Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP. Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị

Doanh nghiệp - Kinh doanh 17:45 | 29/09/2026 Nguyễn Thị Oanh
Sau 40 năm mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài, yêu cầu đối với khu vực FDI ở Việt Nam đã chuyển từ gia tăng số lượng dự án, quy mô vốn sang nâng cao chất lượng và khả năng chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành năng lực sản xuất, công nghệ, năng suất và sức cạnh tranh dài hạn.

TS. Nguyễn Thị Oanh

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị; đánh giá thực trạng tại TP. Hà Nội, chỉ ra những kết quả, hạn chế và khoảng cách so với yêu cầu phát triển mới. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất chuyển mạnh từ quản lý thủ tục sang quản trị theo chất lượng, hiệu quả, vòng đời dự án và tác động lan tỏa của FDI.

Từ khóa: Quản lý nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Thành phố Hà Nội, Nghị quyết số 10-NQ/TW

Abstract

This article analyzes the requirements for reforming the state management of foreign direct investment (FDI) enterprises in the spirit of Politburo Resolution No. 10-NQ/TW dated June 8, 2026, and assesses the current situation in Ha Noi, identifying achievements, limitations, and gaps in relation to emerging development requirements. On this basis, the article proposes a decisive shift from procedural management toward governance based on quality, effectiveness, the project life cycle, and the spillover effects of FDI.

Keywords: State management, foreign direct investment (FDI) enterprises, Ha Noi, Resolution No. 10-NQ/TW

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau 40 năm mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài, yêu cầu đối với khu vực FDI ở Việt Nam đã chuyển từ gia tăng số lượng dự án, quy mô vốn sang nâng cao chất lượng và khả năng chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành năng lực sản xuất, công nghệ, năng suất và sức cạnh tranh dài hạn.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đánh dấu bước chuyển rõ rệt về tư duy: từ “thu hút đầu tư nước ngoài” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Trọng tâm không chỉ là đưa dòng vốn vào nền kinh tế, mà bao quát quá trình hình thành, vận hành, liên kết, lan tỏa và đóng góp của khu vực FDI đối với năng lực nội sinh. Theo đó, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được xác định là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, vừa bổ sung vốn trung và dài hạn, vừa là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng thị trường.

Sự chuyển đổi này đòi hỏi định vị lại mục tiêu quản lý nhà nước. Theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, kết quả đầu ra và tác động phát triển phải trở thành căn cứ chủ yếu để đánh giá hiệu quả quản lý. Đặc biệt, yêu cầu “quản trị cả vòng đời dự án” đòi hỏi quản lý phải bao quát từ lựa chọn nhà đầu tư, triển khai và vận hành dự án, thực hiện cam kết về vốn, công nghệ, lao động, môi trường đến mở rộng, điều chỉnh, chuyển nhượng, tái cấu trúc hoặc chấm dứt dự án.

Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu kết hợp kiến tạo phát triển với kiểm soát rủi ro. Môi trường đầu tư chất lượng cao phải vừa thuận lợi, minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo và chi phí tuân thủ thấp đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt; vừa đủ năng lực phát hiện, ngăn ngừa và xử lý rủi ro về môi trường, tài nguyên, thuế, đất đai, công nghệ và an ninh kinh tế. Đồng thời, quản lý nhà nước cần mở rộng từ kiểm soát tuân thủ sang chủ động kiến tạo liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa, viện nghiên cứu, trường đại học, cơ sở đào tạo nghề và các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo. “Lan tỏa” từ FDI phải trở thành đối tượng của chính sách và quản lý, thay vì chỉ là hệ quả kỳ vọng.

