Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Nghiên cứu - Trao đổi 21:17 | 28/10/2026
Theo OECD, khi mức thuế tối thiểu toàn cầu 15% được áp dụng, hiệu quả cạnh tranh của ưu đãi thuế tại cấp địa phương bị thu hẹp đáng kể, buộc các địa phương phải chuyển trọng tâm sang các công cụ tài chính phi thuế.

ThS. Hà Thị Phương Mai

Học viện Tài chính

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Hà Nội giai đoạn 2021-2025 và 3 nhóm giải pháp tài chính phi thuế cốt lõi: (i) đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật các khu công nghiệp; (ii) xây dựng trung tâm dịch vụ đầu tư một cửa với công nghệ số hóa thủ tục hành chính; (iii) chi đào tạo lao động và xúc tiến đầu tư chuyên sâu tại các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc. Lấy khung OLI và Lý thuyết chi phí giao dịch làm nền tảng phân tích, nghiên cứu luận giải rằng: hiệu lực thu hút FDI của Hà Nội không đến từ ưu đãi tài chính đơn lẻ, mà từ sự phối hợp đồng bộ giữa đầu tư công vào hạ tầng, dịch vụ hành chính số hóa và xúc tiến có chọn lọc theo chuỗi giá trị. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng và tính bền vững của dòng vốn FDI vào Thủ đô trong giai đoạn 2026-2030.

Từ khóa: Giải pháp tài chính phi thuế, FDI, Hà Nội, đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, số hóa thủ tục hành chính

Abstract

This study analyzes the current state of foreign direct investment (FDI) attraction in Ha Noi during the 2021-2025 period and examines three core non-tax financial policy measures: (i) investment in the development of economic and technical infrastructure in industrial parks; (ii) establishment of a one-stop investment service center using digital technologies to streamline administrative procedures; and (iii) expenditure on workforce training and targeted investment promotion in the Japanese and South Korean markets. Drawing on the OLI framework and transaction cost theory, the study argues that Ha Noi’s effectiveness in attracting FDI does not stem from isolated financial incentives, but rather from coordinated efforts involving public investment in infrastructure, digitized administrative services, and selective investment promotion aligned with value chains. On this basis, the study proposes several policy implications to improve the quality and sustainability of FDI inflows into the capital during the 2026-2030 period.

Keywords: Non-tax financial measures, FDI, Ha Noi, industrial park infrastructure investment, administrative procedure digitalization

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo OECD (2024), khi mức thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) 15% được áp dụng, hiệu quả cạnh tranh của ưu đãi thuế tại cấp địa phương bị thu hẹp đáng kể, buộc các địa phương phải chuyển trọng tâm sang các công cụ tài chính phi thuế. Trong bối cảnh đó Luật Thủ đô 2024 và Nghị quyết 17/2025/NQ-HĐND về thu hút nhà đầu tư chiến lược đã tạo khung pháp lý mới, mở rộng thẩm quyền tài chính địa phương, tạo dư địa để Thành phố chủ động thiết kế các công cụ hỗ trợ phi thuế phù hợp với đặc thù và mục tiêu phát triển của Thủ đô (Quốc hội, 2024; HDND TP. Hà Nội, 2025). Nghiên cứu phân tích thực trạng thu hút FDI và các giải pháp tài chính phi thuế đang được Hà Nội triển khai giai đoạn 2021-2025, đánh giá kết quả và hạn chế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho giai đoạn 2026-2030.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Theo Khung OLI của Dunning (1993, 2000), lợi thế địa điểm xác định tại sao dòng vốn FDI lại chọn một địa bàn cụ thể. Lợi thế địa điểm không chỉ có ưu đãi thuế mà còn bao gồm chất lượng hạ tầng, chi phí logistics, nguồn nhân lực, chất lượng thể chế và khả năng tiếp cận thị trường. Theo đó, chi phí đầu tư hiệu dụng, tổng hợp chi phí tài chính, chi phí giao dịch, chi phí tuân thủ và rủi ro thể chế mới là thước đo quyết định sức hấp dẫn của địa điểm đầu tư. Williamson (1985) nhấn mạnh, chi phí giao dịch bao gồm chi phí tìm kiếm thông tin, thương lượng, thực thi hợp đồng và tuân thủ quy định là yếu tố quan trọng trong lựa chọn địa điểm đầu tư của các doanh nghiệp đa quốc gia.

