Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu - Trao đổi 17:08 | 28/10/2026
Thu hút FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu lớn của khu vực FDI cũng đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa.

ThS. Nguyễn Thị Hồng

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, Email: [email protected]

TS. Hoàng Thái Sơn (Tác giả liên hệ)

Ban Tổ chức cán bộ - Đại học Thái Nguyên, Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và năng lực liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu làm rõ những kết quả nổi bật trong thu hút FDI, đóng góp của khu vực FDI đối với sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong việc tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa hai khu vực kinh tế và nâng cao hiệu quả lan tỏa của FDI đối với phát triển kinh tế địa phương.

Từ khóa: FDI, liên kết doanh nghiệp, doanh nghiệp trong nước, Thái Nguyên

Abstract

This article analyzes the current state of foreign direct investment (FDI) attraction and the capacity for linkages between FDI enterprises and domestic enterprises in Thai Nguyen Province. The study highlights key achievements in attracting FDI and the FDI sector's contributions to industrial production and exports, while identifying limitations in strengthening domestic enterprises' participation in supply chains. Based on this analysis, the article proposes several solutions to enhance linkages between the two economic sectors and improve the spillover effects of FDI on local economic development.

Keywords: Foreign direct investment (FDI), business linkages, domestic enterprises, Thai Nguyen

MỞ ĐẦU

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mở rộng sản xuất công nghiệp, phát triển xuất khẩu và tạo việc làm tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả thu hút FDI không chỉ được đánh giá qua quy mô vốn đăng ký hay tốc độ tăng trưởng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, mà còn phụ thuộc vào mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, khả năng chuyển giao công nghệ và sự lan tỏa về năng suất, kỹ năng quản lý. Tại tỉnh Thái Nguyên, khu vực FDI giữ vai trò nổi bật trong sản xuất công nghiệp và hoạt động xuất khẩu. Dù vậy, tỷ trọng xuất khẩu lớn của khu vực này cũng đặt ra yêu cầu tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, từng bước nâng cao năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của doanh nghiệp FDI.

THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀ NĂNG LỰC LIÊN KẾT CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Kết quả thu hút FDI và vai trò của khu vực FDI trong phát triển kinh tế

Thái Nguyên là địa phương có cơ cấu công nghiệp phát triển, trong đó khu vực doanh nghiệp FDI giữ vai trò quan trọng trong sản xuất công nghiệp và xuất khẩu. Việc thu hút các dự án quy mô lớn đã góp phần mở rộng năng lực sản xuất, thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và tăng cường sự tham gia của địa phương vào chuỗi giá trị toàn cầu. Theo Báo cáo số 251/BC-UBND ngày 7/7/2026 của UBND tỉnh Thái Nguyên, kinh tế địa phương tiếp tục ghi nhận những kết quả tích cực. GRDP tăng 10,01%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 19,88%; trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,52%. Đây là những chỉ báo cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng chủ yếu của tỉnh.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của tỉnh Thái Nguyên trong 6 tháng đầu năm 2026

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Kết quả

1

Tăng trưởng GRDP

%

10,01

2

Tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng

%

13,52

3

Tăng trưởng khu vực dịch vụ

%

8,24

4

Tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản

%

4,22

5

Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp

%

19,88

6

Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa

Tỷ USD

18,5

7

Tăng trưởng xuất khẩu so với cùng kỳ

%

19,8

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ Báo cáo số 251/BC-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên, 2026

Quy mô thu hút FDI và khả năng mở rộng hệ sinh thái sản xuất

Theo Báo cáo số 251/BC-UBND, lũy kế đến thời điểm báo cáo, Thái Nguyên có 250 dự án FDI với tổng vốn đăng ký khoảng 19.479 triệu USD. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh ghi nhận 20 dự án FDI được cấp mới với tổng vốn đăng ký 5.798,1 triệu USD và 17 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn tăng thêm 2.231,03 triệu USD. Như vậy, tổng vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm đạt khoảng 8.029,13 triệu USD.

