Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Nghiên cứu - Trao đổi 21:45 | 28/10/2026
Nghiên cứu không chỉ mở rộng hướng nghiên cứu về không gian trải nghiệm đô thị về đêm từ kết quả lòng trung thành sang các phản ứng hành vi có ý nghĩa đối với tính bền vững của điểm đến, mà còn giải thích khả năng chuyển hóa sự gắn kết tâm lý với điểm đến thành khuynh hướng lựa chọn có trách nhiệm.

Trần Thiên Bảo

Nguyễn Thị Thanh Ngân (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Phạm Thị Thắm, Lê Gia Uy, Chu Thị Phượng

Khoa Du lịch và Ẩm thực, Trường Đại học Công Thương Thành Phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Nghiên cứu này kiểm định vai trò của các thành phần trong không gian trải nghiệm đô thị về đêm, việc hình thành sự gắn kết điểm đến và các phản ứng hành vi có trách nhiệm của du khách tại TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu từ 616 khách du lịch Gen Z được phân tích bằng SmartPLS 4.0 cho thấy, các thành phần của không gian trải nghiệm đô thị về đêm đều góp phần hình thành Sự gắn kết điểm đến; Sự gắn kết điểm đến thúc đẩy Lựa chọn các dịch vụ hoạt động du lịch ban đêm có trách nhiệm và Truyền miệng tích cực. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở cho các nhà quản lý điểm đến và doanh nghiệp du lịch thiết kế không gian, dịch vụ và trải nghiệm về đêm theo hướng tăng cường kết nối cảm xúc với du khách, khuyến khích các lựa chọn có trách nhiệm và duy trì các giá trị văn hóa, môi trường của điểm đến.

Từ khóa: Không gian trải nghiệm đô thị về đêm, sự gắn kết điểm đến, ý định truyền miệng tích cực, lựa chọn các dịch vụ/hoạt động có trách nhiệm, Gen Z

Abstract

This study examines the role of different components of the nighttime urban experience space in fostering destination attachment and responsible behavioral responses among tourists in Ho Chi Minh City. Data from 616 Gen Z tourists were analyzed using SmartPLS 4.0. The results show that all components of the nighttime urban experience space contribute to destination attachment, which in turn promotes the selection of responsible nighttime tourism services and activities, as well as positive word of mouth. The findings provide a basis for destination managers and tourism businesses to design nighttime spaces, services, and experiences that strengthen tourists’ emotional connections with destinations, encourage responsible choices, and preserve their cultural and environmental values.

Keywords: Nighttime urban experience space, destination attachment, word-of-mouth intention, responsible service and activity choices, Gen Z

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh hoạt động kinh tế, văn hóa, giải trí tại các đô thị ngày càng mở rộng, du lịch về đêm trở thành một yếu tố quan trọng góp phần gia tăng sức sống đô thị và kéo dài thời gian trải nghiệm của du khách. Nghiên cứu của Cai và cộng sự (2025) cho thấy, không gian trải nghiệm du lịch về đêm có thể tác động đến lòng trung thành của du khách thông qua sự gắn kết với điểm đến bao gồm sự phụ thuộc điểm đến và bản sắc nơi chốn, khẳng định vai trò của các yếu tố không gian trong việc hình thành những phản ứng tâm lý và hành vi trong bối cảnh du lịch ban đêm. Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy sự gắn kết với điểm đến có thể thúc đẩy các hành vi hướng đến bảo vệ và duy trì giá trị của nơi lưu trú. Tuy nhiên, nghiên cứu không gian đô thị về đêm vẫn chưa giải thích đầy đủ cách các đặc điểm của không gian trải nghiệm được chuyển hóa thành những phản ứng hành vi của du khách; vai trò của sự gắn kết điểm đến đối với lựa chọn các hoạt động có trách nhiệm và truyền miệng tích cực trong bối cảnh du lịch về đêm vẫn cần được làm rõ.

