Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Nghiên cứu - Trao đổi 17:04 | 28/10/2026
Khi các động lực tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và mở rộng vốn dần suy giảm, đổi mới sáng tạo trở thành điều kiện then chốt để nâng cao năng suất và vị thế của nền kinh tế.

ThS. An Thị Thư

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

TS. Nguyễn Hồng Hải (Tác giả liên hệ)

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên; Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam và khoảng cách so với mục tiêu năm 2030 của Nghị quyết số 57-NQ/TW, dựa trên dữ liệu Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2020-2026 và Báo cáo Đổi mới sáng tạo và Đầu tư vốn tư nhân Việt Nam 2025. Năm 2026, Việt Nam xếp hạng 43/139, với chỉ số đầu ra (hạng 35) tốt hơn đầu vào (hạng 54). Chi cho nghiên cứu và phát triển khoảng 0,4% GDP, bằng 1/5 mục tiêu; vốn đầu tư mạo hiểm nhỏ và biến động. Bài viết đề xuất 5 nhóm giải pháp về thể chế, vốn, nhân lực, liên kết và đo lường.

Từ khóa: Đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp, Nghị quyết 57-NQ/TW

Abstract

This article analyzes Viet Nam’s innovation ecosystem and its gap relative to the 2030 targets set out in Resolution No. 57-NQ/TW, drawing on data from the Global Innovation Index (GII) for 2020-2026 and the Viet Nam Innovation and Private Capital Investment Report 2025. In 2026, Viet Nam ranked 43rd out of 139 economies, with its innovation output ranking (35th) outperforming its input ranking (54th). Research and development expenditure stood at approximately 0.4% of GDP, equivalent to one-fifth of the target, while venture capital investment remained limited and volatile. The article proposes five groups of solutions covering institutions, capital, human resources, linkages, and measurement.

Keywords: Innovation, startup ecosystem, Resolution No. 57-NQ/TW

ĐẶT VẤN ĐỀ

Năng lực đổi mới sáng tạo (ĐMST) không chỉ phụ thuộc vào từng doanh nghiệp mà còn vào chất lượng tương tác giữa doanh nghiệp, nhà trường, nhà nước và thị trường (Lundvall, 1992).

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách chiếm trên 60% (Bộ Chính trị, 2024). Định hướng này được thể chế hóa trong Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST số 93/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/10/2025 (Quốc hội, 2025) và Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02/4/2026 với mục tiêu Việt Nam thuộc nhóm 40 quốc gia dẫn đầu Chỉ số ĐMST toàn cầu (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực thực tế chưa được lượng hóa đầy đủ, trong khi các hạn chế về đầu tư R&D và liên kết giữa khu vực nghiên cứu với doanh nghiệp đã được chỉ ra từ hơn một thập kỷ trước (OECD & World Bank, 2014). Bài viết làm rõ vị trí hiện tại của hệ sinh thái ĐMST Việt Nam, khoảng cách so với mục tiêu năm 2030 và đề xuất các giải pháp cần ưu tiên.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết kế thừa 3 hướng tiếp cận: hệ thống đổi mới quốc gia (Lundvall, 1992); mô hình chuỗi xoắn ba Đại học - Doanh nghiệp - Nhà nước (Etzkowitz & Leydesdorff, 2000); và hệ sinh thái khởi nghiệp, theo đó chính sách cần cải thiện đồng thời nhiều yếu tố thay vì hỗ trợ đơn lẻ (Isenberg, 2010). Về vai trò của nhà nước, Mazzucato (2013) cho rằng, nhà nước có thể chủ động chấp nhận rủi ro và kiến tạo thị trường, song Lerner (2009) cảnh báo nhiều chương trình công thúc đẩy đầu tư mạo hiểm thất bại do thiết kế sai cơ chế khuyến khích hoặc quy mô không phù hợp. Kinh nghiệm chương trình Yozma của Israel cho thấy quỹ công đồng đầu tư với nhà đầu tư tư nhân, có lộ trình rút lui rõ ràng, có thể giúp hình thành ngành đầu tư mạo hiểm (Avnimelech & Teubal, 2006). Từ đó, bài viết đề xuất khung phân tích gồm 4 trụ cột: thể chế - chính sách; vốn cho ĐMST; nhân lực - tri thức và hạ tầng - thị trường. Các trụ cột tác động đến doanh nghiệp, startup ở trung tâm hệ sinh thái thông qua tổ chức trung gian, từ đó tạo ra kết quả đầu ra như năng suất, sản phẩm công nghệ cao và sáng chế.

