Cường độ cho vay và hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Việt Nam: Vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng
TS. Nguyễn Thị Mỹ Phượng
Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích tác động của cường độ cho vay đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2023, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng. Sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM) kết hợp kỹ thuật hiệu chỉnh sai số chuẩn vững theo cụm, kết quả nghiên cứu cho thấy Cường độ cho vay và Quy mô ngân hàng đều có tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, Quy mô ngân hàng đóng vai trò điều tiết tăng cường mối quan hệ tích cực giữa Cường độ cho vay và Hiệu quả hoạt động. Về các biến kiểm soát, Chi phí hoạt động và Lạm phát có tác động tiêu cực, trong khi Thanh khoản và Thu nhập lãi thuần có tác động tích cực. Phát hiện của nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với Ngân hàng Nhà nước, các nhà quản trị ngân hàng và nhà đầu tư.
Từ khóa: Cường độ cho vay, hiệu quả ngân hàng, quy mô ngân hàng, vai trò điều tiết, Việt Nam
Abstract
This study examines the impact of lending intensity on the performance of Vietnamese commercial banks during the period 2010-2023, while also investigating the moderating role of bank size. Using panel data regression techniques, including Pooled Ordinary Least Squares (Pooled OLS), Fixed Effects Model (FEM), and Random Effects Model (REM), together with cluster-robust standard error adjustments, the findings indicate that both lending intensity and bank size have significant positive effects on bank performance. Furthermore, bank size serves as a positive moderator, strengthening the relationship between lending intensity and performance. Regarding the control variables, operating expenses and inflation are found to negatively affect bank performance, whereas liquidity and net interest income exert positive effects. These findings provide important implications for policymakers at the State Bank of Vietnam, bank managers, and investors in enhancing banking efficiency and promoting sustainable growth within the Vietnamese banking sector.
Keywords: Lending intensity, bank performance, bank size, moderating role, Viet Nam
GIỚI THIỆU
Tại các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, hoạt động cho vay truyền thống mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng thương mại (NHTM). Ngân hàng có cường độ cho vay cao có thể tối ưu hóa thu nhập lãi thuần, qua đó làm gia tăng hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, cường độ cho vay quá mức có thể làm tăng rủi ro tín dụng và áp lực vận hành, từ đó làm sụt giảm lợi nhuận (Athanasoglou và cộng sự, 2008). Điều này hàm ý rằng mối quan hệ giữa cường độ cho vay và hiệu quả hoạt động không chỉ mang tính cộng hưởng, mà còn chịu sự chi phối bởi các đặc tính nội tại của NHTM, đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro gắn liền với quy mô hoạt động.
Tại Việt Nam, khi tỷ lệ nợ xấu nội bảng tăng lên 4,55% vào cuối năm 2023 (Ngân hàng Nhà nước, 2023), việc cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và chất lượng tài sản đã trở thành thách thức chiến lược. Bối cảnh này khiến việc làm rõ mối quan hệ giữa cường độ cho vay và hiệu quả hoạt động dưới sự điều tiết của quy mô ngân hàng trở nên rất cấp thiết, giúp các NHTM tối ưu hóa hiệu quả theo chuẩn mực Basel II và III. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào tác động trực tiếp của tín dụng mà chưa làm rõ cơ chế điều tiết của quy mô ngân hàng đối với mối quan hệ này.
Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống nêu trên bằng cách kiểm định đồng thời tác động trực tiếp của cường độ cho vay và vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2010-2023. Kết quả kỳ vọng sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới về mối quan hệ này; đồng thời đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng, hướng tới sự phát triển an toàn và bền vững.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Nền tảng lý luận về hiệu quả hoạt động ngân hàng được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa các lý thuyết kinh tế kinh điển. Lý thuyết trung gian tài chính (Diamond, 1984) cho rằng các NHTM tồn tại nhờ lợi thế so sánh trong chọn lọc và giám sát người vay, giúp giảm thiểu chi phí thông tin bất cân xứng. Đặc biệt, lợi thế này được khai thác hiệu quả hơn khi NHTM gia tăng cường độ cho vay, qua đó gia tăng thu nhập và hiệu quả hoạt động, hàm ý hiệu ứng tích cực có xu hướng chiếm ưu thế.
