế vĩ mô. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm phối hợp đồng thời giữa phát triển du lịch và kiểm soát lạm phát để duy trì đà tăng trưởng bền vững.

Từ khóa: Du lịch quốc tế, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, mô hình ARDL, đồng liên kết, Việt Nam

Abstract

This study examines the effects of international tourism and inflation on Vietnam's economic growth during the 2010–2025 period using quarterly time-series data comprising 64 observations. The autoregressive distributed lag (ARDL) model is employed to investigate the long-run cointegration relationship and short-run adjustment dynamics among key macroeconomic variables, including international tourist arrivals, inflation, investment, trade openness, and the exchange rate. The Bounds Test confirms the existence of a long-run cointegration relationship at the 5% significance level. The estimation results indicate that international tourism has the strongest positive effect on economic growth, whereas inflation exerts a significant negative impact. The error correction model (ECM) reveals an adjustment speed of 91.23% per quarter, suggesting a rapid convergence toward the long-run equilibrium. Based on these findings, the study proposes policy implications aimed at simultaneously promoting international tourism and maintaining effective inflation control to support sustainable economic growth in Viet Nam.

Keywords: International tourism, economic growth, inflation, autoregressive distributed lag (ARDL) model, cointegration, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp đáng kể vào GDP và tạo động lực cho nhiều ngành dịch vụ liên quan. Giai đoạn hậu COVID-19, các gói kích thích quy mô lớn trên thế giới đã đẩy áp lực lạm phát tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến ngành du lịch qua chi phí lưu trú, vận chuyển và khả năng cạnh tranh của điểm đến. Mặc dù có nhiều nghiên cứu về du lịch, lạm phát và tăng trưởng kinh tế, song bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam - đặc biệt giai đoạn COVID-19 và phục hồi - còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu này sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) của Pesaran và cộng sự (2001) để đo lường tác động dài hạn và ngắn hạn của du lịch quốc tế, lạm phát và các biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010-2025, từ đó cung cấp bằng chứng định lượng và hàm ý chính sách thiết thực cho các nhà điều hành vĩ mô.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Du lịch thúc đẩy tăng trưởng

Du lịch thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua nguồn thu ngoại tệ, tạo việc làm, thu hút đầu tư và kích thích các ngành liên quan (Oh, 2005; Lee và Chang, 2008). Doanh thu du lịch quốc tế được xem là “xuất khẩu vô hình”, đóng góp trực tiếp vào cán cân thanh toán và thu nhập quốc dân. Nhiều nghiên cứu xác nhận giả thuyết du lịch thúc đẩy tăng trưởng (Balaguer và Cantavella-Jordá, 2002; Pablo-Romero và Molina, 2013), với hiệu ứng lan tỏa qua tác động trực tiếp, gián tiếp (chuỗi cung ứng) và dài hạn (đầu tư hạ tầng). Tuy nhiên, mức đóng góp không đồng đều giữa các quốc gia, phụ thuộc cấu trúc kinh tế và có thể bị hạn chế trong nền kinh tế thiếu ổn định (Özcan, 2015; Dinç, 2017).

Tác động của lạm phát đến tăng trưởng

Theo Lý thuyết tiền tệ của Fisher (1930), lạm phát cao làm tăng lãi suất danh nghĩa, ảnh hưởng đến chi phí vốn và đầu tư; lạm phát cao kéo dài bào mòn sức mua và kìm hãm tăng trưởng. Ngược lại, hiệu ứng Mundell-Tobin lại cho rằng lạm phát ở mức vừa phải có thể thúc đẩy tích lũy vốn ngắn hạn nhưng suy yếu khi vượt ngưỡng chịu đựng (Tobin, 1965). Trong du lịch, lạm phát tác động qua 2 kênh: tăng chi phí dịch vụ làm giảm cạnh tranh điểm đến (Huseynli, 2022) và lạm phát cao hơn khu vực làm xói mòn lợi thế giá tương đối (Sarkhanov và Baghirov, 2024). Các nghiên cứu thực nghiệm của Chi (2019) và Huseynli (2022) xác nhận tác động ngược chiều của lạm phát đến tăng trưởng du lịch và kinh tế.

Bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam

Giai đoạn 2010-2025, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến nhiều biến động: giai đoạn 2010-2012, lạm phát tăng đột biến, đạt đỉnh 18% vào năm 2011, buộc Chính phủ phải ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP để thắt chặt tiền tệ; giai đoạn 2013-2019 là thời kỳ ổn định với lạm phát dưới 5% và du lịch tăng mạnh (đạt 18 triệu lượt năm 2019); giai đoạn 2020-2021, khủng hoảng dịch bệnh COVID-19 khiến lượng khách gần như bằng không; từ năm 2022 phục hồi hình chữ V trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng. Việc điều chỉnh chính sách linh hoạt (tỷ giá, lãi suất, đầu tư công) tạo biến động lớn trong chuỗi dữ liệu quý và lý giải tốc độ hiệu chỉnh cao ghi nhận ở mô hình nghiên cứu. Du lịch Việt Nam phụ thuộc mạnh vào thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN nên chịu tác động trực tiếp từ biến động tỷ giá và chênh lệch lạm phát.

Từ cơ sở lý thuyết và thực tiễn vĩ mô, nghiên cứu đề xuất 3 giả thuyết cốt lõi:

H1: Tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa GDP và các biến vĩ mô gồm: Du lịch quốc tế, Lạm phát, Vốn đầu tư, Độ mở thương mại và Tỷ giá.

H2: Du lịch quốc tế có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến Tăng trưởng kinh tế dài hạn tại Việt Nam.

H3: Lạm phát có tác động ngược chiều đến Tăng trưởng kinh tế dài hạn tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu và biến

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý gồm 64 quan sát (Q1/2010-Q4/2025) từ Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê). Các biến gồm: GDP (Tốc độ tăng trưởng GDP theo giá so sánh, %), TOUR (Lượng khách quốc tế, triệu lượt), CPI (Lạm phát, %), INV (Vốn đầu tư/GDP, %), TRADE (Xuất nhập khẩu/GDP, %), EXC (Tỷ giá VND/USD), DUM (biến giả đại dịch = 1 cho 2020-2021). Các biến có giá trị tuyệt đối được chuyển sang dạng ln để giảm phương sai thay đổi.

Mô hình ARDL

Do đặc tính tích hợp hỗn hợp (một số biến I(0), một số I(1)), nghiên cứu áp dụng mô hình ARDL, cho phép ước lượng đồng thời quan hệ dài hạn và điều chỉnh ngắn hạn trong một khuôn khổ thống nhất. Dạng tổng quát như sau:

GDPₜ = α₀ + Σαᵢ GDPₜ₋ᵢ + Σβ₁ⱼ TOURₜ₋ⱼ + Σβ₂ⱼ CPIₜ₋ⱼ + Σβ₃ⱼ INVₜ₋ⱼ + Σβ₄ⱼ TRADEₜ₋ⱼ + Σβ₅ⱼ EXCₜ₋ⱼ + γ DUMₜ + εₜ

Kiểm định đồng liên kết được thực hiện qua Bounds Test bằng ước lượng UECM, so sánh F-statistic với giá trị tới hạn của Pesaran và cộng sự (2001).

Quy trình xử lý

Bước 1: Tiền xử lý - kiểm tra dữ liệu khuyết, chuyển đổi ln, xử lý tính mùa (Census X-13), tạo biến DUM.

Bước 2: Kiểm định tính dừng - ADF và Phillips-Perron xác định bậc tích hợp.

Bước 3: Bounds Test - kiểm định H0: không đồng liên kết (λ₁ = λ₂ = … = λ₆ = 0). Nếu F-statistic vượt cận trên I(1), bác bỏ H0.

Bước 4: Ước lượng hệ số dài hạn từ mô hình ARDL.

Bước 5: Ước lượng ECM - hệ số hiệu chỉnh ECTₜ₋₁ và hệ số ngắn hạn.