Xuất phát từ khoảng trống này, nghiên cứu xem xét 4 thành phần của không gian trải nghiệm đô thị về đêm gồm: Môi trường vật chất, Môi trường xã hội, Không gian văn hóa - biểu tượng và Môi trường tự nhiên, tác động đến Sự gắn kết điểm đến; đồng thời kiểm định ảnh hưởng của Sự gắn kết điểm đến đến Lựa chọn các dịch vụ, hoạt động du lịch ban đêm có trách nhiệm và Truyền miệng tích cực trong bối cảnh đô thị về đêm tại TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, nghiên cứu không chỉ mở rộng hướng nghiên cứu về không gian trải nghiệm đô thị về đêm từ kết quả lòng trung thành sang các phản ứng hành vi có ý nghĩa đối với tính bền vững của điểm đến, mà còn giải thích khả năng chuyển hóa sự gắn kết tâm lý với điểm đến thành khuynh hướng lựa chọn có trách nhiệm. Đồng thời, nghiên cứu góp phần làm rõ rằng giá trị của không gian đô thị về đêm không chỉ được phản ánh qua khả năng giữ chân hoặc kích thích du khách giới thiệu điểm đến, mà còn qua khả năng hình thành mối quan hệ tâm lý đủ mạnh để thúc đẩy những lựa chọn có trách nhiệm đối với môi trường, văn hóa và cộng đồng địa phương.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Không gian trải nghiệm đô thị về đêm và sự gắn kết điểm đến

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, không gian trải nghiệm tại điểm đến có vai trò quan trọng trong việc hình thành sự gắn kết của du khách. Shen và cộng sự (2026) xác định 6 thành phần của không gian trải nghiệm homestay tại nông thôn, gồm giác quan, chức năng, xã hội, tự nhiên, văn hóa và văn hóa hiếu khách, qua đó ảnh hưởng đến cảm xúc, đánh giá và sự gắn kết với nơi chốn của khách lưu trú. Tương tự, Zhang và cộng sự (2024) nhấn mạnh vai trò của chất lượng trải nghiệm trong việc hình thành sự gắn kết điểm đến. Trong bối cảnh đô thị về đêm, Cai và cộng sự (2025) phân chia không gian trải nghiệm thành 4 chiều cạnh gồm môi trường vật chất, môi trường xã hội, không gian văn hóa - biểu tượng và môi trường tự nhiên. Các chiều cạnh này phản ánh những thuộc tính khác nhau của không gian du lịch về đêm và có thể góp phần hình thành những trải nghiệm, cảm nhận và đánh giá tích cực của du khách đối với điểm đến. Khi các đặc điểm của không gian đáp ứng tốt nhu cầu trải nghiệm, tạo ra tương tác xã hội và mang lại ý nghĩa văn hóa, du khách có xu hướng hình thành mối liên hệ tình cảm và nhận thức sâu sắc hơn với điểm đến.

Trên cơ sở các bằng chứng trên, nghiên cứu đề xuất rằng 4 chiều cạnh của không gian trải nghiệm đô thị về đêm có mối quan hệ tích cực với Sự gắn kết điểm đến, với các giả thuyết sau:

H1: Môi trường vật chất có tác động tích cực đến Sự gắn kết điểm đến.

H2: Môi trường xã hội có tác động tích cực đến Sự gắn kết điểm đến.

H3: Không gian văn hóa - biểu tượng có tác động tích cực đến Sự gắn kết điểm đến.

H4: Môi trường tự nhiên có tác động tích cực đến Sự gắn kết điểm đến.

Sự gắn kết điểm đến và hành vi của khách du lịch.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, sự gắn kết điểm đến có tác động tích cực đến lựa chọn các dịch vụ và hoạt động có trách nhiệm. Hu và Masri (2026) cho rằng, sự gắn kết nơi chốn được xác nhận có ảnh hưởng tích cực đến hành vi du lịch có trách nhiệm. Kết quả này cũng có thể được lý giải từ mối liên hệ giữa hành vi có trách nhiệm và lựa chọn sản phẩm du lịch. Nguyen và cộng sự (2024) nghiên cứu với 200 mẫu khảo sát tại Thừa Thiên Huế cho thấy, ý định thực hiện hành vi du lịch có trách nhiệm đã tác động tích cực đến lựa chọn của các tour du lịch có trách nhiệm. Trong đó, lựa chọn được thể hiện qua các khía cạnh như: ưu tiên chương trình mang lại lợi ích cho cộng đồng, bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa địa phương và yêu cầu du khách thực hiện trách nhiệm trong quá trình tham gia. Điều này cung cấp cơ sở phù hợp để xem xét lựa chọn dịch vụ/hoạt động về đêm không chỉ dưới góc độ tiện ích hay trải nghiệm cá nhân, mà còn dưới góc độ trách nhiệm đối với nơi chốn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H5: Sự gắn kết điểm đến có tác động tích cực đến Lựa chọn các dịch vụ/hoạt động về đêm có trách nhiệm.