Bên cạnh đó, Lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô khẳng định NHTM lớn sẽ có chi phí bình quân thấp hơn và ít rủi ro tập trung hơn nhờ đa dạng hóa danh mục cho vay. Lập luận này cho thấy quy mô ngân hàng có khả năng tương tác với cường độ cho vay nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Mặt khác, Lý thuyết danh mục đầu tư (Markowitz, 1952) chỉ ra sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Nếu gia tăng cường độ cho vay, các NHTM có thể mang lại nguồn thu lớn nhưng cũng phải đối mặt với rủi ro tín dụng cao. Tuy nhiên, các NHTM lớn sở hữu năng lực quản trị rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ vượt trội sẽ quản lý danh mục cho vay hiệu quả hơn. Kết quả là lợi nhuận và hiệu quả hoạt động được tối ưu hóa, đồng thời khẳng định vai trò điều tiết then chốt của quy mô ngân hàng trong việc khuếch đại tác động tích cực từ cường độ cho vay.
Tổng quan nghiên cứu
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và hiệu quả hoạt động đã được thực hiện rộng rãi. Trên bình diện quốc tế, Molyneux và Thornton (1992), Athanasoglou và cộng sự (2008) cho thấy lợi nhuận ngân hàng chịu tác động đồng thời từ các yếu tố nội tại và vĩ mô, trong đó nhóm nội tại giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, nếu các NHTM mở rộng tín dụng quá mức thường sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực. Tương tự, Berger và DeYoung (1997), Foos và cộng sự (2010) đều khẳng định tăng trưởng cho vay quá cao có thể làm gia tăng nợ xấu và sụt giảm hiệu quả hoạt động. Điều này hàm ý rằng mối quan hệ giữa cường độ cho vay và hiệu quả hoạt động phản ánh rõ nét sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro.
Tại Việt Nam, Batten và Vo (2019), Nguyen và Tran (2025) đều nhấn mạnh tính ưu thế của các yếu tố nội tại, đặc biệt là quy mô và rủi ro tín dụng trong việc quyết định hiệu quả hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chưa xem xét đầy đủ vai trò của cường độ cho vay như một biến phản ánh mức độ tập trung tín dụng, đồng thời chưa làm rõ vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng trong mối quan hệ này.
Xuất phát từ khoảng trống nêu trên, nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của cường độ cho vay đến hiệu quả hoạt động, trong đó nhấn mạnh vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng. Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng sẽ đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm vào khung lý thuyết về quản trị danh mục đầu tư và lợi thế kinh tế theo quy mô tại các thị trường mới nổi.
Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm đã được trình bày ở trên, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:
H1: Cường độ cho vay có tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động ngân hàng.
H2: Quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động ngân hàng.
H3: Quy mô ngân hàng đóng vai trò điều tiết tăng cường mối quan hệ tích cực giữa Cường độ cho vay và Hiệu quả hoạt động ngân hàng.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mô hình nghiên cứu và dữ liệu
Dựa trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm của Athanasoglou và cộng sự. (2008), Batten và Vo (2019) và bối cảnh thực tiễn của Việt Nam, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cường độ cho vay đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Việt Nam với vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng như sau:
ROAit = α + β1LIit + β2SIZEit + β3(LIit x SIZEit) + β4COSTit + β5CARit + β6LIQit + β7NIMit + β8GDPit + β9INFt + μi + εit
Trong đó: i và t lần lượt là chỉ số ngân hàng và thời gian; μi là tác động cố định đặc trưng của từng ngân hàng, và εit là sai số ngẫu nhiên.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của của 25 NHTM Việt Nam, Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính) và tính toán của tác giả trong giai đoạn 2010-2023. Chi tiết về cách đo lường, kỳ vọng dấu và đặc tính thống kê mô tả của các biến được tổng hợp tại (Bảng 1).