OECD (2022) bổ sung khái niệm “chất lượng FDI” - dòng vốn tạo lan tỏa công nghệ, liên kết doanh nghiệp nội địa và nâng cao giá trị gia tăng. Điều này đòi hỏi chính sách thu hút FDI phải vượt ra khỏi mô hình ưu đãi thuế đơn thuần, hướng tới hệ sinh thái đầu tư toàn diện bao gồm hạ tầng, nhân lực, dịch vụ hỗ trợ và phối hợp thể chế. Đây là khung phân tích chủ đạo của nghiên cứu khi đánh giá các giải pháp tài chính phi thuế của Hà Nội.

THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2021-2025

Giai đoạn 2021-2025, Hà Nội là một trong những điểm đến FDI hàng đầu cả nước, với những bước tiến vượt bậc cả về quy mô vốn, cơ cấu ngành và chất lượng dòng vốn (Bảng 1). Trong đó, 2025 là năm đột phá kỷ lục khi Hà Nội thu hút 4.365 triệu USD vốn FDI đăng ký, tăng 260,1% so với năm 2024, đưa Thành phố vào nhóm địa phương dẫn đầu cả nước. Trong cùng giai đoạn, vốn FDI thực hiện tăng ổn định và liên tục: từ 1.207 triệu USD năm 2021 lên 1.545 triệu USD năm 2025, tăng 27,8% toàn giai đoạn. Điều này cho thấy khả năng hấp thụ và triển khai vốn ngày càng được cải thiện.

Bảng 1: Tình hình thu hút vốn FDI tại Hà Nội giai đoạn 2021-2025

Năm

Vốn FDI đăng ký (triệu USD)

Tốc độ tăng đăng ký (%)

Vốn FDI thực hiện (triệu USD)

Tỷ trọng FDI/GRDP (%)

2021

1.457

-59,7

1.207

3,23

2022

1.692

+16,1

1.308

3,32

2023

2.943

+73,9

1.365

5,82

2024

2.162

-26,5

1.410

3,79

2025

4.365

+101,9

1.545

7,01

Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội các năm; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Hà Nội các năm

Bảng 1 cũng cho thấy, tỷ trọng FDI/GRDP tăng từ 3,23% (2021) lên 7,01% (2025) phản ánh đóng góp ngày càng tăng của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế Thủ đô. Đặc biệt, tỷ lệ vốn điều chỉnh chiếm tới 69,2% tổng vốn FDI cả giai đoạn. Đây là bằng chứng rõ ràng về niềm tin và cam kết dài hạn của nhà đầu tư đang hoạt động tại Hà Nội.

Lũy kế đến 31/3/2026, Hà Nội thu hút vốn FDI từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ba đối tác dẫn đầu là: Nhật Bản với 1.604 dự án còn hiệu lực và 11.486,8 triệu USD vốn đăng ký; Singapore với 10.146,5 triệu USD; và Hàn Quốc dẫn đầu về mật độ dự án với 2.715 dự án và 7.848,5 triệu USD (Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Tài chính, 2026). Đây là 3 thị trường mà Hà Nội đã triển khai xúc tiến đầu tư chuyên sâu liên tục trong giai đoạn nghiên cứu, thể hiện mối quan hệ nhân quả tích cực giữa chính sách xúc tiến và kết quả thu hút vốn.

Về cơ cấu ngành, FDI vào Hà Nội phân bổ đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt tỷ trọng cao nhất trong một số năm (40,75% năm 2023). Kinh doanh bất động sản, dịch vụ chất lượng cao, công nghệ thông tin và truyền thông, tài chính - ngân hàng là các ngành thu hút dòng vốn ngày càng lớn, phù hợp với định hướng Hà Nội là đô thị dịch vụ - công nghệ. Đặc biệt, tỷ lệ doanh nghiệp FDI nhận hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo đạt 10,22%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân cả nước (5,61%), TP. Hồ Chí Minh (6,10%) và Bắc Ninh (2,33%) (VCCI 2025).