Bảng 2: Tình hình thu hút FDI tại tỉnh Thái Nguyên trong 6 tháng đầu năm 2026

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Kết quả

1

Số dự án FDI lũy kế

Dự án

250

2

Tổng vốn FDI đăng ký lũy kế

Triệu USD

19.479

3

Số dự án FDI cấp mới trong kỳ

Dự án

20

4

Vốn đăng ký của dự án cấp mới

Triệu USD

5.798,1

5

Số dự án điều chỉnh tăng vốn

Dự án

17

6

Vốn đăng ký tăng thêm

Triệu USD

2.231,03

7

Tổng vốn cấp mới và tăng thêm

Triệu USD

8.029,13

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ Báo cáo số 251/BC-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên, 2026

Quy mô vốn đăng ký mới và tăng thêm cho thấy Thái Nguyên tiếp tục có khả năng thu hút các dự án đầu tư có giá trị lớn. Đáng chú ý, vốn đăng ký của các dự án mới chiếm khoảng 72,2% tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm trong kỳ, trong khi vốn điều chỉnh tăng thêm chiếm khoảng 27,8% (UBND tỉnh Thái Nguyên, 2026). Điều này cho thấy hoạt động thu hút đầu tư không chỉ thể hiện ở việc tìm kiếm nhà đầu tư mới mà còn có sự mở rộng vốn tại các dự án đang hoạt động. Tuy nhiên, vốn đăng ký không đồng nhất với vốn đã thực hiện, cũng không phản ánh trực tiếp hiệu quả sản xuất hay mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước. Để nâng cao chất lượng thu hút FDI, tỉnh cần quan tâm đồng thời đến tiến độ triển khai dự án, mức độ sử dụng lao động và dịch vụ tại địa phương, khả năng phát triển nhà cung ứng nội địa và các hoạt động hợp tác công nghệ. Đây là những tiêu chí quan trọng để chuyển từ mục tiêu mở rộng quy mô đầu tư sang nâng cao giá trị mà FDI tạo ra cho nền kinh tế địa phương.

Chênh lệch giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước trong hoạt động xuất khẩu

Xuất khẩu là một trong những chỉ tiêu thể hiện rõ vai trò của khu vực FDI trong cơ cấu kinh tế Thái Nguyên. Theo báo cáo của UBND tỉnh, tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 18,5 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt khoảng 658,1 triệu USD, tăng 74,1%; khu vực FDI đạt khoảng 17.900 triệu USD, tăng 18,4%.

Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu theo khu vực kinh tế tại Thái Nguyên

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Khu vực trong nước

Khu vực FDI

Kim ngạch xuất khẩu

Triệu USD

658,1

17.900

Tăng trưởng so với cùng kỳ

%

74,1

18,4

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ Báo cáo số 251/BC-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên, 2026

Số liệu cho thấy sự khác biệt đáng kể về quy mô xuất khẩu giữa 2 khu vực. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI lớn gấp khoảng 27 lần khu vực trong nước. Khu vực FDI vì vậy giữ vai trò áp đảo trong hoạt động xuất khẩu của tỉnh, phản ánh mức độ tập trung của năng lực sản xuất hướng vào thị trường quốc tế tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù vậy, kim ngạch xuất khẩu của khu vực trong nước tăng 74,1%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 18,4% của khu vực FDI. Đây là tín hiệu tích cực về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước.

Cơ cấu nhập khẩu và yêu cầu nâng cao năng lực cung ứng trong nước

Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu của Thái Nguyên đạt 13,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực trong nước đạt khoảng 472,7 triệu USD, tăng 71,3%; khu vực FDI đạt khoảng 12.900 triệu USD, tăng 35,3%.

Quy mô nhập khẩu của khu vực FDI lớn hơn nhiều so với khu vực trong nước, đồng thời tốc độ tăng nhập khẩu của khu vực FDI cũng đạt 35,3%. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất của khu vực FDI gắn với nhu cầu lớn về hàng hóa nhập khẩu.

Thực trạng và những hạn chế trong liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước

Từ các số liệu về đầu tư, xuất khẩu và nhập khẩu, có thể nhận diện một số vấn đề đặt ra đối với năng lực liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước tại Thái Nguyên.

Thứ nhất, mức độ tập trung xuất khẩu vào khu vực FDI còn rất lớn. Khu vực FDI chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, trong khi khu vực trong nước chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều. Điều này cho thấy năng lực sản xuất hướng tới thị trường quốc tế chưa phân bổ đồng đều giữa hai khu vực. Doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, quản trị sản xuất và khả năng đáp ứng đơn hàng để có thể tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng công nghiệp.