Bảng 1: Mô tả biến và thống kê mô tả
|
Loại biến |
Tên biến (Ký hiệu) |
Cách đo lường |
Kỳ vọng |
Nghiên cứu trước tham khảo |
Mean |
SD |
Min |
Max |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
Phụ thuộc |
Hiệu quả hoạt động (ROA, %) |
Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân |
|
Athanasoglou và cộng sự (2008); Batten và Vo (2019) |
0,95 |
0,98 |
-11,01 |
5,56 |
|
Độc lập |
Cường độ cho vay (LI, %) |
Tổng dư nợ cho vay/Tổng tài sản |
+ |
Diamond (1984); Foos và cộng sự (2010) |
71,19 |
9,67 |
37,33 |
90,33 |
|
Điều tiết |
Quy mô ngân hàng (SIZE) |
Logarit tự nhiên của Tổng tài sản |
+ |
Batten và Vo (2019) |
32,45 |
1,29 |
23,76 |
35,37 |
|
Tương tác |
Biến tương tác giữa cường độ cho vay và quy mô |
LI ×SIZE |
+ |
Đề xuất dựa trên Markowitz (1952) |
23,14 |
3,51 |
9,39 |
30,15 |
|
Kiểm soát |
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM, %) |
Thu nhập lãi thuần/Tài sản sinh lời bình quân |
+ |
Batten và Vo (2019) |
3,10 |
1,06 |
-0,87 |
7,07 |
|
Chi phí hoạt động (COST, %) |
Chi phí hoạt động/Thu nhập hoạt động |
- |
Athanasoglou và cộng sự (2008) |
52,51 |
17,05 |
22,50 |
172,24 |
|
|
Hệ số an toàn vốn (CAR, %) |
Vốn tự có/Tài sản có rủi ro |
+ |
Athanasoglou và cộng sự (2008) |
13,21 |
4,81 |
0,11 |
54,92 |
|
|
Tỷ lệ thanh khoản (LIQ, %) |
Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản |
+ |
Molyneux và Thornton (1992) |
31,85 |
11,75 |
10,04 |
82,43 |
|
|
Tăng trưởng kinh tế (GDP, %) |
Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm |
+ |
Athanasoglou và cộng sự (2008) |
5,82 |
1,50 |
2,56 |
8,12 |
|
|
Lạm phát (INF, %) |
Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng |
- |
Athanasoglou và cộng sự (2008) |
5,53 |
4,17 |
1,84 |
18,13 |
Ghi chú: Mean: Giá trị trung bình; SD: Độ lệch chuẩn; Min: Giá trị nhỏ nhất; Max: Giá trị lớn nhất. Số quan sát (N) của tất cả các biến là 350
Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với các mô hình hồi quy dữ liệu bảng, bao gồm: Mô hình bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Quy trình lựa chọn mô hình phù hợp được thực hiện thông qua các kiểm định F, Breusch-Pagan LM và Hausman. Nếu mô hình được chọn vi phạm giả định về phương sai thay đổi hoặc tự tương quan, nghiên cứu khắc phục bằng kỹ thuật ước lượng với sai số chuẩn vững điều chỉnh theo cụm (Clustered Standard Errors). Phương pháp này giúp hiệu chỉnh các sai số chuẩn nhằm đảm bảo kết quả ước lượng thu được là vững, không bị chệch và có độ tin cậy cao.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thống kê mô tả
Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu được trình bày tại (Bảng 1) ROA trung bình đạt 0,95% cùng với biên độ dao động rộng (-11,01% đến 5,56%), cho thấy hiệu quả hoạt động các NHTM Việt Nam khá khiêm tốn và có sự phân hóa rõ nét. LI bình quân ở mức cao (71,19%), phản ánh hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản. Trong khi đó, SIZE có giá trị trung bình 32,45 với độ lệch chuẩn thấp (1,29) thể hiện tính ổn định của dữ liệu, phù hợp để kiểm định vai trò điều tiết.
Kiểm định và lựa chọn mô hình
Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng theo Pooled OLS, FEM, REM và Clustered FEM cùng với các kiểm định liên quan (Bảng 2).
Bảng 2: Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy và các kiểm định
|
Biến |
(1) |
(2) |
(3) |
(4) |
|---|---|---|---|---|
|
|
Pooled OLS |
FEM |
REM |
Clustered FEM |
|
LI |
0,010*** |
0,011** |
0,011*** |
0,011** |
|
|
(0,003) |
(0,004) |
(0,004) |
(0,006) |
|
SIZE |
0,001*** |
0,003*** |
0,001*** |
0,003*** |
|
|
(0,000) |
(0,001) |
(0,000) |
(0,001) |
|
LI x SIZE |
0,006*** |
0,013*** |
0,007*** |
0,013*** |
|
|
(0,001) |
(0,002) |
(0,002) |
(0,003) |
|
COST |
-0,001*** |
-0,001*** |
-0,001*** |
-0,001*** |
|
|
(0,000) |
(0,000) |
(0,000) |
(0,000) |
|
CAR |
0,015** |
0,010 |
0,012* |
0,010 |
|
|
(0,006) |
(0,007) |
(0,007) |
(0,007) |
|
LIQ |
0,016*** |
0,013*** |
0,015*** |
0,013*** |
|
|
(0,003) |
(0,004) |
(0,003) |
(0,005) |
|
NIM |
0,505*** |
0,464*** |
0,499*** |
0,464*** |
|
|
(0,026) |
(0,034) |
(0,029) |
(0,048) |
|
GDP |
-0,002 |
0,008 |
-0,000 |
0,008 |
|
|
(0.017) |
(0,016) |
(0,017) |
(0,009) |
|
INF |
-0,013* |
-0,013* |
-0,008* |
-0,013* |
|
|
(0.007) |
(0,009) |
(0,007) |
(0,012) |
|
_cons |
-0,011*** |
-0,011*** |
-0,011*** |
-0,011*** |
|
|
(0,002) |
(0,002) |
(0,002) |
(0,002) |
|
R2 |
0,767 |
0,768 |
|
0,768 |
|
Mean VIF |
1,31 |
|||
|
Kiểm định F |
F(24,316)=3,05; Prob>F=0,0000 |
|||
|
Kiểm định Breusch-Pagan LM |
χ2(01)=9,49; Prob>χ2=0,0010 |
|||
|
Kiểm định Hausman |
χ2(9)=35,59; Prob>χ2=0,0000 |
|||
|
Kiểm định Modified Wald |
χ2(25)=285,13; Prob>χ2=0,0000 |
|||
|
Kiểm định Wooldridge |
F(1,24)=112,20; Prob>F=0,0000 |
|||
Ghi chú: ***, **, * lần lượt biểu thị mức ý nghĩa thống kê 1%, 5%, 10%.