THỰC TRẠNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHI THUẾ THU HÚT FDI VÀO HÀ NỘI

Đầu tư hạ tầng khu công nghiệp

Đầu tư công vào hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp (KCN) vận hành theo cơ chế “trợ cấp chi phí giao dịch”: khi Nhà nước đầu tư đường giao thông kết nối, cấp điện - nước, xử lý nước thải và hạ tầng số đến chân hàng rào KCN, chi phí vốn cố định ban đầu (CAPEX) và chi phí vận hành (OPEX) của doanh nghiệp FDI giảm đáng kể, đồng thời rủi ro hạ tầng được chia sẻ với khu vực công. Cơ chế này tác động lên FDI qua 3 kênh: (i) giảm CAPEX khi nhà đầu tư không phải tự đầu tư hạ tầng cơ bản; (ii) giảm OPEX nhờ hệ thống điện - nước - xử lý nước thải ổn định, đồng bộ; (iii) giảm rủi ro triển khai khi các hạng mục then chốt do Nhà nước đầu tư và bảo trì.

Hà Nội hiện có các KCN chủ lực với tỷ lệ lấp đầy từ 95-100%: Thăng Long (tổng vốn đầu tư hạ tầng 2.258,25 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy 99,8%), Sài Đồng B (120 tỷ đồng, 100%), Thạch Thất - Quốc Oai (504 tỷ đồng, 100%), Quang Minh (658,1 tỷ đồng, 100%). Khu Công nghệ cao Hòa Lạc với tổng đầu tư hạ tầng 115.500 tỷ đồng hiện có tỷ lệ lấp đầy gần 40%. Kết quả này phản ánh định hướng chọn lọc FDI công nghệ cao với tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường nghiêm ngặt, không phải tối đa hóa diện tích cho thuê.

Bảng 2: Vốn đầu tư hạ tầng và kết quả khai thác các KCN và KCNC tại Hà Nội

Khu công nghiệp/KCNC

Tổng vốn đầu tư hạ tầng (tỷ đồng)

Tỷ lệ lấp đầy (%)

Doanh thu Q1/2026 (tỷ đồng)

KCN Thăng Long

2.258,25

99,8

27.431,25

KCN Sài Đồng B

120,00

100

7.925,00

KCN Nội Bài

826,25

95

5.793,75

KCN Nam Thăng Long

61,00

100

1.250,00

KCN Thạch Thất - Quốc Oai

504,00

100

11.681,25

KCN Quang Minh

658,10

100

10.987,50

Khu CNC Hòa Lạc

115.500,00

~40

7.075,00

Nguồn: Ban Quản lý các KCN và Khu công nghệ cao Hà Nội, 2026

Ở những KCN đã lấp đầy gần như hoàn toàn như Thăng Long, Quang Minh, Thạch Thất - Quốc Oai, doanh thu Q1/2026 rất cao cho thấy vốn đầu tư hạ tầng công đã được chuyển hóa hiệu quả thành năng lực sản xuất thực tế. So sánh chi phí hạ tầng trong và ngoài KCN cho thấy lợi thế rõ rệt: giá thuê đất KCN (100 - 250 USD/m²/chu kỳ 50 năm) kèm phí quản lý hạ tầng 0,35-0,50 USD/m²/năm ổn định và có tính dự báo cao; trong khi bên ngoài KCN, nhà đầu tư phải tự chịu toàn bộ chi phí giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng với rủi ro cao và độ bất định lớn.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế về tiến độ giải ngân vốn đầu tư công cho hạ tầng KCN nhiều năm chưa đạt kế hoạch, dẫn đến một số hạng mục kết nối giao thông, nhà ở công nhân và xử lý môi trường chưa được hoàn thiện đồng bộ. Quỹ đất công nghiệp sạch ngày càng thu hẹp, buộc Hà Nội phải hướng chiến lược sang nâng cấp chất lượng hạ tầng hiện có thay vì mở rộng diện tích.