Bên cạnh đó, sự gắn kết nơi chốn được xem là một tiền đề quan trọng của các hành vi trung thành và giới thiệu điểm đến (Nguyễn, 2026; Prayag và Ryan, 2012; Strandberg và cộng sự, 2020). Các nghiên cứu cho rằng, trải nghiệm du lịch có thể được chuyển hóa thành sự gắn kết điểm đến, từ đó thúc đẩy các hành vi ủng hộ và quảng bá điểm đến của du khách. Strandberg và cộng sự (2020) cho thấy, sự gắn kết điểm đến đóng vai trò trung gian quan trọng giữa hình ảnh cảm xúc về điểm đến và ý định truyền miệng tích cực đối với cả người dân và khách du lịch. Do đó, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết:

H6: Sự gắn kết điểm đến có tác động tích cực đến Ý định truyền miệng tích cực của khách du lịch

Mô hình nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết và giả thuyết, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát khách du lịch Gen Z đến TP.Hồ Chí Minh. Thang đo được kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu của nhiều tác giả. Cụ thể, Không gian trải nghiệm đô thị về đêm gồm 4 thành phần: Môi trường vật chất (PhE, gồm 10 thang đo), Môi trường xã hội (SE, gồm 5 thang đo), Không gian văn hóa - biểu tượng (SSE, gồm 5 thang đo) và Môi trường tự nhiên (NaS, gồm 3 thang đo), tất cả được kế thừa và điều chỉnh từ Cai và cộng sự (2025). Sự gắn kết điểm đến (DA, gồm 8 thang đo), được kế thừa từ Veasna và cộng sự (2013). Lựa chọn các dịch vụ/hoạt động du lịch ban đêm có trách nhiệm (CRNTA, gồm 4 thang đo), được kế thừa từ Nguyen và cộng sự (2024). Ý định truyền miệng tích cực ((WOM, gồm 3 thang đo) được kế thừa từ Liao và cộng sự (2026). Các thang đo sau khi hiệu chỉnh được sử dụng để xây dựng bảng hỏi khảo sát. Sau quá trình thu thập và sàng lọc dữ liệu, 616 phiếu hợp lệ được sử dụng cho phân tích. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SmartPLS 4.0 nhằm đánh giá mô hình đo lường và mô hình cấu trúc. Mô hình đo lường được đánh giá thông qua độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các thang đo; mô hình cấu trúc được sử dụng để kiểm định các mối quan hệ giả thuyết giữa các biến nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đánh giá mô hình đo lường

Bảng 1 cho thấy các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ. Cụ thể, các hệ số Outer loading > 0.7; Cronbach’s Alpha > 0.7; rho_A > 0.7 và AVE > 0.5. Theo Hair và cộng sự (2019) các chỉ số này cho thấy thang đo có độ tin cậy và giá trị hội tụ đạt yêu cầu, do đó có thể sử dụng cho phân tích mô hình cấu trúc.

Bảng 1: Độ tin cậy và và giá trị hội tụ của mô hình đo lường

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Nguồn: Phân tích dữ liệu của nhóm tác giả

Bảng 2: Kết quả đánh giá giá trị phân biệt (HTMT)

CRNTA

DA

NaS

PhE

SE

SSE

WOM

CRNTA

DA

0.130

NaS

0.029

0.766

PhE

0.076

0.758

0.773

SE

0.106

0.701

0.680

0.743

SSE

0.084

0.782

0.846

0.832

0.773

WOM

0.095

0.742

0.647

0.686

0.620

0.707

Nguồn: Phân tích dữ liệu của nhóm tác giả

Các giá trị HTMT giữa các khái niệm đều dưới ngưỡng 0.85 (Bảng 2), cho thấy các thang đo đạt yêu cầu về giá trị phân biệt. Kết quả này khẳng định các khái niệm trong mô hình có sự phân biệt với nhau và đáp ứng yêu cầu để tiếp tục đánh giá mô hình cấu trúc.

