Yêu cầu về năng lực xanh đối với nguồn nhân lực logistics cảng biển tại TP. Đà Nẵng
ThS. Huỳnh Ngọc Danh
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bài viết phân tích yêu cầu về năng lực xanh đối với nguồn nhân lực logistics cảng biển tại TP. Đà Nẵng trong bối cảnh chuyển đổi xanh. Thông qua phân tích, tổng hợp tài liệu, bài viết đề xuất khung năng lực gồm: kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi; phân hóa theo 3 nhóm: lãnh đạo, quản lý; nghiệp vụ, điều phối; kỹ thuật, vận hành. Các giải pháp tập trung vào chuẩn hóa yêu cầu năng lực, đổi mới đào tạo, tăng cường liên kết, ứng dụng dữ liệu và xây dựng văn hóa trách nhiệm môi trường.
Từ khóa: Năng lực xanh, nguồn nhân lực logistics cảng biển, TP. Đà Nẵng
Abstract
This article analyses the green competency requirements for the seaport logistics workforce in Da Nang City amid the green transition. Through document analysis and synthesis, it proposes a competency framework comprising knowledge, skills, attitudes, and behaviors, differentiated across three occupational groups: leadership and management; professional operations and coordination; and technical and operational roles. The proposed solutions focus on standardizing competency requirements, innovating training, strengthening linkages, applying data, and fostering a culture of environmental responsibility.
Keywords: Green competencies, seaport logistics workforce, Da Nang City
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, phát triển logistics cảng biển cần gắn mục tiêu nâng cao hiệu quả khai thác với tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động môi trường. Quá trình này đặt ra yêu cầu đổi mới công nghệ, tổ chức vận hành và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh chuyên môn nghiệp vụ, người lao động cần có kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp để thực hiện các nhiệm vụ theo hướng bền vững. Đối với TP. Đà Nẵng, việc xác định yêu cầu về năng lực xanh của nhân lực logistics cảng biển có ý nghĩa thiết thực đối với đào tạo và sử dụng lao động. Những yêu cầu này cần được cụ thể hóa theo đặc điểm công việc, từ quản lý, điều phối đến vận hành thiết bị. Trong đó, hiểu biết về môi trường, kỹ năng sử dụng năng lượng hiệu quả, kiểm soát chất thải và tinh thần chủ động cải tiến là những nội dung cần xem xét. Việc làm rõ các thành tố năng lực sẽ tạo cơ sở kết nối nhu cầu doanh nghiệp với hoạt động đào tạo. Do đó, bài viết tập trung phân tích yêu cầu về năng lực xanh đối với nguồn nhân lực logistics cảng biển tại TP. Đà Nẵng, đề xuất các nhóm năng lực cốt lõi và hàm ý đào tạo, bồi dưỡng, góp phần đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh trong lĩnh vực này.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Theo Ủy ban quản trị Logistics quốc tế, logistics là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và quản lý hiệu quả dòng chảy của vốn nhằm kiểm soát quá trình lưu chuyển và dự trữ hàng hóa từ khâu bảo quản nguyên liệu thô đến khâu hoàn thiện sản phẩm cũng như các thông tin liên quan đến quy trình này từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng để thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng” (Notteboom, 2002). Nghiên cứu của Trần Hoa Phương, Văn Công Vũ (2022) chỉ rõ: Dịch vụ logistics cảng biển là loại hình dịch vụ nhằm phục vụ lưu chuyển hàng hóa và hành khách tại các cảng biển, như tiếp nhận, vận chuyển hàng hóa, hành khách tại cầu cảng; lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng,… Logistics cảng biển là một nhánh chuyên sâu trong lĩnh vực logistics, bao gồm xếp dỡ hàng hóa, quản lý kho bãi, giao nhận, xử lý chứng từ và vận tải kết nối cảng. Các hoạt động này liên kết chặt chẽ, đòi hỏi phối hợp giữa doanh nghiệp khai thác cảng, doanh nghiệp logistics và chủ hàng.