Xây dựng Trung tâm dịch vụ đầu tư 1 cửa với công nghệ số hóa

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, chi phí gia nhập thị trường không chỉ bao gồm các khoản chi hữu hình như thuê đất, thuế, phí xây dựng, mà còn cả hệ thống chi phí vô hình: chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí đàm phán, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, chi phí bất định pháp lý và chi phí thời gian. Việc Hà Nội sử dụng ngân sách để đầu tư hạ tầng số và vận hành Trung tâm Phục vụ hành chính công chính là giải pháp tài chính phi thuế trực tiếp tác động vào các loại chi phí vô hình này.

Năm 2025, dự toán chi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt 914,9 tỷ đồng (1,4% tổng chi ngân sách Thành phố); ước thực hiện 536,2 tỷ đồng, mức giải ngân 86,7%, cao nhất nhiều năm gần đây. Giai đoạn 2026-2030, Hà Nội định hướng chi 4% tổng chi ngân sách (khoảng 9.000 tỷ đồng/năm) cho lĩnh vực này, trong đó hơn 5.500 tỷ đồng là đầu tư công cho hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và nền tảng dùng chung.

Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố được thiết kế theo mô hình một cửa thực chất: số hóa toàn bộ vòng đời hồ sơ từ tiếp nhận đến trả kết quả, tiếp nhận phi địa giới hành chính, hỗ trợ trực tuyến 24/7, thời gian giao dịch trực tiếp không quá 15 phút/hồ sơ. Đặc biệt, cơ chế “làn xanh” ưu tiên cho nhà đầu tư nước ngoài rút ngắn đáng kể thời gian xử lý: cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại KCN giảm từ 15 ngày xuống còn 3 ngày (giảm 80%); cấp phép cho lao động là người nước ngoài giảm từ 10 ngày xuống 4 ngày (giảm 60%); cung cấp thông tin quy hoạch xây dựng giảm từ 15 ngày xuống 7 ngày (giảm 46,7%); cấp phép xây dựng mới trong KCN giảm từ 20 ngày xuống 14 ngày (giảm 30%).

Kết quả thực thi đến năm 2025 ghi nhận nhiều chỉ tiêu tích cực: tỷ lệ hồ sơ giải quyết trước hạn đạt trên 99%, 100% thủ tục hành chính được tiếp nhận và xử lý trực tuyến. Chỉ số PAR Index của Hà Nội đạt 92,75 điểm (vị trí thứ ba cả nước giai đoạn 2023-2024); chỉ số hài lòng SIPAS đạt 86,50% năm 2024, vượt mức bình quân cả nước. Những cải thiện này tác động trực tiếp đến chỉ số PCI Hà Nội - yếu tố được nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham chiếu khi đánh giá môi trường đầu tư.

Cổng Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội vận hành 4 ngôn ngữ (Việt, Anh, Nhật, Hàn, Trung), kết nối trực tuyến với 7 thị trường quốc tế gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hà Lan, Vương quốc Anh, Singapore, Ấn Độ và Maroc. Danh mục dự án kêu gọi đầu tư, cơ chế ưu đãi và tiêu chí nhà đầu tư chiến lược được công khai đa kênh sau khi Luật Thủ đô 2024 và Nghị quyết 17/2025/NQ-HĐND có hiệu lực - bước chuyển từ xúc tiến thụ động sang công khai thông tin chủ động.

Chi đào tạo lao động phục vụ thu hút FDI

Chi ngân sách cho đào tạo nhân lực là hình thức đầu tư công gián tiếp có tác động kép: vừa giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo ban đầu của doanh nghiệp FDI, vừa nâng năng lực hấp thụ công nghệ của thị trường lao động địa phương. Theo khảo sát PCI (VCCI, 2025), 60,2% doanh nghiệp FDI coi thiếu hụt nhân lực kỹ thuật số chất lượng cao là một trong những rào cản lớn nhất. Đây là mức cao hơn đáng kể so với khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Chính sách đào tạo của Hà Nội được thiết kế theo 2 tầng ưu tiên: (i) Nghị quyết hỗ trợ học phí xác định danh mục các ngành, nghề trọng điểm trực tiếp phục vụ nhu cầu nhân lực FDI như cơ khí, điện tử công nghiệp, CNTT, lập trình máy tính, tự động hóa công nghiệp, cơ điện tử, kỹ thuật điện - điện tử và công nghệ thực phẩm (UBND TP. Hà Nội, 2026); (ii) Hướng tới FDI chất lượng cao: chương trình đào tạo nghiên cứu sinh giai đoạn 2026-2030 với học bổng 15 triệu đồng/tháng, hỗ trợ tối đa 50 triệu đồng/năm cho công bố quốc tế và tham dự hội thảo, kèm yêu cầu đầu ra nghiêm ngặt về công bố khoa học và ứng dụng giải quyết bài toán thực tiễn của Thành phố (HĐND TP. Hà Nội, 2026).