Đối với Hà Nội, những yêu cầu trên có ý nghĩa đặc biệt. Với vị thế Thủ đô và lợi thế về khoa học, công nghệ, giáo dục - đào tạo, dịch vụ và đổi mới sáng tạo, Hà Nội không nên cạnh tranh FDI bằng đất đai, lao động giá rẻ hay ưu đãi tài chính, mà bằng chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, hạ tầng số, năng lực đổi mới sáng tạo và hiệu quả quản trị đầu tư. Thu hút các tập đoàn đa quốc gia cần gắn với hình thành trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trung tâm điều hành và các hoạt động dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Điều đó đòi hỏi Thành phố đồng thời nâng cao chất lượng lựa chọn dự án và năng lực quản trị sau cấp phép, lấy đóng góp của FDI đối với năng lực công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, liên kết doanh nghiệp và sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô làm thước đo quan trọng.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI TẠI TP. HÀ NỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 10-NQ/TW

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI tại Hà Nội đã có những chuyển biến đáng kể. Quy mô vốn tiếp tục tăng, môi trường đầu tư được cải thiện, chính sách thu hút từng bước hướng tới các dự án có chất lượng và hàm lượng công nghệ cao hơn. Tuy nhiên, nếu đặt trong hệ tiêu chí mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW, khoảng cách giữa kết quả thu hút vốn và năng lực quản trị khu vực FDI vẫn còn khá rõ.

Đánh giá quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI tại Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW cần đặt trong mối quan hệ giữa quy mô và cơ cấu dòng vốn, chất lượng môi trường đầu tư, khả năng tạo liên kết - lan tỏa và năng lực quản trị sau cấp phép. Cách tiếp cận này cho thấy Hà Nội đã có những chuyển biến rõ về thu hút và cải thiện môi trường đầu tư, nhưng kết quả quản lý chưa đồng đều giữa các khâu, nhất là ở chất lượng dự án, liên kết với khu vực trong nước và quản trị dựa trên dữ liệu.

Quy mô FDI tăng nhanh tạo nền tảng nguồn lực lớn hơn cho phát triển, đồng thời mở rộng đáng kể phạm vi quản lý nhà nước. Năm 2024, Hà Nội thu hút 2,162 tỷ USD vốn FDI, gồm 293 dự án cấp mới với số vốn đăng ký 1,212 tỷ USD, 205 dự án điều chỉnh tăng vốn với 297 triệu USD và 279 lượt góp vốn, mua cổ phần trị giá 652 triệu USD (Thống kê TP. Hà Nội, 2025). Năm 2025, tổng vốn FDI thu hút tăng lên 4,365 tỷ USD (Viện Chiến lược và Chính sách KTTC, 2026). Tỷ trọng vốn tăng thêm lớn cho thấy khu vực dự án đang hoạt động tiếp tục là một nguồn quan trọng của tăng trưởng FDI tại Hà Nội.

Đến ngày 15/6/2026, Hà Nội có trên 9.200 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn thu hút hơn 74,6 tỷ USD; riêng giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 11,3 tỷ USD (Thùy Chi, 2026). Tính đến ngày 21/6/2026, Thành phố thu hút khoảng 3,163 tỷ USD FDI, trong đó khoảng 72% tập trung vào dịch vụ, khoa học và công nghệ (Nhật Nam, 2026). Cơ cấu vốn FDI tích lũy cho thấy bất động sản chiếm 36,54%, công nghiệp chế biến, chế tạo 23,61%, buôn bán hàng hóa và thương mại 12,43%, hoạt động chuyên môn, khoa học 12,4%; nhà đầu tư đến từ 117 quốc gia và vùng lãnh thổ, với Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc thuộc nhóm đối tác hàng đầu (Thùy Linh, 2025).

Những kết quả trên gắn với quá trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư của Thành phố. Việc triển khai Luật Thủ đô và các cơ chế đặc thù đã mở rộng dư địa chủ động trong lựa chọn, hỗ trợ và quản lý nhà đầu tư. Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND ngày 2/6/2026 của Hội đồng nhân dân TP. Hà Nội về điều chỉnh thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp đã cắt giảm nhiều thành phần hồ sơ; thay 7 biểu mẫu kết quả bằng văn bản giấy bằng hình thức tra cứu trực tuyến trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Thời gian giải quyết thủ tục thành lập doanh nghiệp, chia, tách, hợp nhất, đăng ký chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh được rút xuống còn 2 ngày làm việc; thủ tục chấm dứt hoạt động và giải thể còn 4 ngày làm việc (Nguyễn Mai Uyên, 2026). Những cải cách này trực tiếp giảm chi phí gia nhập và vận hành thị trường đối với doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp FDI.