Nguồn nhân lực logistics cảng biển là tổng thể những người lao động với thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất cần thiết, tham gia quản lý, tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics gắn với cảng biển, nhằm bảo đảm dòng lưu chuyển hàng hóa và thông tin liên quan được thông suốt, an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Nguồn nhân lực này bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật và lao động trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ như xếp dỡ, giao nhận, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, xử lý chứng từ, thủ tục hải quan và dịch vụ hỗ trợ. Phạm vi của nguồn nhân lực logistics cảng biển không chỉ giới hạn trong doanh nghiệp khai thác cảng mà còn bao gồm nhân lực tại các doanh nghiệp, tổ chức tham gia cung ứng và phối hợp thực hiện dịch vụ logistics gắn với cảng biển.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp, gồm các công trình nghiên cứu, báo cáo doanh nghiệp và thông tin về logistics xanh tại Đà Nẵng. Phương pháp phân tích được vận dụng để làm rõ yêu cầu chuyển đổi xanh theo nhóm vị trí việc làm. Trên cơ sở đó, bài viết tổng hợp, khái quát thành khung năng lực và đề xuất giải pháp.
BỐI CẢNH VÀ YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI XANH ĐỐI VỚI NHÂN LỰC LOGISTICS CẢNG BIỂN TẠI ĐÀ NẴNG
Tổng quan về phát triển logistics cảng biển xanh tại Đà Nẵng
Trong những năm qua, TP. Đà Nẵng đã xác định thúc đẩy logistics xanh gắn với số hóa nhằm giảm chi phí, phát thải và nâng sức cạnh tranh; chú trọng phát triển cảng Liên Chiểu và các trung tâm logistics thông minh. Các doanh nghiệp logistics trên địa bàn cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ quản lý, tự động hóa, kết nối vận tải đa phương thức. Trung tâm logistics của Viettel Post dự kiến giảm 33% thời gian vận hành, tiết kiệm khoảng 348.000 km vận chuyển mỗi tháng (Mai Quế, Quốc Cường, 2025). Cùng với đó, đào tạo nhân lực và liên kết vùng cũng được chú trọng để hỗ trợ phát triển bền vững. Cảng Chu Lai được định vị là “hub logistics đa phương thức”, tích hợp đường bộ, đường biển và hàng không, giúp tối ưu chi phí vận tải và thu hút nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu từ khu công nghiệp miền Trung.
Năm 2024, Cảng Đà Nẵng đạt sản lượng 14.031.086 tấn, trong đó sản lượng container đạt 762.191 TEU; tổng số lao động tại thời điểm 31/12/2024 là 798 người (Công ty Cổ phẩn Cảng Đà Nẵng, 2025). Đây là số liệu của doanh nghiệp Cảng Đà Nẵng, không đại diện cho toàn bộ nhân lực logistics cảng biển Thành phố. Tuy nhiên, quy mô này cũng cho thấy, việc phát triển năng lực lao động trong bối cảnh chuyển đổi xanh cần gắn với yêu cầu vận hành hiệu quả và kiểm soát tác động môi trường.
Xét theo chức năng, nhân lực thuộc phạm vi nghiên cứu có thể chia thành 3 nhóm: lãnh đạo, quản lý; nhân sự nghiệp vụ, điều phối; lao động kỹ thuật, vận hành. Nhóm quản lý chịu trách nhiệm định hướng và phân bổ nguồn lực; nhóm nghiệp vụ tổ chức luồng hàng, chứng từ và phương tiện; nhóm vận hành trực tiếp sử dụng, bảo dưỡng thiết bị. Sự khác biệt về nhiệm vụ đòi hỏi nội dung bồi dưỡng năng lực xanh phải được thiết kế theo vị trí việc làm.
Về điều kiện bồi dưỡng, hoạt động đào tạo nội bộ tại doanh nghiệp là cơ sở để bổ sung kiến thức và kỹ năng mới. Chẳng hạn, Cảng Đà Nẵng cho biết đã phối hợp với Viettel IDC tổ chức đào tạo an toàn thông tin cho 262 cán bộ, nhân viên và người lao động, chia thành 4 lớp trong hai ngày 30-31/5/2024 (Công ty Cổ phẩn Cảng Đà Nẵng, 2024). Tuy nhiên, hoạt động đào tạo được dẫn chứng chủ yếu liên quan đến an toàn thông tin, chưa chú trọng mức độ đáp ứng yêu cầu môi trường. Từ nền tảng đó, có thể phát triển các chuyên đề về năng lượng, phát thải và quản lý môi trường, kết hợp hướng dẫn tại hiện trường.