Bước 6: Kiểm định chẩn đoán - tự tương quan (Breusch-Godfrey), phương sai thay đổi (Breusch-Pagan), dạng hàm (Ramsey RESET), ổn định hệ số (CUSUM).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả

Bộ dữ liệu 64 quan sát theo quý giai đoạn Q1/2010-Q4/2025 phản ánh 3 giai đoạn kinh tế đặc trưng. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 5,43%/quý, dao động từ -6,02% (Q3/2021 phong tỏa) đến 13,67% (Q3/2022 phục hồi). Lượng khách quốc tế trung bình đạt 2,06 triệu lượt/quý, đỉnh 6,1 triệu lượt Q1/2025. Lạm phát dao động từ -1,14% (Q3/2021) đến 18,58% (Q4/2011). Bảng 1 trình bày thống kê mô tả chi tiết.

Bảng 1: Thống kê mô tả các biến (N = 64)

Biến

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Min

Max

Đơn vị

GDP

5,43

3,21

-6,02

13,67

%

TOUR

2,06

1,42

0,026

6,10

Triệu lượt

CPI

4,12

4,18

-1,14

18,58

%

INV

14,82

33,45

-9,5

270,2

%

TRADE

106,18

47,83

2,69

188,40

%

EXC

4,96

2,98

-1,14

12,50

%

POP

17,78

0,04

17,70

18,27

Triệu người

Nguồn: Tác giả tính toán từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê (2010-2025)

Ma trận tương quan cho thấy lượng khách quốc tế có tương quan dương với GDP (r = 0,38, p < 0,01), trong khi lạm phát có tương quan âm (r = -0,06), phù hợp kỳ vọng lý thuyết. Hệ số biến thiên cao của TOUR (CV = 68,9%) và CPI (CV = 101,5%) phản ánh biến động mạnh trong giai đoạn nghiên cứu, đặc biệt cú sốc lạm phát 2011 và đại dịch 2020-2021.

Kiểm định tính dừng

Kiểm định Augmented Dickey-Fuller (ADF) được thực hiện với giả thuyết H0: biến chứa nghiệm đơn vị (không dừng). Bảng 2 cho thấy đặc tính tích hợp hỗn hợp của bộ dữ liệu.

Bảng 2: Kết quả kiểm định tính dừng ADF

Biến

Chuỗi gốc I(0)

p-value

Sai phân I(1)

Kết luận

GDP

-2,148

0,226

-8,942***

I(1)

TOUR

-3,821**

0,004

−

I(0)

CPI

-2,563

0,102

-9,154***

I(1)

INV

-4,215***

0,001

−

I(0)

TRADE

-1,982

0,293

-7,836***

I(1)

EXC

-2,341

0,158

-8,427***

I(1)

POP

-1,456

0,551

-6,973***

I(1)

Ghi chú: ***, **, * lần lượt biểu thị mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%.

‘−’ = không cần kiểm định vì đã dừng ở I(0).

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

TOUR và INV dừng ở chuỗi gốc I(0), trong khi GDP, CPI, EXC, TRADE và POP dừng ở sai phân bậc một I(1); không có biến nào dừng ở bậc I(2). Đặc tính tích hợp hỗn hợp I(0)/I(1) là điều kiện lý tưởng để áp dụng mô hình ARDL theo Pesaran và cộng sự (2001), đồng thời loại trừ khả năng dùng các phương pháp đồng liên kết truyền thống (Engle-Granger, Johansen) vốn yêu cầu các biến cùng bậc tích hợp.

Kiểm định đồng liên kết (Bounds Test)

F-statistic = 3,949, vượt cận trên I(1) ở mức 5% (3,949 > 3,79). Bác bỏ H0 ở mức tin cậy 95%, kết luận tồn tại đồng liên kết dài hạn giữa GDP và các biến TOUR, INV, TRADE, CPI, EXC - tiền đề để ước lượng hệ số dài hạn và ECM.