Nguồn: Tính toán của tác giả
Kết quả kiểm định F và Breusch-Pagan LM với p < 0,01 lần lượt xác định mô hình FEM và REM phù hợp hơn Pooled OLS. Kiểm định Hausman với p < 0,01 tiếp tục bác bỏ H0 và xác nhận FEM là mô hình tối ưu. Về kiểm định chẩn đoán, hệ số VIF của các biến đều nhỏ hơn 5 (Mean VIF = 1,31) cho thấy mô hình không xảy ra đa cộng tuyến nghiêm trọng. Tuy nhiên, các kiểm định Modified Wald và Wooldridge đều có p < 0,01, chỉ ra mô hình tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan. Để khắc phục, nghiên cứu sử dụng mô hình FEM với sai số chuẩn vững điều chỉnh theo cụm (Clustered FEM). Kết quả từ mô hình này đảm bảo tính không chệch, hiệu quả và được sử dụng làm cơ sở phân tích, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả hồi quy và thảo luận
Kết quả ước lượng Clustered FEM tại Bảng 2 cho thấy Cường độ cho vay (LI) có tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động tại mức ý nghĩa 5%, qua đó ủng hộ giả thuyết H1. Bằng chứng này phù hợp với Lý thuyết trung gian tài chính Batten và Vo (2019), phản ánh vai trò trung tâm của hoạt động tín dụng trong việc tạo thu nhập chủ yếu. Tuy nhiên, thực trạng này cũng nhấn mạnh khả năng tiềm ẩn rủi ro hệ thống nếu chất lượng tài sản không được kiểm soát chặt chẽ. Quy mô ngân hàng (SIZE) cũng có tác động tích cực và có ý nghĩa ở mức 1%, xác nhận giả thuyết H2. Kết quả này phù hợp với Lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô và tương đồng với Athanasoglou và cộng sự (2008). Tại Việt Nam, các NHTM quy mô lớn khai thác hoạt động tín dụng hiệu quả hơn nhờ lợi thế thương hiệu, mạng lưới và chi phí vốn thấp, từ đó tối ưu hóa biên lãi thuần và gia tăng hiệu quả hoạt động.
Bên cạnh đó, biến tương tác LI×SIZE mang dấu dương và có ý nghĩa ở mức 1%, khẳng định vai trò điều tiết tích cực của Quy mô ngân hàng trong mối quan hệ này. Kết quả này xác nhận giả thuyết H3 và phù hợp với Lý thuyết danh mục đầu tư. Tại Việt Nam, các NHTM quy mô lớn có khả năng khai thác hiệu quả hơn hoạt động tín dụng thông qua việc tiếp cận đa phân khúc khách hàng, từ đó giảm thiểu rủi ro tập trung và tối ưu hóa tỷ suất sinh lời, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Về các biến kiểm soát, COST và INF tác động tiêu cực phản ánh áp lực vĩ mô cũng như năng lực quản trị vận hành chưa tối ưu. Ngược lại, LIQ và NIM có tác động tích cực, hàm ý việc duy trì thanh khoản ổn định và biên lãi ròng cao là điều kiện đảm bảo để các NHTM Việt Nam ứng phó với các cú sốc thị trường. Trong khi đó, CAR và GDP không có ý nghĩa thống kê, cho thấy an toàn vốn là điều kiện bắt buộc hơn là yếu tố tạo sự phân hóa lợi nhuận, đồng thời hiệu quả ngân hàng chưa phản ánh rõ nét tác động của chu kỳ kinh tế trong giai đoạn nghiên cứu.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM) kết hợp với Clustered FEM để phân tích tác động của Cường độ cho vay đến Hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của Quy mô ngân hàng trong giai đoạn 2010-2023. Kết quả cho thấy Cường độ cho vay có tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động. Đáng chú ý, Quy mô ngân hàng vừa tác động trực tiếp tích cực, vừa đóng vai trò điều tiết làm tăng cường tác động tích cực của Cường độ cho vay đến Hiệu quả hoạt động. Về các biến kiểm soát, Chi phí hoạt động và Lạm phát có tác động tiêu cực, trong khi Thanh khoản và Thu nhập lãi thuần có tác động tích cực; ngược lại, Hệ số an toàn vốn và Tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê. Phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng, củng cố khung lý thuyết về quản trị danh mục tài sản và lợi thế kinh tế theo quy mô tại các thị trường mới nổi.