Nghiên cứu sử dụng phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả trên dữ liệu thứ cấp, bao gồm hồ sơ Việt Nam trong Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) giai đoạn 2020-2026 (World Intellectual Property Organization [WIPO], 2025, 2026); Báo cáo Đổi mới sáng tạo và Đầu tư vốn tư nhân Việt Nam 2025 (Trung tâm ĐMST Quốc gia [NIC] và cộng sự, 2025) cùng số liệu năm 2025 (Việt Nam News, 2026) và các văn bản chính sách. Phương pháp phân tích khoảng cách được dùng để so sánh hiện trạng với mục tiêu năm 2030.

THỰC TRẠNG HỆ SINH THÁI ĐMST VIỆT NAM

Vị thế ĐMST quốc gia

Việt Nam đã cải thiện 32 bậc trên GII kể từ năm 2013 và là 1 trong 2 nền kinh tế (cùng Ấn Độ) có kết quả ĐMST vượt mức tương ứng với trình độ phát triển trong 15 năm liên tiếp (WIPO, 2025). Năm 2026, Việt Nam xếp hạng 43/139 nền kinh tế nhưng trong giai đoạn 2020-2026 thứ hạng chỉ dao động trong khoảng 42 - 48. Đáng chú ý, chỉ số đầu ra đạt hạng 35, trong khi chỉ số đầu vào chỉ đạt hạng 54. Thế mạnh tập trung ở xuất khẩu công nghệ cao và hàng hóa sáng tạo (cùng hạng 1); điểm yếu gồm chi cho giáo dục (hạng 112) và thu nhập từ sở hữu trí tuệ (hạng 110) (WIPO, 2026). Điều này cho thấy kết quả đầu ra chủ yếu dựa vào năng lực sản xuất và xuất khẩu, trong khi nền tảng ĐMST nội sinh còn hạn chế.

Hình 1: Thứ hạng của Việt Nam trong Chỉ số ĐMST toàn cầu, 2020-2026

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ WIPO, 2026

Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển

Tổng chi R&D của Việt Nam hiện đạt 0,4% GDP, xếp hạng 65 (WIPO, 2026). Điểm tích cực là tỷ trọng R&D do doanh nghiệp tài trợ đạt 58,1% (WIPO, 2026), gần yêu cầu trên 60% của Nghị quyết số 57-NQ/TW. Mức chi hiện nay vẫn thấp xa bình quân thế giới khoảng 2,62% GDP (Tú Ân, 2026). Vấn đề cốt lõi vì vậy không nằm ở cơ cấu nguồn chi mà ở quy mô tổng thể quá nhỏ.

Dòng vốn đầu tư cho ĐMST

Dòng vốn tư nhân biến động mạnh theo chu kỳ tài chính toàn cầu từ 4,8 tỷ USD năm 2019 giảm còn 2,3 tỷ USD năm 2024, rồi phục hồi lên khoảng 4,5 tỷ USD năm 2025. Năm 2025, vốn đầu tư mạo hiểm (VC) đạt 509 triệu USD, tăng 28% nhưng số thương vụ VC giảm còn 104 (Việt Nam News, 2026). Quy mô vòng Series A năm 2024 chỉ còn khoảng 2 triệu USD, thấp nhất kể từ năm 2018, còn Series B giảm từ 26 triệu USD năm 2021 xuống 10 triệu USD (NIC và cộng sự, 2025).