Đánh giá mô hình cấu trúc và kiểm định giả thuyết

Kết quả phân tích mô hình cấu trúc cho thấy cả 6 giả thuyết H1-H6 đều được ủng hộ, với các hệ số đường dẫn đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (p < 0.05). Các mối quan hệ trong mô hình đều mang chiều tác động phù hợp với các giả thuyết đề xuất, với hệ số β nhận giá trị từ 0.131 đến 0.675, cho thấy mức độ tác động khác nhau giữa các mối quan hệ. Trong đó, mối quan hệ giữa Sự gắn kết điểm đến và Ý định truyền miệng tích cực có hệ số tác động mạnh nhất (β = 0.675), trong khi Sự gắn kết điểm đến có mức tác động thấp nhất đến Lựa chọn các dịch vụ/hoạt động có trách nhiệm (β = 0.131). Kết quả này cung cấp bằng chứng thực nghiệm ủng hộ các mối quan hệ được đề xuất trong mô hình nghiên cứu.

Bảng 3: Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc và các giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết

Mối quan hệ

β

T-value

P-value

Kết luận

H1

Môi trường vật chất → Sự gắn kết điểm đến

0.257

4.655

0.000

Chấp nhận

H2

Môi trường xã hội → Sự gắn kết điểm đến

0.166

3.349

0.001

Chấp nhận

H3

Không gian văn hóa - biểu tượng → Sự gắn kết điểm đến

0.235

3.775

0.000

Chấp nhận

H4

Môi trường tự nhiên → Sự gắn kết điểm đến

0.237

5.175

0.000

Chấp nhận

H5

Sự gắn kết điểm đến → Lựa chọn các dịch vụ/hoạt động có trách nhiệm

0.131

3.89

0.000

Chấp nhận

H6

Sự gắn kết điểm đến → Ý định truyền miệng tích cực

0.675

21.564

0.000

Chấp nhận

Nguồn: Phân tích dữ liệu của nhóm tác giả

Hình 2: Mô hình cấu trúc

Phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ trải nghiệm và gắn kết điểm đến

Nguồn: Phân tích dữ liệu của nhóm tác giả (2026)

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy các thành phần của không gian đô thị về đêm đều góp phần hình thành Sự gắn kết của du khách với điểm đến. Phát hiện này phù hợp với Shen và cộng sự (2026) khi cho rằng không gian trải nghiệm homestay có ảnh hưởng đến sự gắn kết điểm đến và hành vi của khách lưu trú. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này chỉ tương đồng một phần với nghiên cứu của Cai và cộng sự (2025) về mối quan hệ giữa các thành phần của không gian trải nghiệm du lịch đô thị về đêm với sự gắn kết điểm đến. Điểm đóng góp khoa học đáng chú ý của nghiên cứu này là mở rộng cách tiếp cận sự gắn kết điểm đến trong bối cảnh không gian đô thị về đêm, thay vì chỉ xem xét các thuộc tính điểm đến nói chung.

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xác nhận Sự gắn kết điểm đến có tác động tích cực đến Lựa chọn các dịch vụ và hoạt động có trách nhiệm của du khách. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Hu và Masri (2026), trong đó sự gắn kết nơi chốn được xác nhận có ảnh hưởng tích cực đến hành vi du lịch có trách nhiệm. Nguyen và cộng sự (2024) chỉ ra rằng, ý định thực hiện hành vi du lịch có trách nhiệm có tác động tích cực đến lựa chọn các tour du lịch có trách nhiệm; trong đó, lựa chọn được thể hiện qua các khía cạnh như ưu tiên chương trình mang lại lợi ích cho cộng đồng, bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa địa phương và ý thức thực hiện trách nhiệm cá nhân. Trên cơ sở đó, nghiên cứu hiện tại gợi ý rằng, sự gắn kết với điểm đến có thể tạo ra một nền tảng tâm lý để du khách chuyển từ sự gắn kết về mặt cảm xúc sang những lựa chọn cụ thể trong quá trình trải nghiệm. Trong không gian trải nghiệm đô thị về đêm, mức độ gắn kết với điểm đến càng cao thì xu hướng cân nhắc và lựa chọn những dịch vụ, hoạt động phù hợp hơn với lợi ích của cộng đồng, văn hóa và môi trường bản địa của du khách ngày càng mạnh mẽ.