Tháng 2/2026 Hà Nội thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo HIC với cơ cấu 70% vốn nhà nước, đóng vai trò “hạ tầng mềm” hỗ trợ thu hút FDI công nghệ cao: vừa là HUB thử nghiệm công nghệ mới, vừa là đầu mối kết nối chuyên gia Việt kiều, nhà sáng lập quốc tế và mạng lưới khởi nghiệp toàn cầu. Đề án hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo dự kiến tài trợ 30% chi phí sử dụng phòng thí nghiệm, phòng thiết kế dùng chung và 100% chi phí tập huấn, kết nối doanh nghiệp quốc tế - giảm trực tiếp chi phí R&D cho doanh nghiệp FDI muốn đặt trung tâm R&D sản phẩm tại Hà Nội.

Chi xúc tiến đầu tư chuyên sâu tại các thị trường trọng điểm

Việc áp dụng GMT từ 2024 cùng quỹ đất công nghiệp bị thu hẹp buộc Hà Nội phải chuyển từ mô hình xúc tiến truyền thống - quảng bá hình ảnh, chào mời ưu đãi chung - sang xúc tiến chuyên sâu theo chuỗi giá trị và thị trường nguồn. Ngày 27/3/2025, UBND Thành phố ban hành Quyết định 1763/QĐ-UBND thành lập Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội thuộc Sở Tài chính - đầu mối chuyên trách tích hợp xúc tiến đầu tư với hỗ trợ doanh nghiệp và cung cấp thông tin dự án. Ngân sách xúc tiến được phân bổ qua chi thường xuyên cho HPA và Trung tâm mới, vốn đầu tư công cho hạ tầng xúc tiến số, và một phần đồng tài trợ từ doanh nghiệp và Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia.

Thị trường Nhật Bản

Nhật Bản là đối tác FDI lớn nhất tại Hà Nội với 1.604 dự án và 11.486,8 triệu USD vốn đăng ký lũy kế đến 3/2026. Hội nghị Xúc tiến đầu tư Hà Nội - Nhật Bản 2024 tại Tokyo (phối hợp Đại sứ quán Việt Nam và JETRO) là sự kiện tiêu biểu của giai đoạn, giới thiệu trực tiếp các dự án có tính kêu gọi cao - điển hình là dự án Thuan Thanh Eco-Smart IP của Viglacera theo mô hình KCN xanh - thông minh phù hợp tiêu chuẩn Nhật Bản. KCN Thăng Long do Sumitomo Corporation làm chủ đầu tư hạ tầng với hơn 67 doanh nghiệp Nhật và 660 triệu USD vốn đầu tư đóng vai trò neo giữ hệ sinh thái FDI Nhật Bản tại Hà Nội. Theo khảo sát JETRO (2024), gần 57% doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam có kế hoạch mở rộng đầu tư trong 1-2 năm tới, một phần quan trọng hướng về Hà Nội và vùng phụ cận.

Thị trường Hàn Quốc

Hàn Quốc dẫn đầu tuyệt đối về số dự án: 2.715 dự án, tổng vốn 7.848,5 triệu USD lũy kế đến 3/2026. Tọa đàm Xúc tiến đầu tư Hà Nội - Hàn Quốc 2024 tại Seoul quy tụ khoảng 120 đại biểu, kết thúc bằng ký kết thỏa thuận hợp tác HPA - đối tác Hàn Quốc, tạo cơ sở pháp lý cho kết nối đầu tư thường xuyên. Theo báo cáo KOCHAM (2025), các doanh nghiệp Hàn Quốc đang chuyển mạnh định hướng đầu tư sang chất bán dẫn, robot, hạ tầng giao thông, năng lượng xanh và thành phố thông minh - trùng khớp chính xác với danh mục ưu tiên của Nghị quyết 17/2025/NQ-HĐND, cho thấy chiến lược xúc tiến của Hà Nội đang đi đúng hướng phân khúc kỳ vọng của nhà đầu tư Hàn Quốc.