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về dòng vốn tư nhân cho ĐMST tại Việt Nam giai đoạn 2024-2025

Chỉ tiêu

ĐVT

2024

2025

Tổng vốn tư nhân

Triệu USD

2.300

~4.500

Số thương vụ VC và PE

Thương vụ

141

149

Vốn đầu tư mạo hiểm VC

Triệu USD

398

509

Số thương vụ VC

Thương vụ

118

104

Vốn đầu tư vào công ty AI

Triệu USD

80

~130

Nguồn: NIC và cộng sự, 2025; Việt Nam News, 2026

Về cơ cấu, năm 2024 vốn VC dịch chuyển mạnh sang giải pháp chuyển đổi số doanh nghiệp (84 triệu USD) và nông nghiệp (74 triệu USD), trong khi dịch vụ tài chính, y tế và giáo dục giảm. Vốn vào các công ty trí tuệ nhân tạo tăng từ 10 triệu USD năm 2023 lên 80 triệu USD năm 2024 (NIC và cộng sự, 2025) và khoảng 130 triệu USD năm 2025 (Việt Nam News, 2026). Tuy nhiên, với quy mô thị trường nhỏ, một thương vụ lớn có thể thay đổi cả xu hướng: riêng thương vụ 70 triệu USD của TechCoop đã chiếm phần lớn vốn vào nông nghiệp năm 2024 (NIC và cộng sự, 2025).

Hình 2: Vốn đầu tư mạo hiểm theo một số lĩnh vực, 2023-2024

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ NIC và cộng sự, 2025

Vai trò của các tổ chức trung gian

Trung tâm ĐMST Quốc gia (NIC) được thành lập theo Quyết định số 1269/QĐ-TTg năm 2019 (Thủ tướng Chính phủ, 2019). Mạng lưới do NIC điều phối có khoảng 2.000 thành viên tại 22 quốc gia, kết nối 80 trường đại học, cao đẳng; NIC cũng phối hợp triển khai hơn 100.000 học bổng đào tạo trí tuệ nhân tạo và tham gia mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn đến năm 2030 (NIC và cộng sự, 2025). Tuy nhiên, hiệu quả hiện chủ yếu được đo bằng số lượng hoạt động, chưa có chỉ tiêu đầu ra như số doanh nghiệp gọi vốn thành công hay số kết quả nghiên cứu được thương mại hóa.

KHOẢNG CÁCH GIỮA MỤC TIÊU VÀ HIỆN TRẠNG

Bảng 2: Khoảng cách giữa hiện trạng và mục tiêu ĐMST đến năm 2030

Chỉ tiêu

Hiện trạng gần nhất

Mục tiêu 2030

Đánh giá

Chi cho R&D (% GDP)

0,4%

≥ 2%

Rất lớn; cần tăng ~26%/năm

Tỷ trọng R&D do doanh nghiệp tài trợ

58,1%

> 60% ngoài ngân sách

Gần đạt

Xếp hạng GII chung

43/139

Top 40

Khả thi nếu cải thiện đầu vào

Xếp hạng chỉ số đầu vào GII

54

Chưa có mục tiêu riêng

Điểm nghẽn chính

Mật độ thương vụ VC/tỷ USD GDP (PPP)

0,04; hạng 73

Chưa có mục tiêu định lượng

Thiếu chỉ tiêu theo dõi

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Bộ Chính trị, 2024; Thủ tướng Chính phủ, 2026; WIPO, 2026

Bảng 2 cho thấy khoảng cách lớn nhất nằm ở chi R&D: để tăng từ 0,4% lên 2% GDP trong giai đoạn 2023-2030, tỷ lệ này phải tăng bình quân khoảng 26% mỗi năm. Mục tiêu nhóm 40 trên GII khả thi hơn vì chỉ số đầu ra đã đạt; điểm nghẽn nằm ở đầu vào. Riêng vốn đầu tư mạo hiểm chưa có mục tiêu định lượng, gây khó khăn cho việc theo dõi hiệu quả chính sách.

Có 4 điểm nghẽn chính bao gồm: (i) Mất cân đối giữa đầu vào và đầu ra, khi xuất khẩu công nghệ cao chưa đi kèm năng lực R&D nội sinh; (ii) Quy mô đầu tư R&D quá nhỏ, trong khi khoảng 84,1% nhân lực R&D thuộc khu vực nhà nước (Tú Ân, 2026); (iii) Thị trường vốn cho ĐMST còn nông và phụ thuộc nhà đầu tư nước ngoài; (iv) Liên kết nhà trường - doanh nghiệp còn yếu. Ngoài ra, hệ sinh thái tập trung ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; các trường đại học vùng và doanh nghiệp ở trung du, miền núi còn ít cơ hội tiếp cận vốn và thị trường công nghệ.