Cuối cùng, mối quan hệ tác động tích cực giữa Sự gắn kết điểm đến và Ý định truyền miệng tích cực được chứng minh rõ nét. Khi du khách hình thành mối liên hệ tình cảm và tâm lý với điểm đến, họ có xu hướng chia sẻ và giới thiệu những trải nghiệm tích cực về nơi này cho người khác. Kết quả này đồng thuận với một số nghiên cứu của Prayag và Ryan (2012), Nguyễn (2026) cũng như Strandberg và cộng sự (2020) khi khẳng định vai trò then chốt của gắn kết nơi chốn đối với hành vi truyền miệng tích cực ở cả cư dân và du khách. Tại TP.Hồ Chí Minh, phát hiện này một lần nữa nhấn mạnh sự gắn kết điểm đến thông qua không gian trải nghiệm đô thị về đêm, từ đó kích hoạt cơ chế truyền miệng tự nguyện và tích cức từ phía du khách.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Nghiên cứu cho thấy các thành phần của không gian trải nghiệm đô thị về đêm có vai trò tích cực trong hình thành Sự gắn kết của du khách với điểm đến. Về mặt thực tiễn, các nhà quản lý điểm đến và doanh nghiệp du lịch cần chú trọng thiết kế không gian và trải nghiệm về đêm theo hướng tạo ra sự kết nối cảm xúc với du khách, đồng thời khuyến khích các dịch vụ, hoạt động mang lại lợi ích cho cộng đồng và duy trì các giá trị văn hóa, môi trường của điểm đến. Nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mô hình bằng cách xem xét cảm xúc của du khách như một cơ chế trung gian hoặc biến điều tiết trong mối quan hệ giữa không gian trải nghiệm đô thị về đêm và các kết quả hành vi. Bên cạnh cảm xúc tích cực như thư giãn, hạnh phúc, phấn khích hoặc cảm giác được chữa lành, các nghiên cứu tiếp theo có thể xem xét cả những cảm xúc tiêu cực như quá tải, bất an, khó chịu hoặc thất vọng. Cách tiếp cận này có thể giúp làm rõ liệu cùng một không gian đô thị về đêm có thể tạo ra những phản ứng cảm xúc khác nhau và từ đó dẫn đến các lựa chọn, hành vi truyền miệng hoặc ý định khác nhau của du khách.

(*) Nghiên cứu này do Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh tài trợ và cấp kinh phí theo Quyết định số 3004/QĐ-DCT ngày 15/7/2026.

Tài liệu tham khảo:

1. Cai, K., Cheng, Y., Guo, L., Luo, L., & Chen, J. (2025). Does the Urban Nighttime Tourism Experiencescape Enhance Tourist Loyalty? The Mediating Role of Place Attachment. Sustainability, 17(24), 11312. https://doi.org/10.3390/su172411312

2. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2-24. https://doi.org/10.1108/EBR-11-2018-0203

3. Hu, T., & Masri, R. (2026). The mechanisms underlying citizen responsible tourism behavior: Evidence from tourists in Beijing. Frontiers in Sustainable Tourism, 5, 1864217. https://doi.org/10.3389/frsut.2026.1864217

4. Liao, W., Khan, M. S., & Liao, G. (2026). From appraisal to word-of-mouth: Affective pathways through awe and restoration in high-altitude ecocultural tourism using a mixed-methods design. Frontiers in Psychology, 16, 1740267. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2025.1740267

5. Nguyen, T. T. N., Tran, H. T., Phan, T. T. L., & Le, T. T. X. (2024). How Responsible Tourism Behavioral Intentions Influence Tour Choices: Effects of Economic, Socio-Cultural, and Environmental Responsibility. International Journal of Hospitality & Tourism Administration, 25(5), 1062-1090. https://doi.org/10.1080/15256480.2023.2219252

6. Nguyễn, T. T. N. (2026). Tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ đến ý định hành vi của du khách: Trường hợp tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp Chí Khoa Học và Công Nghệ - Trường Đại Học Kinh Tế - Kỹ Thuật Công Nghệ, Số đặc biệt

7. Prayag, G., & Ryan, C. (2012). Antecedents of Tourists’ Loyalty to Mauritius: The Role and Influence of Destination Image, Place Attachment, Personal Involvement, and Satisfaction, 51(3), 342-356. Journal of Travel Research. https://doi.org/10.1177/0047287511410321