Thứ hai, quy mô thu hút FDI lớn chưa tự động tạo ra liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp địa phương. Việc các tập đoàn nước ngoài đầu tư và mở rộng sản xuất tạo ra cơ hội về nhu cầu đầu vào, dịch vụ hỗ trợ, lao động kỹ thuật và hợp tác công nghệ. Tuy nhiên, khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào việc doanh nghiệp trong nước có đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, sản lượng, thời gian giao hàng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quản trị hay không. Vì vậy, cần có các chương trình kết nối cung cầu công nghiệp gắn với nhu cầu mua hàng cụ thể của từng doanh nghiệp FDI.

Thứ ba, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp trong nước là điều kiện quan trọng để tham gia chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp quy mô nhỏ thường gặp khó khăn trong đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, đào tạo nhân lực và đạt chứng nhận cần thiết. Nếu không giải quyết được những hạn chế này, doanh nghiệp trong nước có thể khó trở thành nhà cung ứng ổn định, ngay cả khi hoạt động sản xuất công nghiệp và nhu cầu đầu vào của khu vực FDI tiếp tục tăng.

Thứ tư, thông tin về nhu cầu mua hàng và năng lực nhà cung ứng cần được kết nối hiệu quả hơn. Việc thiếu thông tin cập nhật về danh mục sản phẩm cần mua, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình đánh giá nhà cung ứng và năng lực thực tế của doanh nghiệp trong nước có thể làm tăng chi phí tìm kiếm đối tác của cả hai bên. Một cơ sở dữ liệu nhà cung ứng được cập nhật thường xuyên, đi kèm chương trình đánh giá và tư vấn nâng cấp, sẽ hỗ trợ kết nối doanh nghiệp dựa trên năng lực thực tế thay vì chỉ tổ chức các hoạt động xúc tiến chung.

Đánh giá chung

Nhìn chung, Thái Nguyên đạt kết quả tích cực trong thu hút FDI và duy trì tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2026. Quy mô vốn đăng ký mới và tăng thêm ở mức lớn cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư; đồng thời, tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực trong nước là dấu hiệu đáng chú ý về khả năng mở rộng hoạt động thương mại của doanh nghiệp nội địa. Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu vẫn nghiêng mạnh về khu vực FDI. Theo OECD (2025), mặc dù FDI đóng góp đáng kể vào tăng trưởng và xuất khẩu của Việt Nam, mối liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài và nhà cung ứng trong nước vẫn còn hạn chế. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục thu hút dự án FDI mới mà còn phải xây dựng cơ chế giúp doanh nghiệp trong nước nâng cấp năng lực và trở thành đối tác cung ứng có chất lượng, ổn định, đáp ứng các tiêu chuẩn của nhà đầu tư.

GIẢI PHÁP THU HÚT FDI GẮN VỚI NÂNG CAO NĂNG LỰC LIÊN KẾT CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Để nâng cao hiệu quả thu hút FDI, Thái Nguyên cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Thứ nhất, nâng cao chất lượng thu hút FDI. Tỉnh cần ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường và có khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước. Hoạt động xúc tiến đầu tư cần gắn với việc xác định nhu cầu nguyên liệu, linh kiện, dịch vụ và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ mà nhà đầu tư nước ngoài có thể đặt hàng từ doanh nghiệp địa phương.

Thứ hai, phát triển năng lực nhà cung ứng trong nước. Nâng cao năng lực nhà cung ứng là giải pháp trọng tâm để tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. OECD (2021) nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu cần được hỗ trợ về đào tạo, đổi mới công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, chứng nhận chất lượng, tài chính chuỗi cung ứng và kết nối với doanh nghiệp đầu chuỗi. Đối với Thái Nguyên, trước hết cần rà soát và phân loại doanh nghiệp trong nước theo ngành nghề, sản phẩm, quy mô sản xuất, năng lực công nghệ và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn. Việc phân loại cần dựa trên dữ liệu thực tế, tránh mặc định rằng mọi doanh nghiệp trong các ngành này đều có khả năng trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp FDI.

Thứ ba, tăng cường kết nối doanh nghiệp và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tỉnh cần xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực nhà cung ứng, thường xuyên cập nhật nhu cầu mua hàng của doanh nghiệp FDI và tổ chức các chương trình kết nối theo từng nhóm sản phẩm cụ thể. Các hoạt động kết nối cần hướng tới kết quả thực chất như đánh giá nhà cung ứng, thử nghiệm sản phẩm và ký kết hợp đồng cung ứng.