Từ kết quả trên, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại các NHTM Việt Nam, cụ thể:
- Đối với Ngân hàng Nhà nước, cần thúc đẩy tái cơ cấu, sáp nhập các NHTM nhỏ, yếu kém để hình thành các ngân hàng có quy mô lớn, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động nhờ lợi thế quy mô và hiệu ứng cộng hưởng tín dụng. Bên cạnh đó, có thể xem xét ưu tiên nới trần tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng lớn có năng lực quản trị tốt, nhằm tối ưu hóa hiệu quả cho vay dựa trên lợi thế quy mô.
- Đối với các NHTM, nhóm quy mô lớn cần tận dụng lợi thế quy mô để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, ưu tiên dòng vốn vào lĩnh vực kinh tế thực và tăng cường đầu tư vào fintech, dữ liệu lớn. Ngược lại, các NHTM nhỏ nên ưu tiên chiến lược tăng trưởng chất lượng thông qua kiểm soát chi phí, tối ưu hóa quản trị rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát; đa dạng hóa danh mục cho vay và số hóa quy trình chấm điểm tín dụng. Ngoài ra, hệ thống NHTM nói chung cần duy trì thanh khoản hợp lý bằng cách tối ưu hóa cấu trúc kỳ hạn vốn, đảm bảo tài sản dự trữ thanh khoản cao và chủ động điều tiết dòng tiền qua thị trường liên ngân hàng hoặc công cụ hỗ trợ từ NHNN.
Tài liệu tham khảo:
1. Athanasoglou, P. P., Brissimis, S. N., & Delis, M. D. (2008). Bank-specific, industry-specific and macroeconomic determinants of bank profitability. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 18(2), 121-136.
2. Batten, J. A., & Vo, X. V. (2019). Determinants of bank profitability-Evidence from Vietnam. Emerging Markets Finance and Trade, 55(6), 1417-1428.
3. Berger, A. N., & DeYoung, R. (1997). Problem loans and cost efficiency in commercial banks. Journal of Banking & Finance, 21(6), 849-870.
4. Diamond, D. W. (1984). Financial intermediation and delegated monitoring. Review of Economic Studies, 51(3), 393-414.
5. Foos, D., Norden, L., & Weber, M. (2010). Loan growth and riskiness of banks. Journal of Banking & Finance, 34(12), 2929-2940.
6. Markowitz, H. (1952). Portfolio selection. The Journal of Finance, 7(1), 77-91.
7. Molyneux, P., & Thornton, J. (1992). Determinants of European bank profitability: A note. Journal of Banking & Finance, 16(6), 1173-1178.
8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. (2023). Báo cáo thường niên 2023.
9. Nguyen, T. T. N. & Tran, T. T. (2025). Các nhân tố nội tại ảnh hưởng tới hiệu quả tài chính trong các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 340, 54-64.
| Ngày nhận bài: 7/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 9/6/2026; Ngày duyệt đăng: 10/6/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Sự thích ứng của người tiêu dùng thương mại điện tử trong bối cảnh toàn cầu hóa: Nghiên cứu tại Thái Nguyên
Các yếu tố tác động đến ý định tẩy chay thương hiệu thời trang nhanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh
Đổi mới sáng tạo vùng: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển
Giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn tại Nông trại Tam Nông TP. Hồ Chí Minh
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng AI của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh
Ảnh hưởng của video ngắn trên các nền tảng mạng xã hội đến ý định mua hàng của người tiêu dùng