Những yêu cầu đặt ra từ chuyển đổi xanh
Thứ nhất, chuyển đổi xanh đòi hỏi thay đổi cách tổ chức công việc và sử dụng thiết bị. Nhân sự điều phối cần biết bố trí luồng hàng, vị trí container và lịch phương tiện nhằm hạn chế di chuyển rỗng, chờ đợi và thao tác lặp lại. Lao động vận hành cần sử dụng thiết bị đúng chế độ, bảo dưỡng theo hướng dẫn và thích ứng với công nghệ tiết kiệm năng lượng. Hiệu quả công việc vì vậy cần được xem xét đồng thời qua năng suất, an toàn và mức tiêu hao tài nguyên.
Thứ hai, nhân lực cần có khả năng theo dõi, quản lý năng lượng và phát thải. Nhân viên liên quan phải ghi nhận chính xác lượng điện, nhiên liệu và thời gian hoạt động của thiết bị; cán bộ quản lý cần đọc hiểu dữ liệu, nhận diện bất thường và lựa chọn biện pháp cải tiến. Việc đánh giá nên kết hợp tổng mức tiêu thụ với mức tiêu thụ trên đơn vị hàng hóa, tránh đồng nhất tăng sản lượng với giảm hiệu quả môi trường.
Thứ ba, kiểm soát chất thải và ứng phó sự cố phải trở thành kỹ năng thực hành. Người lao động cần nhận diện chất thải theo công việc, phân loại đúng, phát hiện rò rỉ và báo cáo kịp thời. Đào tạo cần sử dụng tình huống cụ thể, kết hợp diễn tập và phân định trách nhiệm phối hợp.
Thứ tư, năng lực xanh phải thể hiện qua trách nhiệm môi trường hằng ngày. Tiết kiệm điện, hạn chế lãng phí, tuân thủ quy trình và chủ động đề xuất cải tiến cần trở thành tiêu chí đánh giá công việc. Điều này giúp chuyển kiến thức được đào tạo thành hành vi nghề nghiệp bền vững.
ĐỀ XUẤT KHUNG NĂNG LỰC XANH ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC LOGISTICS CẢNG BIỂN TẠI ĐÀ NẴNG
Khung năng lực xanh được đề xuất gồm 3 thành tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi, đồng thời phân hóa theo vị trí việc làm (Hình). Khung hướng đến khả năng thực hiện nhiệm vụ gắn với tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động môi trường. Với TP. Đà Nẵng, việc vận dụng cần căn cứ đặc điểm doanh nghiệp, công nghệ và phạm vi trách nhiệm của người lao động.
Về kiến thức xanh
Người lao động cần hiểu logistics xanh, cảng xanh và phát triển bền vững trong mối quan hệ với công việc. Người lao động cần hiểu cách phối hợp giữa các khâu để hạn chế lãng phí. Trang bị kiến thức về sử dụng năng lượng và nguồn phát thải từ phương tiện, thiết bị xếp dỡ, kho bãi. Người lao động phải hiểu mối liên hệ giữa thời gian chạy không tải, quãng đường di chuyển, tình trạng bảo dưỡng với mức tiêu hao nhiên liệu. Kiến thức về bụi, tiếng ồn, nước thải và chất thải giúp nhận diện tác động môi trường theo công đoạn. Kiến thức về quy định, quy trình và trách nhiệm môi trường phải gắn với nhiệm vụ. Yêu cầu cốt lõi là biết thao tác được phép, điều kiện phải dừng công việc, đầu mối báo cáo và giới hạn xử lý của bản thân, qua đó tránh hành động tùy tiện khi xảy ra tình huống bất thường.