Thứ tư, nâng cao năng lực công nghệ, nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận vốn. Cần thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp, trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong đào tạo lao động kỹ thuật, chuyển giao tri thức và cải tiến quy trình sản xuất. Đồng thời, tăng cường kết nối doanh nghiệp với các tổ chức tín dụng và chương trình hỗ trợ phù hợp để đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả liên kết. Tỉnh cần xác định đầu mối điều phối hoạt động phát triển nhà cung ứng, đồng thời xây dựng hệ thống chỉ tiêu theo dõi như tỷ lệ mua hàng từ doanh nghiệp trong nước, số nhà cung ứng được công nhận, giá trị hợp đồng cung ứng và số doanh nghiệp được hỗ trợ nâng cấp công nghệ. Việc đánh giá định kỳ sẽ giúp xác định những hạn chế còn tồn tại và điều chỉnh chính sách phù hợp, qua đó nâng cao hiệu quả lan tỏa của FDI đối với khu vực doanh nghiệp trong nước.

KẾT LUẬN

Thu hút FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu lớn của khu vực FDI cũng đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa. Vì vậy, tỉnh cần chú trọng phát triển nhà cung ứng, nâng cao năng lực công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện khả năng kết nối doanh nghiệp. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lan tỏa của FDI, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước và thúc đẩy phát triển kinh tế Thái Nguyên theo hướng bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. OECD (2021). SME and Entrepreneurship Policy in Viet Nam. OECD Publishing.

2. OECD (2025). OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025. OECD Publishing.

3. UBND tỉnh Thái Nguyên (2026). Báo cáo số 251/BC-UBND về Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026, ngày 7/7/2026.

Ngày nhận bài: 22/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026

Các tin khác

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Nghiên cứu không chỉ mở rộng hướng nghiên cứu về không gian trải nghiệm đô thị về đêm từ kết quả lòng trung thành sang các phản ứng hành vi có ý nghĩa đối với tính bền vững của điểm đến, mà còn giải thích khả năng chuyển hóa sự gắn kết tâm lý với điểm đến thành khuynh hướng lựa chọn có trách nhiệm.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cùng yêu cầu khắt khe về thời gian giao hàng đang thu hẹp lợi thế cạnh tranh của các phương thức vận tải độc lập, buộc hệ thống logistics quốc gia phải chuyển dịch sang mô hình vận tải đa phương thức nhằm tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa.
Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Theo OECD, khi mức thuế tối thiểu toàn cầu 15% được áp dụng, hiệu quả cạnh tranh của ưu đãi thuế tại cấp địa phương bị thu hẹp đáng kể, buộc các địa phương phải chuyển trọng tâm sang các công cụ tài chính phi thuế.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đưa chuyển đổi số trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với doanh nghiệp. Trong kế toán, quá trình này thể hiện qua việc thay thế các quy trình ghi chép thủ công bằng phần mềm trên nền tảng điện toán đám mây, hóa đơn điện tử, chữ ký số và khai thuế điện tử
Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

TikTok ngày càng tích hợp giải trí, tương tác xã hội và thương mại điện tử, tác động đến nhận thức, ý định và hành vi mua sắm của Gen Z. Đây là cơ hội để thương hiệu mỹ phẩm nội địa tiếp cận khách hàng trẻ, đồng thời đối mặt với cạnh tranh từ các thương hiệu quốc tế.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Khi các động lực tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và mở rộng vốn dần suy giảm, đổi mới sáng tạo trở thành điều kiện then chốt để nâng cao năng suất và vị thế của nền kinh tế.
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam, phát triển dịch vụ tài chính cá nhân là xu hướng tất yếu đối với các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng doanh thu và phân tán rủi ro.
Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Bài viết đề xuất khung phân tích SCRM trong lĩnh vực bảo hiểm, góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết và định hướng nghiên cứu, thực hành quản trị. Khung này xuất phát từ yêu cầu tích hợp mục tiêu phát triển bền vững vào CRM, gắn hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm đối với khách hàng và các bên liên quan.
Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Sự phát triển của thương mại điện tử đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý thông tin kế toán tại doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, dữ liệu kế toán không chỉ phát sinh từ hoạt động bán hàng mà còn liên quan đến các khoản chiết khấu, phí dịch vụ nền tảng, hoàn trả hàng hóa và đối soát thanh toán. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống thông tin kế toán trong việc tích hợp, xử lý và cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời nhằm phục vụ quản lý và ra quyết định. Do đó, việc xem xét mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống thông tin kế toán, chất lượng thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Chuyển đổi số đang trở thành định hướng chiến lược của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đổi mới mô hình kinh doanh và tăng cường năng lực cạnh tranh.