Đáng chú ý, chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược cũng đang chuyển từ ưu đãi đại trà sang lựa chọn có điều kiện. Nghị quyết số 46/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026 xác định 17 lĩnh vực, ngành, nghề ưu tiên, đồng thời gắn ưu đãi với quy mô, tiến độ đầu tư và giải ngân. Đối với dự án có vốn dưới 6.000 tỷ đồng, nhà đầu tư phải hoàn thành đầu tư, xây dựng theo tiến độ nhưng tối đa không quá 3 năm kể từ ngày bàn giao đất, đất có mặt nước trên thực địa; với dự án từ 6.000 tỷ đồng trở lên, phải giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong 3 năm và đáp ứng các điều kiện theo quy định (Nhật Nam, 2026). Cơ chế này bước đầu đưa kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư vào điều kiện hưởng chính sách, phù hợp với yêu cầu chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ dựa trên kết quả.

Tuy nhiên, cải cách thủ tục và gia tăng quy mô vốn chưa đồng nghĩa với chất lượng quản trị đã được cải thiện tương ứng. PCI năm 2025 cho thấy Hà Nội đạt 7,77 điểm về chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, cao hơn mức trung vị 7,31 điểm của 34 tỉnh, thành phố; chỉ số tiếp cận nguồn lực đạt 6,69 điểm, cao hơn mức trung vị 6,05 điểm. Trong khi đó, một số chỉ số phản ánh chiều sâu của môi trường thể chế lại thấp hơn mức trung vị: tính minh bạch đạt 6,06 điểm so với 6,93 điểm; cạnh tranh bình đẳng 4,77/5,51 điểm; thiết chế pháp lý 6,09/7,29 điểm; chính quyền kiến tạo 5,44/5,46 điểm (VCCI, 2026). PCI không đo riêng khu vực FDI, nhưng phản ánh khá rõ môi trường mà doanh nghiệp FDI đang hoạt động. Khoảng cách giữa cải cách thủ tục với tính minh bạch, cạnh tranh bình đẳng và thiết chế pháp lý cho thấy “thuận lợi hơn” về thủ tục chưa hẳn đã đồng nghĩa với “tốt hơn” về quản trị.

Khoảng cách này thể hiện rõ hơn ở chất lượng công nghệ và tác động lan tỏa của FDI. Kế hoạch hành động của Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW thừa nhận tỷ trọng dự án công nghệ cao, trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo còn khiêm tốn; liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và giá trị gia tăng còn thấp. Điều đó cho thấy quy mô vốn lớn chưa tự động tạo ra năng lực công nghệ và sức cạnh tranh tương ứng cho khu vực doanh nghiệp trong nước.

Chất lượng nguồn nhân lực cũng là một điểm cần lưu ý. Hà Nội có ưu thế lớn về hệ thống trường đại học, học viện, viện nghiên cứu và đội ngũ lao động trình độ cao, nhưng đánh giá năm 2026 của Thành phố cho thấy, nhiều doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực công nghệ cao, R&D và chuyển đổi số vẫn phải đào tạo lại lao động sau tuyển dụng; liên kết giữa cơ quan nhà nước, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp chưa trở thành một cơ chế thường xuyên. Điều đó cho thấy chính sách thu hút đầu tư chưa thực sự gắn kết chặt với chính sách phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và doanh nghiệp trong nước. Trong khi yêu cầu mới là FDI phải góp phần nâng cao chất lượng nhân lực và năng lực công nghệ, năng lực “tiếp nhận” các dự án chất lượng cao của Hà Nội vẫn cần tiếp tục được củng cố.

Một vấn đề khác là quản lý sau cấp phép. Với hơn 9.200 dự án còn hiệu lực vào giữa năm 2026, phương thức chủ yếu dựa vào báo cáo định kỳ và các cuộc thanh tra, kiểm tra riêng lẻ khó đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại. Khi dòng vốn FDI dịch chuyển mạnh hơn sang công nghệ, dịch vụ, tài chính, dữ liệu và tài sản trí tuệ, các rủi ro cần giám sát cũng không còn giới hạn ở tiến độ thực hiện hay sử dụng đất, mà mở rộng sang chuyển giá, giao dịch liên kết, chất lượng công nghệ, bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ, trách nhiệm môi trường và việc thực hiện các cam kết về R&D, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng trong nước.