Về kỹ năng xanh
Kỹ năng xanh trước hết thể hiện ở khả năng vận hành tiết kiệm năng lượng và giảm hao phí. Lao động cần thực hiện đúng quy trình khởi động, vận hành, dừng máy; kiểm tra thiết bị và phối hợp hạn chế thao tác thừa. Tiết kiệm phải đi cùng an toàn, không được đánh đổi bằng việc bỏ qua bảo dưỡng hoặc kiểm tra. Khả năng thu thập, đọc hiểu và sử dụng dữ liệu môi trường cũng cần được phát triển theo nhiệm vụ. Nhân viên vận hành ghi nhận điện, nhiên liệu và thời gian sử dụng; nhân sự phụ trách tổng hợp, đối chiếu với khối lượng công việc. Cán bộ quản lý sử dụng kết quả để phát hiện bất thường, xác định nguyên nhân và lựa chọn biện pháp điều chỉnh. Người lao động cần biết nhận diện rủi ro, phân loại chất thải và phối hợp xử lý sự cố.
Về thái độ và hành vi
Thái độ xanh thể hiện ở sự coi trọng tài nguyên và trách nhiệm đối với môi trường làm việc. Ý thức này cần chuyển thành hành vi quan sát được như sử dụng vật tư hợp lý, tắt thiết bị theo quy trình, phân loại chất thải đúng nơi và báo cáo dấu hiệu bất thường. Đánh giá vì vậy cần dựa vào việc thực hiện thường xuyên. Tinh thần tuân thủ cần đi cùng tính chủ động và sự trung thực trong ghi nhận thông tin. Người lao động phải sẵn sàng học tập, thích ứng với công nghệ mới và hợp tác giữa các bộ phận. Doanh nghiệp cần khuyến khích phản ánh sai sót, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất cải tiến để duy trì hành vi xanh.
Phân hóa yêu cầu theo nhóm vị trí việc làm
Đối với lãnh đạo, quản lý, trọng tâm là chuyển mục tiêu xanh thành kế hoạch, ngân sách và chỉ tiêu đánh giá. Nhóm này cần cân nhắc hiệu quả môi trường trong đầu tư, phân công trách nhiệm và giám sát kết quả. Đối với nhân sự nghiệp vụ, điều phối, yêu cầu tập trung vào tổ chức luồng hàng, bố trí kho bãi và lịch vận tải nhằm hạn chế ùn tắc, thao tác lặp lại và tiêu hao năng lượng. Đối với lao động kỹ thuật, vận hành, trọng tâm là thao tác đúng, bảo dưỡng phù hợp và xử lý tình huống tại hiện trường. Mỗi nhóm có thể được đánh giá theo 3 mức: hiểu biết, vận dụng độc lập và chủ động cải tiến.
Hình: Ba thành tố của Khung năng lực xanh phân hóa theo vị trí việc làm
![]() |
Nguồn: Tác giả đề xuất
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC XANH CHO NGUỒN NHÂN LỰC LOGISTICS CẢNG BIỂN TẠI ĐÀ NẴNG
Phát triển năng lực xanh cho nguồn nhân lực logistics cảng biển tại TP. Đà Nẵng cần gắn đào tạo với tổ chức công việc và đánh giá kết quả. Trên cơ sở khung năng lực đề xuất, các giải pháp sau hướng đến chuyển hóa kiến thức, kỹ năng và thái độ thành khả năng thực hiện nhiệm vụ, phù hợp với điều kiện doanh nghiệp.
Một là, cụ thể hóa khung năng lực xanh theo vị trí việc làm. Doanh nghiệp cần rà soát nhiệm vụ, công nghệ và tác động môi trường của từng công đoạn để xác định yêu cầu năng lực. Đối với cán bộ quản lý, trọng tâm là lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực và giám sát mục tiêu xanh; nhân sự điều phối cần năng lực tối ưu luồng hàng, kho bãi và vận tải; lao động vận hành cần thành thạo thao tác tiết kiệm, an toàn. Các yêu cầu phải được mô tả bằng hành vi quan sát được, phân thành mức hiểu biết, vận dụng độc lập và chủ động cải tiến. Khung này làm căn cứ tuyển dụng, xác định khoảng thiếu hụt và xây dựng lộ trình bồi dưỡng.