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐMST TẠI VIỆT NAM

Để nâng cao năng lực ĐMST và tăng khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, tài chính, nhân lực, liên kết nghiên cứu và cơ chế đánh giá hiệu quả.

Thứ nhất, sớm ban hành đầy đủ văn bản hướng dẫn Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST, nhất là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu (Quốc hội, 2025), với tiêu chí rõ ràng và thủ tục đơn giản để nhà khoa học, doanh nghiệp yên tâm theo đuổi dự án có rủi ro cao. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nên được thiết kế theo từng lĩnh vực, kèm tiêu chí giám sát và bảo vệ lợi ích công.

Thứ hai, đổi mới cơ chế tài chính và mở rộng nguồn vốn cho nghiên cứu, phát triển. Các quỹ đầu tư mạo hiểm ở cấp quốc gia và địa phương cần phát huy vai trò vốn dẫn dắt thông qua cơ chế đồng đầu tư với khu vực tư nhân, đồng thời xây dựng lộ trình thoái vốn minh bạch. Song song với đó, cần hoàn thiện các chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp gia tăng chi tiêu cho R&D, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu nâng tỷ lệ chi cho R&D lên 2% GDP.

Thứ ba, gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, công nghệ số và tăng nhân lực R&D lên 12 người/10.000 dân vào năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2026); tăng đầu tư cho giáo dục đại học để cải thiện các chỉ tiêu đầu vào đang yếu trên GII.

Thứ tư, tăng cường liên kết theo mô hình chuỗi xoắn ba; các trường đại học cần kiện toàn bộ phận chuyển giao công nghệ, hướng tới ít nhất 30% kết quả nghiên cứu được thương mại hóa (Thủ tướng Chính phủ, 2026) và mở rộng mạng lưới ĐMST tới các trường đại học vùng.

Thứ năm, xây dựng hệ thống dữ liệu và cơ chế đánh giá hiệu quả ĐMST. Cần hình thành bộ chỉ số thống nhất, được cập nhật định kỳ, bao gồm mức chi R&D, quy mô vốn đầu tư theo từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, số lượng thương vụ đầu tư, tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau khi nhận vốn. Việc công khai dữ liệu theo nguyên tắc phù hợp với quy định về bảo mật sẽ giúp cơ quan quản lý hoạch định chính sách, nhà đầu tư nhận diện cơ hội và giới nghiên cứu đánh giá xu hướng thị trường.

KẾT LUẬN

Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận về ĐMST thể hiện qua vị trí 43/139 trên Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) năm 2026 và những chuyển biến tích cực trong hoàn thiện thể chế, chính sách. Tuy nhiên, khoảng cách giữa định hướng chính sách và năng lực đổi mới thực chất vẫn còn đáng kể, nhất là ở mức đầu tư cho R&D, khả năng huy động vốn cho các giai đoạn đầu và liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp, trong đó ưu tiên thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho R&D và mở rộng nguồn vốn cho các dự án ĐMST giai đoạn đầu.

Tài liệu tham khảo:

1. Avnimelech, G., & Teubal, M. (2006). Creating venture capital industries that co-evolve with high tech: Insights from an extended industry life cycle perspective of the Israeli experience. Research Policy, 35(10), 1477-1498.

2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia.

3. Etzkowitz, H., & Leydesdorff, L. (2000). The dynamics of innovation: From national systems and “Mode 2” to a triple helix of university-industry-government relations. Research Policy, 29(2), 109-123.

4. Isenberg, D. J. (2010). How to start an entrepreneurial revolution. Harvard Business Review, 88(6), 40-50.

5. Lerner, J. (2009). Boulevard of broken dreams: Why public efforts to boost entrepreneurship and venture capital have failed - and what to do about it. Princeton University Press.

6. Lundvall, B.-Å. (Ed.) (1992). National systems of innovation: Towards a theory of innovation and interactive learning. Pinter.