ĐÁNH GIÁ CHUNG

Kết quả đạt được

Các giải pháp tài chính phi thuế đã góp phần quan trọng vào kết quả thu hút FDI ấn tượng của giai đoạn 2021-2025. Vốn FDI đăng ký năm 2025 đạt kỷ lục 4.365 triệu USD (tăng 260%); vốn thực hiện tăng ổn định 27,8% toàn giai đoạn; tỷ trọng FDI/GRDP tăng gấp đôi từ 3,23% lên 7,01%.

Đầu tư hạ tầng KCN đạt hiệu quả cao với các KCN truyền thống lấp đầy 99-100% dẫn đến doanh thu Q1/2026 rất cao. Hệ thống hạ tầng đồng bộ, chi phí ổn định và tính dự báo cao là yếu tố quyết định giữ chân nhà đầu tư FDI hiện hữu và thu hút dự án mới.

Cải cách hành chính gắn với số hóa đạt kết quả tích cực: PAR Index vị trí thứ 3 cả nước, tỷ lệ hồ sơ trước hạn trên 99%, “làn xanh” rút ngắn thời gian cấp phép 30-80%. Tỷ lệ doanh nghiệp FDI nhận hỗ trợ trong lĩnh vực ĐMST đạt 10,22% - cao nhất trong nhóm các tỉnh, thành phố lớn.

Xúc tiến đầu tư chuyên sâu tại Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm tới 19.335 triệu USD vốn đăng ký lũy kế và duy trì tốc độ mở rộng đầu tư ổn định.

Hạn chế và thách thức

Một là, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công cho hạ tầng KCN nhiều năm chưa đạt kế hoạch, khiến một số hạng mục kết nối, nhà ở công nhân và xử lý môi trường chưa được hoàn thiện đồng bộ. Quỹ đất công nghiệp sạch ngày càng thu hẹp là điểm nghẽn cấu trúc.

Hai là, tỷ lệ giải ngân FDI (vốn thực hiện/vốn đăng ký) biến động mạnh, từ 82,8% (2021) xuống 36,1% (2025), phản ánh khoảng cách lớn về thời gian giữa cam kết và triển khai đối với các dự án quy mô lớn đã cho thấy hỗ trợ sau cấp phép chưa đủ mạnh.

Ba là, xúc tiến đầu tư còn nặng tính sự kiện, thiếu cơ chế đo lường hiệu quả theo chi phí xúc tiến trên lượng vốn FDI thu hút được. Tình trạng chồng chéo chức năng giữa HPA và Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và Hỗ trợ Doanh nghiệp làm giảm hiệu quả phối hợp và trách nhiệm giải trình.

Bốn là, FDI vào lĩnh vực bất động sản chiếm tỷ trọng tăng cao (81,85% năm 2024) trong khi FDI vào chuyên môn, khoa học và công nghệ còn thiếu ổn định. Điều này cho thấy các công cụ phi thuế chưa đủ mạnh để dẫn hướng dòng vốn bền vững theo mục tiêu chiến lược.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Thứ nhất, đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng KCN và KCNC Hòa Lạc. Ưu tiên ngân sách cho đường kết nối, xử lý nước thải, nhà ở công nhân và logistics tại Khu CNC Hòa Lạc để tăng tỷ lệ lấp đầy từ ~40% hiện tại. Thiết lập cơ chế đánh giá hiệu quả đầu tư công theo tiêu chí đầu ra FDI (vốn thực hiện, số dự án mới, doanh thu sản xuất) thay vì chỉ theo tiêu chí giải ngân.