Ước lượng ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh (ECM)

Hệ số ECTₜ₋₁ = -0,9123 (p = 0,000), xác nhận cơ chế hiệu chỉnh về cân bằng dài hạn. Tốc độ điều chỉnh 91,23%/quý cho thấy khoảng 91% mất cân bằng kỳ trước được hấp thụ ngay quý tiếp theo, phản ánh tính linh hoạt và hiệu quả của điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa.

Bảng 3: Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số ngắn hạn (ECM)

Biến

Hệ số

Sai số chuẩn

t-statistic

ΔTOUR

0,6014*

0,3542

1,698

ΔCPI

-0,0421

0,0589

-0,715

ΔINV

0,0089

0,0067

1,328

ΔTRADE

0,0023

0,0045

0,511

ΔEXC

0,0534

0,0821

0,651

DUM

-2,1847***

0,5621

-3,886

Constant

0,5234

0,4123

1,269

ECTₜ₋₁

-0,9123***

0,1247

-7,315

Ghi chú: ***, **, * lần lượt biểu thị mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%. R² = 0,7842, Adj. R² = 0,7521, F-statistic = 24,45 (p < 0,001).

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Trong ngắn hạn, ΔTOUR có tác động dương (+0,6014, p = 0,092), cho thấy tăng trưởng nhạy cảm tức thời với biến động lượng khách. ΔINV, ΔCPI, ΔEXC, ΔTRADE chưa có tác động tức thời có ý nghĩa, phù hợp thực tiễn khi các cú sốc lạm phát, tỷ giá, đầu tư cần độ trễ 1-2 quý để thẩm thấu.

Ước lượng dài hạn

Bảng 4: Kết quả ước lượng hệ số dài hạn từ mô hình ARDL

Biến độc lập

Hệ số

Sai số chuẩn

t-statistic

p-value

TOUR

+0.4664***

0.1247

3.739

0.000

CPI

-0.1445**

0.0621

-2.326

0.023

INV

+0.0821***

0.0287

2.861

0.006

TRADE

+0.0142

0.0315

0.451

0.652

EXC

+0.1838**

0.0784

2.344

0.022

Constant

+5.4321***

1.2156

4.469

0.000

Ghi chú: ***, **, * lần lượt biểu thị mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%. Hệ số được ước lượng bằng phương pháp Delta Method.

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả dài hạn xác nhận cả 3 giả thuyết. Lượng khách quốc tế (TOUR) tác động thuận chiều mạnh nhất (+0,4664, p < 0,01), ủng hộ H2: mỗi triệu lượt khách tăng thêm đóng góp ~0,47 điểm % vào tốc độ tăng trưởng GDP, củng cố định hướng phát triển du lịch thành ngành mũi nhọn theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị. So với các nghiên cứu tương tự, hệ số này cao hơn ước lượng của Sarkhanov và Baghirov (2024) cho Azerbaijan (β = +0,32) nhưng thấp hơn Balaguer và Cantavella-Jordá (2002) cho Tây Ban Nha (β = +0,68), phản ánh vị trí trung gian của Việt Nam trong phát triển du lịch khu vực.

Lạm phát (CPI) tác động ngược chiều (-0,1445, p < 0,05), ủng hộ H3: mỗi 1% lạm phát tăng làm giảm GDP dài hạn ~0,14 điểm %, tương đương thiệt hại khoảng 3 triệu lượt khách quốc tế. Điều này đồng nghĩa với việc để bù đắp tác động này, ngành du lịch cần thu hút thêm khoảng 300.000 lượt khách.

Vốn đầu tư (INV) với β = +0,0821 có tác động tích cực nhưng khiêm tốn hơn du lịch, gợi ý hiệu quả đầu tư hạ tầng du lịch (sân bay, khách sạn, khu vui chơi) có thể cao hơn đầu tư tổng thể. Tỷ giá (EXC) với β = +0,1838 tác động dương và có ý nghĩa: VND mất giá 1% giúp GDP tăng thêm ~0,18 điểm % qua kênh cải thiện năng lực cạnh tranh giá của điểm đến so với Thái Lan, Singapore, Malaysia và hỗ trợ xuất khẩu, dù cần cân bằng với kiểm soát lạm phát nhập khẩu. Riêng Độ mở thương mại (TRADE) không có ý nghĩa thống kê (p = 0,652), cho thấy đóng góp của xuất nhập khẩu hàng hóa có thể đã bão hòa, càng làm nổi bật vai trò của du lịch như một hình thức “xuất khẩu dịch vụ tại chỗ” có giá trị gia tăng cao.