7. Mazzucato, M. (2013). The entrepreneurial state: Debunking public vs. private sector myths. Anthem Press.

8. OECD, & World Bank (2014). Science, technology and innovation in Viet Nam. OECD Publishing.

9. Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST số 93/2025/QH15.

10. Thủ tướng Chính phủ (2019). Quyết định số 1269/QĐ-TTg về việc thành lập Trung tâm ĐMST Quốc gia.

11. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02/4/2026 điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và ĐMST đến năm 2030.

12. Trung tâm ĐMST Quốc gia (NIC), Hội Đầu tư Tư nhân Việt Nam, & Boston Consulting Group (2025). Báo cáo ĐMST & Đầu tư vốn tư nhân Việt Nam 2025.

13. Tú Ân (2026). Đầu tư cho R&D - cuộc đua không thể chậm trễ, https://baodautu.vn/dau-tu-cho-rd-cuoc-dua-khong-the-cham-tre-d644503.html

14. Việt Nam News (2026). Private capital market rebounds as AI emerges as investment magnet, https://vietnamnews.vn/economy/1782451/private-capital-market-rebounds-as-ai-emerges-as-investment-magnet.html.

15. World Intellectual Property Organization (2025). Global Innovation Index 2025 (18th ed.). WIPO.

16. World Intellectual Property Organization (2026). Global Innovation Index 2026: Viet Nam. WIPO.

Ngày nhận bài: 12/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026

Các tin khác

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Nghiên cứu không chỉ mở rộng hướng nghiên cứu về không gian trải nghiệm đô thị về đêm từ kết quả lòng trung thành sang các phản ứng hành vi có ý nghĩa đối với tính bền vững của điểm đến, mà còn giải thích khả năng chuyển hóa sự gắn kết tâm lý với điểm đến thành khuynh hướng lựa chọn có trách nhiệm.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cùng yêu cầu khắt khe về thời gian giao hàng đang thu hẹp lợi thế cạnh tranh của các phương thức vận tải độc lập, buộc hệ thống logistics quốc gia phải chuyển dịch sang mô hình vận tải đa phương thức nhằm tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa.
Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Theo OECD, khi mức thuế tối thiểu toàn cầu 15% được áp dụng, hiệu quả cạnh tranh của ưu đãi thuế tại cấp địa phương bị thu hẹp đáng kể, buộc các địa phương phải chuyển trọng tâm sang các công cụ tài chính phi thuế.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đưa chuyển đổi số trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với doanh nghiệp. Trong kế toán, quá trình này thể hiện qua việc thay thế các quy trình ghi chép thủ công bằng phần mềm trên nền tảng điện toán đám mây, hóa đơn điện tử, chữ ký số và khai thuế điện tử
Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Thu hút FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu lớn của khu vực FDI cũng đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa.
Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

TikTok ngày càng tích hợp giải trí, tương tác xã hội và thương mại điện tử, tác động đến nhận thức, ý định và hành vi mua sắm của Gen Z. Đây là cơ hội để thương hiệu mỹ phẩm nội địa tiếp cận khách hàng trẻ, đồng thời đối mặt với cạnh tranh từ các thương hiệu quốc tế.
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam, phát triển dịch vụ tài chính cá nhân là xu hướng tất yếu đối với các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng doanh thu và phân tán rủi ro.
Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Bài viết đề xuất khung phân tích SCRM trong lĩnh vực bảo hiểm, góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết và định hướng nghiên cứu, thực hành quản trị. Khung này xuất phát từ yêu cầu tích hợp mục tiêu phát triển bền vững vào CRM, gắn hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm đối với khách hàng và các bên liên quan.
Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Sự phát triển của thương mại điện tử đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý thông tin kế toán tại doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, dữ liệu kế toán không chỉ phát sinh từ hoạt động bán hàng mà còn liên quan đến các khoản chiết khấu, phí dịch vụ nền tảng, hoàn trả hàng hóa và đối soát thanh toán. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống thông tin kế toán trong việc tích hợp, xử lý và cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời nhằm phục vụ quản lý và ra quyết định. Do đó, việc xem xét mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống thông tin kế toán, chất lượng thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Chuyển đổi số đang trở thành định hướng chiến lược của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đổi mới mô hình kinh doanh và tăng cường năng lực cạnh tranh.