Thứ hai, nâng cấp hệ sinh thái số hóa thủ tục hành chính. Mở rộng “làn xanh” sang thêm các loại hồ sơ đầu tư; tích hợp dữ liệu đa ngành trên một nền tảng duy nhất để nhà đầu tư không phải nộp hồ sơ trùng lặp ở nhiều đầu mối. Xây dựng chỉ số thời gian gia nhập thị trường làm KPI minh bạch cho cải cách hành chính.

Thứ ba, chi đào tạo lao động theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp FDI. Tăng cường cơ chế đặt hàng đào tạo theo cam kết tuyển dụng của nhà đầu tư chiến lược; mở rộng chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh gắn với bài toán công nghệ của từng KCN và KCNC; thành lập Quỹ Phát triển nhân lực FDI có sự đóng góp từ ngân sách Thành phố và doanh nghiệp FDI.

Thứ tư, chuyển xúc tiến đầu tư từ mô hình sự kiện sang mô hình chuỗi giá trị nhà đầu tư. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đầu ra (chi phí xúc tiến/1 triệu USD FDI thu hút; tỷ lệ chuyển đổi từ tiếp xúc sang ký kết; tỷ lệ nhà đầu tư mở rộng vốn sau 3 năm). Tập trung ngân sách vào giai đoạn theo dõi sau xúc tiến và hỗ trợ thủ tục triển khai hiện đang thiếu nguồn lực nhất.

Thứ năm, thể chế hóa đánh giá hiệu quả chi ngân sách phi thuế. Thiết lập hệ thống tách biệt số liệu hỗ trợ tài chính theo loại hình chủ đầu tư, lĩnh vực ưu tiên và kết quả FDI thực hiện, điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và nâng cao trách nhiệm giải trình chính sách trong giai đoạn 2026-2030.

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI toàn cầu chuyển từ ưu đãi thuế sang chất lượng môi trường đầu tư tổng thể, các giải pháp tài chính phi thuế ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi của các địa phương. Phân tích giai đoạn 2021-2025 cho thấy Hà Nội đã đạt những thành tựu đáng ghi nhận: vốn FDI đăng ký tăng trưởng mạnh và đạt kỷ lục năm 2025, các KCN duy trì tỷ lệ lấp đầy gần tuyệt đối, chất lượng quản trị hành chính cải thiện rõ rệt và xúc tiến chuyên sâu đã tạo được nền tảng quan hệ bền vững với các đối tác FDI trọng điểm. Ba trụ cột của chiến lược phi thuế: đầu tư công vào hạ tầng KCN, số hóa thủ tục hành chính gắn với chi đào tạo nhân lực, và xúc tiến chuyên sâu theo chuỗi giá trị đã tạo ra sự khác biệt so sánh rõ rệt của Hà Nội so với các địa phương đơn thuần dựa vào ưu đãi thuế. Tuy nhiên, để duy trì và nâng chất dòng vốn trong giai đoạn 2026-2030, Hà Nội cần vượt qua 3 điểm nghẽn: tốc độ giải ngân đầu tư công cho hạ tầng; hiệu quả dẫn hướng dòng vốn vào ngành ưu tiên và năng lực đo lường, giải trình hiệu quả chi ngân sách phi thuế. Đây chính là nội hàm sâu sắc nhất của “lợi thế địa điểm” theo Dunning (1993, 2000) - lợi thế không từ ưu đãi đơn lẻ, mà từ hệ sinh thái đầu tư toàn diện nơi nhà đầu tư nhìn thấy chi phí triển khai thấp, thủ tục đáng tin cậy và hạ tầng thực sự sẵn sàng.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Khu Công nghệ cao Hà Nội (2026). Báo cáo hoạt động KCN và KCNC quý I/2026.

2. Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Tài chính (2026). Tình hình thu hút FDI tại Hà Nội lũy kế đến 31/3/2026

3. Cục Thống kê TP. Hà Nội (2025). Niên giám thống kê thành phố Hà Nội 2024. Nxb. Thống kê.

4. Dunning, J. H. (1993). Multinational enterprises and the global economy. Addison-Wesley.

5. Dunning, J. H. (2000). The eclectic paradigm as an envelope for economic and business theories of MNE activity. International Business Review, 9(2), 163-190.