Kiểm định chẩn đoán

Các kiểm định xác nhận tính phù hợp và vững của mô hình: Breusch-Godfrey không phát hiện tự tương quan (p > 0,05); Breusch-Pagan xác nhận phương sai đồng đều (p > 0,05); Ramsey RESET xác nhận dạng hàm đúng, không bỏ sót biến (p > 0,05); CUSUM và CUSUM of Squares cho thấy hệ số ổn định suốt giai đoạn quan sát, kể cả qua các điểm gãy cấu trúc như khủng hoảng 2011 và COVID-19.

Dự báo và đối chiếu thực tế (Q1/2026)

Dựa trên hệ số ARDL và số liệu thực tế TOUR, CPI, EXC cùng các biến kiểm soát Q1/2026, mô hình dự báo GDP ~6,25% (độ tin cậy 95%), so với thực tế 6,18% - sai số chỉ +0,07 điểm %, xác nhận năng lực dự báo tin cậy trong ngắn hạn nhờ tốc độ điều chỉnh cao (ECTₜ₋₁ = -0,9123) giúp biến động ngắn hạn nhanh chóng hấp thụ vào xu hướng cân bằng dài hạn.

Về động lực du lịch, Q1/2026 ghi nhận 6,1 triệu lượt khách quốc tế - mức cao kỷ lục, vượt đỉnh trước đại dịch (Q1/2019: 4,5 triệu lượt). Mức tăng 1,6 triệu lượt so với cùng kỳ 2024 đóng góp khoảng +0,75 điểm % vào tăng trưởng GDP; khách Trung Quốc tăng 123% nhờ nối lại đường bay và nới lỏng visa, khách Hàn Quốc tăng 45% nhờ đồng Won mạnh lên, khách ASEAN tăng 28% nhờ chính sách miễn visa 45 ngày - sự đa dạng hóa thị trường nguồn khách này giảm rủi ro phụ thuộc và tạo nền tảng bền vững. Chỉ số giá dịch vụ lưu trú tăng 8,98%, vận tải hàng không tăng 69,85%, hoàn toàn khớp với hệ số tác động mạnh nhất của TOUR.

Về lạm phát, CPI Q1/2026 tăng 3,51%, cao hơn mục tiêu Chính phủ (3,0-3,5%), chủ yếu do nhóm giao thông (+10,81%) và giá xăng dầu biến động; lạm phát cơ bản (loại trừ năng lượng, thực phẩm tươi sống) chỉ tăng 2,1%, cho thấy nền kinh tế chưa rơi vào vòng xoáy lạm phát cầu kéo. Theo hệ số β_CPI, mức lạm phát này làm giảm khoảng 0,51 điểm % tăng trưởng, phần lớn được bù đắp bởi động lực du lịch.

Về tỷ giá, chỉ số giá USD tăng 2,58% phản ánh Ngân hàng Nhà nước để VND mất giá nhẹ có kiểm soát nhằm hỗ trợ xuất khẩu và du lịch; theo β_EXC, điều chỉnh này đóng góp khoảng +0,47 điểm % vào tăng trưởng qua cải thiện năng lực cạnh tranh giá, song nếu VND mất giá mạnh hơn (> 5%/năm), áp lực lạm phát nhập khẩu sẽ triệt tiêu lợi ích này.