8. Shen, H., Hu, Y., Fan, D. X. F., & Buhalis, D. (2026). Rural Homestay Experiencescape: Scale Development and Its Emotional and Cognitive Paths to Guest Engagement Behavior. Journal of Hospitality & Tourism Research, 50(2), 206-224. https://doi.org/10.1177/10963480241305765

9. Strandberg, C., Styvén, M. E., & Hultman, M. (2020). Places in good graces: The role of emotional connections to a place on word-of-mouth. Journal of Business Research, 119, 444-452. https://doi.org/10.1016/j.jbusres.2019.11.044

10. Veasna, S., Wu, W.-Y., & Huang, C.-H. (2013). The impact of destination source credibility on destination satisfaction: The mediating effects of destination attachment and destination image. Tourism Management, 36, 511-526. https://doi.org/10.1016/j.tourman.2012.09.007

11. Zhang, J., Jin, L., Pan, X., & Wang, Y. (2024). Pro-Environmental Behavior of Tourists in Ecotourism Scenic Spots: The Promoting Role of Tourist Experience Quality in Place Attachment. Sustainability, 16(20), 8984. https://doi.org/10.3390/su16208984

Ngày nhận bài: 3/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/10/2026; Ngày duyệt đăng: 26/10/2026

Các tin khác

Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cùng yêu cầu khắt khe về thời gian giao hàng đang thu hẹp lợi thế cạnh tranh của các phương thức vận tải độc lập, buộc hệ thống logistics quốc gia phải chuyển dịch sang mô hình vận tải đa phương thức nhằm tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa.
Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Các giải pháp tài chính phi thuế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP. Hà Nội

Theo OECD, khi mức thuế tối thiểu toàn cầu 15% được áp dụng, hiệu quả cạnh tranh của ưu đãi thuế tại cấp địa phương bị thu hẹp đáng kể, buộc các địa phương phải chuyển trọng tâm sang các công cụ tài chính phi thuế.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đưa chuyển đổi số trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với doanh nghiệp. Trong kế toán, quá trình này thể hiện qua việc thay thế các quy trình ghi chép thủ công bằng phần mềm trên nền tảng điện toán đám mây, hóa đơn điện tử, chữ ký số và khai thuế điện tử
Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp

Thu hút FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu lớn của khu vực FDI cũng đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa.
Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội

TikTok ngày càng tích hợp giải trí, tương tác xã hội và thương mại điện tử, tác động đến nhận thức, ý định và hành vi mua sắm của Gen Z. Đây là cơ hội để thương hiệu mỹ phẩm nội địa tiếp cận khách hàng trẻ, đồng thời đối mặt với cạnh tranh từ các thương hiệu quốc tế.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Khi các động lực tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và mở rộng vốn dần suy giảm, đổi mới sáng tạo trở thành điều kiện then chốt để nâng cao năng suất và vị thế của nền kinh tế.
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam, phát triển dịch vụ tài chính cá nhân là xu hướng tất yếu đối với các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng doanh thu và phân tán rủi ro.
Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Quản trị quan hệ khách hàng theo định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực bảo hiểm: Tổng quan lý thuyết và đề xuất khung phân tích

Bài viết đề xuất khung phân tích SCRM trong lĩnh vực bảo hiểm, góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết và định hướng nghiên cứu, thực hành quản trị. Khung này xuất phát từ yêu cầu tích hợp mục tiêu phát triển bền vững vào CRM, gắn hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm đối với khách hàng và các bên liên quan.
Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Chất lượng hệ thống thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trên sàn thương mại điện tử: Vai trò trung gian của chất lượng thông tin kế toán

Sự phát triển của thương mại điện tử đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý thông tin kế toán tại doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, dữ liệu kế toán không chỉ phát sinh từ hoạt động bán hàng mà còn liên quan đến các khoản chiết khấu, phí dịch vụ nền tảng, hoàn trả hàng hóa và đối soát thanh toán. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống thông tin kế toán trong việc tích hợp, xử lý và cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời nhằm phục vụ quản lý và ra quyết định. Do đó, việc xem xét mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống thông tin kế toán, chất lượng thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Tác động của chuyển đổi số đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của năng lực quản trị rủi ro số

Chuyển đổi số đang trở thành định hướng chiến lược của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đổi mới mô hình kinh doanh và tăng cường năng lực cạnh tranh.