6. JETRO (2024). Survey on Business Conditions of Japanese Firms in Vietnam 2024.

7. HĐND TP. Hà Nội (2025). Nghị quyết 17/2025/NQ-HĐND về thu hút nhà đầu tư chiến lược trên địa bàn TP. Hà Nội.

8. HĐND TP. Hà Nội (2026). Nghị quyết 57/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026 quy định một số chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của TP. Hà Nội (Thực hiện điểm b khoản 1 Điều 16; điểm c, điểm d khoản 2 Điều 25 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16).

9. KOCHAM (2025). Annual FDI Vietnam Report 2025. Korean Chamber of Business in Vietnam.

10. OECD (2022). FDI qualities policy toolkit. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/7ba74100-en

11. OECD (2024). The role of incentives in investment promotion: Trends and practices in OECD member countries. OECD Publishing.

12. Quốc hội (2024). Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 ngày 28/6/2024.

13. UBND TP. Hà Nội (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Hà Nội năm 2025

14. UBND TP. Hà Nội (2026). Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 14/8/2026 ban hành danh mục lĩnh vực, ngành, nghề trọng điểm và ngành, nghề tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.

15. VCCI (2025). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2024. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

16. Williamson, O. E. (1985). The economic institutions of capitalism. Free Press.

Ngày nhận bài: 9/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/10/2026; Ngày duyệt đăng: 28/10/2026

Các tin khác

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Nghiên cứu không chỉ mở rộng hướng nghiên cứu về không gian trải nghiệm đô thị về đêm từ kết quả lòng trung thành sang các phản ứng hành vi có ý nghĩa đối với tính bền vững của điểm đến, mà còn giải thích khả năng chuyển hóa sự gắn kết tâm lý với điểm đến thành khuynh hướng lựa chọn có trách nhiệm.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cùng yêu cầu khắt khe về thời gian giao hàng đang thu hẹp lợi thế cạnh tranh của các phương thức vận tải độc lập, buộc hệ thống logistics quốc gia phải chuyển dịch sang mô hình vận tải đa phương thức nhằm tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đưa chuyển đổi số trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với doanh nghiệp. Trong kế toán, quá trình này thể hiện qua việc thay thế các quy trình ghi chép thủ công bằng phần mềm trên nền tảng điện toán đám mây, hóa đơn điện tử, chữ ký số và khai thuế điện tử
Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Thu hút FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu lớn của khu vực FDI cũng đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa.
Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

TikTok ngày càng tích hợp giải trí, tương tác xã hội và thương mại điện tử, tác động đến nhận thức, ý định và hành vi mua sắm của Gen Z. Đây là cơ hội để thương hiệu mỹ phẩm nội địa tiếp cận khách hàng trẻ, đồng thời đối mặt với cạnh tranh từ các thương hiệu quốc tế.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Khi các động lực tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và mở rộng vốn dần suy giảm, đổi mới sáng tạo trở thành điều kiện then chốt để nâng cao năng suất và vị thế của nền kinh tế.
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam, phát triển dịch vụ tài chính cá nhân là xu hướng tất yếu đối với các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng doanh thu và phân tán rủi ro.
Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Bài viết đề xuất khung phân tích SCRM trong lĩnh vực bảo hiểm, góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết và định hướng nghiên cứu, thực hành quản trị. Khung này xuất phát từ yêu cầu tích hợp mục tiêu phát triển bền vững vào CRM, gắn hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm đối với khách hàng và các bên liên quan.
Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Sự phát triển của thương mại điện tử đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý thông tin kế toán tại doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, dữ liệu kế toán không chỉ phát sinh từ hoạt động bán hàng mà còn liên quan đến các khoản chiết khấu, phí dịch vụ nền tảng, hoàn trả hàng hóa và đối soát thanh toán. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống thông tin kế toán trong việc tích hợp, xử lý và cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời nhằm phục vụ quản lý và ra quyết định. Do đó, việc xem xét mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống thông tin kế toán, chất lượng thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Chuyển đổi số đang trở thành định hướng chiến lược của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đổi mới mô hình kinh doanh và tăng cường năng lực cạnh tranh.