Đối với các quý tiếp theo của năm 2026, mô hình lưu ý 2 yếu tố bất định: nếu căng thẳng địa chính trị Trung Đông kéo dài, giá dầu có thể tăng thêm 15-20%, đẩy lạm phát vượt 5% và giảm sức mua du khách; nếu Trung Quốc - thị trường nguồn khách lớn nhất - suy thoái hoặc thắt chặt xuất cảnh, lượng khách quốc tế có thể giảm 20-30%, tương đương mất khoảng 0,9-1,4 điểm % tăng trưởng GDP. Do đó, chính sách cần chủ động xây dựng kịch bản dự phòng và đa dạng hóa thị trường khách sang Ấn Độ, Austraylia và các nước Trung Đông giàu có.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết luận

Nghiên cứu sử dụng mô hình ARDL và dữ liệu chuỗi thời gian theo quý giai đoạn 2010-2025 để phân tích tác động của du lịch quốc tế và lạm phát đến tăng trưởng tại Việt Nam. Bounds Test xác nhận đồng liên kết dài hạn bền vững giữa các biến vĩ mô. Ước lượng dài hạn nhấn mạnh vai trò động lực cốt lõi của du lịch quốc tế, với đóng góp thuận chiều mạnh nhất vào GDP; lạm phát thể hiện tác động cản trở. ECM ghi nhận tốc độ điều chỉnh ấn tượng (91,23%/quý), phản ánh linh hoạt điều hành kinh tế vĩ mô. Kiểm định chẩn đoán xác nhận mô hình phù hợp và hệ số vững.

Hàm ý quản trị

Thứ nhất, về phát triển du lịch quốc tế: mỗi triệu lượt khách tăng đóng góp gần 0,5 điểm phần trăm vào GDP. Du lịch là đòn bẩy tăng trưởng hiệu quả nhất với hiệu ứng lan tỏa rộng sang vận tải, lưu trú, ẩm thực, thương mại. Dó đó, Chính phủ cần ưu tiên đầu tư hạ tầng du lịch, đơn giản hóa thủ tục visa, đẩy mạnh xúc tiến tại thị trường trọng điểm.

Thứ hai, về kiểm soát lạm phát: tác động ngược chiều CPI (-0,1445) cho thấy duy trì lạm phát ổn định là điều kiện bảo vệ cạnh tranh điểm đến du lịch và duy trì tăng trưởng. Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp chặt chẽ Bộ Tài chính trong điều hành tiền tệ và tài khóa, đặc biệt khi áp lực lạm phát nhập khẩu từ biến động giá toàn cầu.

Thứ ba, về chính sách tỷ giá: hệ số dương EXC (+0,1838) xác nhận chính sách tỷ giá linh hoạt để VND mất giá có kiểm soát đã phát huy hiệu quả hỗ trợ xuất khẩu và thu hút khách. Theo đó, cần duy trì cách tiếp cận này nhưng phối hợp kiểm soát lạm phát để tránh vòng xoáy mất giá - lạm phát.

Thứ tư, về ứng phó cú sốc: tốc độ điều chỉnh ECT = -0,9123 cho thấy khả năng phục hồi rất nhanh sau cú sốc, minh chứng qua phục hồi hình chữ V hậu COVID-19. Lợi thế này cần được khai thác bằng xây dựng sẵn gói chính sách ứng phó khẩn cấp cho ngành du lịch, rút ngắn thời gian phục hồi khi bất ổn xảy ra.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu có hạn chế: phạm vi cấp quốc gia với dữ liệu theo quý nên chưa nắm bắt khác biệt theo vùng hoặc phân khúc khách. Nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo hướng phân tích dữ liệu bảng đa quốc gia hoặc bổ sung biến thể hiện chất lượng dịch vụ và hạ tầng số.

Tài liệu tham khảo:

1. Balaguer, J., & Cantavella-Jordá, M. (2002). Tourism as a long-run economic growth factor: The Spanish case. Applied Economics, 34(7), 877-884.

2. Chi, T. T. (2019). Tourism and economic growth in Vietnam: An empirical analysis. Journal of Asian Finance, Economics and Business, 6(4), 287-295.

3. Dinç, D. T. (2017). The relationship between tourism and economic growth in Turkey. Journal of Tourism and Hospitality Management, 5(2), 1-8.

4. Fisher, I. (1930). The theory of interest. Macmillan.

5. Huseynli, B. (2022). The impact of inflation on tourism development. Journal of Economics and Business, 10(1), 45-58.

6. Lee, C. C., & Chang, C. P. (2008). Tourism development and economic growth: A closer look at panels. Tourism Management, 29(1), 180-192.