Vì vậy, trọng tâm không phải là tăng số lượng thanh tra, kiểm tra, mà là đổi mới chất lượng hậu kiểm trên nền tảng dữ liệu. Nếu thông tin về đăng ký đầu tư, đăng ký doanh nghiệp, thuế, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, bảo hiểm và xuất nhập khẩu chưa được liên thông, cơ quan quản lý khó theo dõi đầy đủ “vòng đời” dự án, nhận diện sớm rủi ro và đánh giá chính xác mức độ thực hiện cam kết. Việc Hà Nội xác định nhiệm vụ hoàn thiện “bản đồ đầu tư”, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và tăng cường cơ chế đối thoại với nhà đầu tư vì thế không chỉ phục vụ xúc tiến đầu tư, mà còn là nền tảng để chuyển sang quản trị FDI dựa trên dữ liệu.

Dự thảo Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Hà Nội đã xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, 41 nhiệm vụ cụ thể và 8 nhiệm vụ cần triển khai ngay; trong đó có xây dựng danh mục dự án FDI chiến lược, hoàn thiện “bản đồ đầu tư” Hà Nội, phát triển Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và thiết lập cơ chế đối thoại, đồng hành với nhà đầu tư. Những động thái này cho thấy Thành phố đã bắt đầu chuyển từ quản lý FDI theo số lượng sang quản trị theo chất lượng, dù quá trình mới ở giai đoạn đầu.

Mục tiêu đến năm 2030 cũng phản ánh khá rõ sự thay đổi đó: khoảng 80% vốn FDI thu hút mới đến từ các nền kinh tế phát triển; 50% tổng vốn FDI mới tập trung vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, R&D và công nghiệp xanh; khoảng 350 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45% trở lên; đồng thời thu hút 10 tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở, văn phòng điều hành, trung tâm R&D hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo tại Hà Nội (Thùy Chi, 2026). Đây không còn là cách đo bằng “số vốn - số dự án”, mà bằng nguồn gốc và chất lượng dòng vốn, công nghệ, liên kết và năng lực nội sinh. Để những mục tiêu này có ý nghĩa thực chất, Thành phố cần có hệ thống dữ liệu, công cụ giám sát và cơ chế trách nhiệm đủ khả năng theo dõi kết quả ở từng dự án, từng doanh nghiệp.

Nhìn tổng thể, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI tại Hà Nội đã chuyển biến theo hướng cải thiện môi trường đầu tư, nâng chất lượng lựa chọn dự án và chú trọng hơn đến công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Song, những hạn chế về chất lượng dự án, chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, liên kết chuỗi giá trị, cùng những chỉ báo chưa cao về tính minh bạch, cạnh tranh bình đẳng và năng lực kiến tạo cho thấy mô hình quản lý hiện hành vẫn chưa theo kịp quy mô và yêu cầu phát triển mới của khu vực FDI. Trọng tâm đổi mới vì thế phải chuyển từ quản lý thủ tục đầu tư sang quản trị toàn bộ “vòng đời” và kết quả phát triển của dự án, lấy chất lượng, hiệu quả, mức độ thực hiện cam kết và tác động lan tỏa làm thước đo chủ yếu.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI TẠI HÀ NỘI

Trên cơ sở đối chiếu những vấn đề đặt ra trong thực tiễn quản lý FDI tại Hà Nội với quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ của Nghị quyết số 10-NQ/TW, bài viết đề xuất một số hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI trên địa bàn. Các đề xuất tập trung vào những khâu mà thực tiễn quản lý của Thành phố còn khoảng cách so với yêu cầu mới; đồng thời cụ thể hóa tinh thần quản trị theo chất lượng, kết quả và tác động lan tỏa.