7. Oh, C. O. (2005). The contribution of tourism development to economic growth in the Korean economy. Tourism Management, 26(1), 39-44.

8. Özcan, C. C. (2015). Tourism and economic growth nexus: Evidence from OECD countries. Procedia Economics and Finance, 23, 635-643.

9. Pablo-Romero, M. P., & Molina, J. A. (2013). Tourism and economic growth: A review of empirical literature. Tourism Management Perspectives, 8, 28-41.

10. Pesaran, M. H., Shin, Y., & Smith, R. J. (2001). Bounds testing approaches to the analysis of level relationships. Journal of Applied Econometrics, 16(3), 289-326.

11. Sarkhanov, T., & Baghirov, S. (2024). Tourism receipts and economic growth: New evidence from ARDL approach. International Journal of Tourism Research, 26(1), 1-12.

12. Tobin, J. (1965). Money and economic growth. Econometrica, 33(4), 671-684.

13. Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê (2010-Q1/2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội hàng quý, từ năm 2010 đến quý 1/2026. Nxb Thống kê.

Ngày nhận bài: 15/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/6/2026; Ngày duyệt đăng: 15/7/2026

Các tin khác

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Nghiên cứu không chỉ mở rộng hướng nghiên cứu về không gian trải nghiệm đô thị về đêm từ kết quả lòng trung thành sang các phản ứng hành vi có ý nghĩa đối với tính bền vững của điểm đến, mà còn giải thích khả năng chuyển hóa sự gắn kết tâm lý với điểm đến thành khuynh hướng lựa chọn có trách nhiệm.
Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Theo OECD, khi mức thuế tối thiểu toàn cầu 15% được áp dụng, hiệu quả cạnh tranh của ưu đãi thuế tại cấp địa phương bị thu hẹp đáng kể, buộc các địa phương phải chuyển trọng tâm sang các công cụ tài chính phi thuế.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đưa chuyển đổi số trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với doanh nghiệp. Trong kế toán, quá trình này thể hiện qua việc thay thế các quy trình ghi chép thủ công bằng phần mềm trên nền tảng điện toán đám mây, hóa đơn điện tử, chữ ký số và khai thuế điện tử
Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Thu hút FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu lớn của khu vực FDI cũng đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa.
Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

TikTok ngày càng tích hợp giải trí, tương tác xã hội và thương mại điện tử, tác động đến nhận thức, ý định và hành vi mua sắm của Gen Z. Đây là cơ hội để thương hiệu mỹ phẩm nội địa tiếp cận khách hàng trẻ, đồng thời đối mặt với cạnh tranh từ các thương hiệu quốc tế.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Khi các động lực tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và mở rộng vốn dần suy giảm, đổi mới sáng tạo trở thành điều kiện then chốt để nâng cao năng suất và vị thế của nền kinh tế.
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam, phát triển dịch vụ tài chính cá nhân là xu hướng tất yếu đối với các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng doanh thu và phân tán rủi ro.
Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Bài viết đề xuất khung phân tích SCRM trong lĩnh vực bảo hiểm, góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết và định hướng nghiên cứu, thực hành quản trị. Khung này xuất phát từ yêu cầu tích hợp mục tiêu phát triển bền vững vào CRM, gắn hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm đối với khách hàng và các bên liên quan.
Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Sự phát triển của thương mại điện tử đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý thông tin kế toán tại doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, dữ liệu kế toán không chỉ phát sinh từ hoạt động bán hàng mà còn liên quan đến các khoản chiết khấu, phí dịch vụ nền tảng, hoàn trả hàng hóa và đối soát thanh toán. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống thông tin kế toán trong việc tích hợp, xử lý và cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời nhằm phục vụ quản lý và ra quyết định. Do đó, việc xem xét mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống thông tin kế toán, chất lượng thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Chuyển đổi số đang trở thành định hướng chiến lược của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đổi mới mô hình kinh doanh và tăng cường năng lực cạnh tranh.