Một là, chuyển từ quản lý thủ tục sang quản trị toàn bộ “vòng đời” và kết quả của dự án FDI. Hà Nội cần theo dõi dự án từ lựa chọn nhà đầu tư, triển khai, vận hành đến điều chỉnh, chuyển nhượng hoặc chấm dứt hoạt động; đồng thời giám sát việc thực hiện các cam kết về vốn, công nghệ, đất đai, lao động, môi trường và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Chính sách ưu đãi cần gắn với kết quả thực hiện thay vì chủ yếu dựa vào quy mô vốn đăng ký. Trên cơ sở dữ liệu tích hợp về đầu tư, doanh nghiệp, thuế, đất đai, xây dựng, lao động, môi trường và xuất nhập khẩu, Thành phố cần hình thành hồ sơ số của từng dự án, phục vụ cảnh báo sớm và hậu kiểm theo mức độ rủi ro.

Hai là, chuyển trọng tâm đánh giá FDI từ quy mô vốn sang chất lượng và năng lực mới tạo ra cho nền kinh tế. Bộ tiêu chí quản lý cần chú trọng mức đầu tư cho R&D, chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, số nhà cung ứng trong nước, lao động kỹ thuật và quản lý người Việt Nam, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng đất và giảm phát thải. Giá trị của dự án FDI phải được đo bằng đóng góp đối với năng suất, công nghệ, nguồn nhân lực và khả năng tham gia chuỗi giá trị của kinh tế Thủ đô.

Ba là, đưa liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực kinh tế trong nước trở thành một chức năng của quản lý nhà nước. Hà Nội cần phát huy lợi thế của hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc để hình thành các cụm liên kết giữa tập đoàn FDI, doanh nghiệp nội địa và cơ sở nghiên cứu. Thành phố cần xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và gắn xúc tiến đầu tư với yêu cầu phát triển, đào tạo nhân lực và chuỗi cung ứng tại địa phương.

Bốn là, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và năng lực thực thi. Cần phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan, xác định đầu mối theo dõi các dự án FDI chiến lược, công khai quy trình và tiêu chí xử lý vướng mắc, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải làm việc với nhiều cơ quan về cùng một vấn đề. Đối thoại với nhà đầu tư cần chuyển từ xử lý vụ việc sang phát hiện điểm nghẽn và phản hồi chính sách. Đồng thời, đội ngũ cán bộ quản lý FDI phải được nâng cao năng lực về pháp luật quốc tế, công nghệ, tài chính, dữ liệu và chuỗi giá trị toàn cầu.

Năm là, xác lập lợi thế cạnh tranh mới trong thu hút FDI của Hà Nội. Thủ đô không nên cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi tài chính, đất đai hoặc lao động giá rẻ, mà bằng chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, hạ tầng khoa học - công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và độ tin cậy của chính sách. Mục tiêu cuối cùng của thu hút FDI phải là chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành công nghệ, tri thức quản trị, nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực cạnh tranh mới cho kinh tế Thủ đô.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

2. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI (2026). Báo cáo thường niên Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 - Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2025. https://pcivietnam.vn/report-2025

3. Nguyễn Mai Uyên (2026). HĐND thành phố Hà Nội ban hành nghị quyết điều chỉnh, cắt giảm thủ tục hành chính lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp theo Luật Thủ đô. https://sotaichinh.hanoi.gov.vn/hdnd-thanh-pho-ha-noi-ban-hanh-nghi-quyet-dieu-chinhcat-giam-thu-tuc-hanh-chinh-linh-vuc-dang-ky-doanh-nghieptheo-luat-thu-do-140650.html

4. Nhật Nam (2026). Thêm hành lang pháp lý trong thu hút đầu tư. https://hanoimoi.vn/them-hanh-lang-phap-ly-trong-thu-hut-dau-tu-1212486.html

5. Thống kê TP. Hà Nội (2025). Niên giám thống kê điện tử thành phố Hà Nội năm 2024. https://thongkehanoi.nso.gov.vn/niengiam-thong-ke/12

6. Thùy Chi (2026). Hà Nội triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW. https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-trien-khai-ke-hoach-hanh-dong-thuc-hien-nghi-quyet-so10-nq-tw-103260630203249523.htm

7. Thùy Linh (2025). Hà Nội dẫn đầu cả nước về thu hút FDI: Tạo đột phá và tiềm năng bứt phá. https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-dan-dau-ca-nuoc-ve-thu-hut-fdi-tao-dot-pha-va-tiem-nang-but-pha-103250729090140789.htm

8. Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính (2026). Triển vọng tăng trưởng kinh tế của Hà Nội năm 2026. https://nief.mof.gov.vn/kinh-te-xa-hoi/trien-vong-tangtruong-kinh-te-cua-ha-noi-nam-2026-11830.html

Ngày nhận bài: 2/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/9/2026; Ngày duyệt đăng: 29/9/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Quyết định về cấu trúc vốn phản ánh sự lựa chọn của doanh nghiệp giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm tài trợ cho hoạt động kinh doanh và các cơ hội tăng trưởng. Việc sử dụng nợ tạo ra lợi ích từ lá chắn thuế và có thể góp phần hạn chế chi phí đại diện
Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Trong các đội dự án, nơi yêu cầu cao về tốc độ, phối hợp đa chức năng và khả năng thích ứng, khác biệt về giá trị nghề nghiệp, kỳ vọng và cách thức giao tiếp giữa Gen Z với các thế hệ đi trước có thể tạo ra khoảng cách trong lãnh đạo và phối hợp.
Rào cản trong tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Góc nhìn từ doanh nghiệp

Rào cản trong tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Góc nhìn từ doanh nghiệp

Tiếp cận vốn có ý nghĩa quan trọng đối với duy trì hoạt động, đầu tư và mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tình huống tại Công ty TNHH I.V Trans

Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tình huống tại Công ty TNHH I.V Trans

Nhóm doanh nghiệp giao nhận vận tải quy mô nhỏ và vừa - vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trong ngành logistics Việt Nam - đứng trước một nghịch lý cạnh tranh: họ không sở hữu đội tàu, đội bay, cảng biển hay mạng lưới kho bãi quy mô lớn như các tập đoàn dẫn đầu, nhưng vẫn phải cạnh tranh trực tiếp trên cùng một thị trường dịch vụ.
Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Sự mở rộng của xuất nhập khẩu, thương mại điện tử và sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 2022-2025 tạo dư địa lớn cho thị trường logistics Việt Nam. Chiến lược phát triển dịch vụ logistics thời kỳ 2025-2035 xác định nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là những định hướng trọng tâm.
Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam

Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam

Trong bối cảnh phát triển bền vững ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc trên thị trường quốc tế, công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường minh bạch, giảm bất cân xứng thông tin và cải thiện niềm tin của nhà đầu tư
Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ

Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ

Hiệu quả kinh doanh hiện nay không chỉ phụ thuộc vào vốn mà ngày càng gắn với khả năng thu hút, phát triển, gắn kết và sử dụng nguồn nhân lực, đòi hỏi quản trị nguồn nhân lực cần được nhìn nhận như một năng lực chiến lược.
Tác động của áp lực khách hàng đến xuất khẩu đối với doanh nghiệp tại Việt Nam

Tác động của áp lực khách hàng đến xuất khẩu đối với doanh nghiệp tại Việt Nam

Mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và hiệu quả xuất khẩu đã được giới học thuật quan tâm, nhưng các nghiên cứu hiện tại vẫn tồn tại luồng quan điểm khác biệt giữa việc buộc phải tuân thủ và việc chủ động tận dụng tri thức của khách hàng để cải thiện tính bền vững.
Chuyển đổi số trong doanh nghiệp tư nhân Việt Nam: Những vấn đề đặt ra đối với người lao động

Chuyển đổi số trong doanh nghiệp tư nhân Việt Nam: Những vấn đề đặt ra đối với người lao động

Quá trình chuyển đổi số trong doanh nghiệp tư nhân không chỉ tạo ra những cơ hội nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp, mà còn làm xuất hiện những vấn đề mới đối với người lao động.
Đo lường chất lượng hệ thống thông tin kế toán: Sự phù hợp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Đo lường chất lượng hệ thống thông tin kế toán: Sự phù hợp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Nghiên cứu tập trung hệ thống hóa, phân tích và so sánh các cách tiếp cận đo lường chất lượng hệ thống thông tin kế toán, đồng thời đánh giá mức độ phù hợp của từng cách tiếp cận trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.