Hai là, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thực hành và phân hóa đối tượng. Nội dung đào tạo cần tích hợp kiến thức môi trường vào nghiệp vụ, giúp người lao động hiểu tác động của từng thao tác. Doanh nghiệp có thể tổ chức chuyên đề ngắn về sử dụng năng lượng, quản lý chất thải, ghi nhận dữ liệu và ứng phó sự cố. Phương pháp cần kết hợp hướng dẫn tại hiện trường, mô phỏng tình huống và kèm cặp giữa lao động có kinh nghiệm với người mới. Sau đào tạo, cần đánh giá bằng khả năng thực hiện nhiệm vụ và mức cải thiện trong công việc, thay vì chỉ dựa vào bài kiểm tra kiến thức.
Ba là, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý. Doanh nghiệp cần cung cấp thông tin về công nghệ, nhu cầu kỹ năng và những vấn đề môi trường phát sinh để cơ sở đào tạo cập nhật chương trình. Các bên có thể phối hợp xây dựng học phần, tổ chức thực tập và giao nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến quy trình. Giảng viên cần tiếp cận hiện trường, trong khi cán bộ kỹ thuật doanh nghiệp tham gia hướng dẫn thực hành. Cơ quan quản lý đóng vai trò kết nối, hỗ trợ chia sẻ thông tin và thúc đẩy chương trình bồi dưỡng chung.
Bốn là, phát triển năng lực sử dụng dữ liệu và công cụ số phục vụ mục tiêu xanh. Doanh nghiệp cần hướng dẫn người lao động ghi nhận điện, nhiên liệu, thời gian vận hành và lượng chất thải theo nhiệm vụ. Nhân sự phụ trách phải biết kiểm tra, tổng hợp và phân tích dữ liệu để nhận diện lãng phí. Việc ứng dụng phần mềm điều phối, quản lý kho bãi hoặc giám sát thiết bị cần đi kèm huấn luyện sử dụng và giải thích ý nghĩa môi trường của thông tin. Nên triển khai thí điểm tại một công đoạn trước khi mở rộng, đánh giá kết quả theo mức tiêu hao trên đơn vị hàng hóa và điều kiện vận hành tương ứng.
Năm là, xây dựng văn hóa trách nhiệm môi trường gắn với đánh giá và khuyến khích. Lãnh đạo cần làm gương, phân định trách nhiệm và tạo điều kiện để người lao động phản ánh bất cập. Các hành vi tiết kiệm vật tư, tuân thủ quy trình, ghi chép trung thực và phối hợp xử lý sự cố cần được đưa vào đánh giá công việc. Doanh nghiệp nên ghi nhận sáng kiến có hiệu quả được kiểm chứng, khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi từ sai sót. Cơ chế khen thưởng cần cân bằng năng suất, an toàn và môi trường, tránh gây áp lực che giấu sự cố hoặc làm sai lệch dữ liệu.
KẾT LUẬN
Chuyển đổi xanh đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của nhân lực logistics cảng biển tại Đà Nẵng. Bài viết đề xuất khung năng lực xanh phân hóa theo vị trí việc làm, hướng đến tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động môi trường. Việc vận dụng cần gắn với đào tạo thực hành, liên kết doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, ứng dụng dữ liệu, xây dựng văn hóa trách nhiệm môi trường. Khung đề xuất cung cấp cơ sở tham khảo cho quản trị nhân lực, đồng thời cần được kiểm định bằng khảo sát thực tế để hoàn thiện tiêu chí và mức độ.
Tài liệu tham khảo:
1. Công ty Cổ phẩn Cảng Đà Nẵng. (2024). Đảm bảo an toàn thông tin trong nội bộ Công ty là nhiệm vụ cấp thiết. https://danangport.com/dam-bao-an-toan-thong-tin-trong-noi-bo-cong-ty-la-nhiem-vu-cap-thiet/?lang=en
2. Công ty Cổ phẩn Cảng Đà Nẵng. (2025). Báo cáo thường niên 2024.
3. Mai Quế, Quốc Cường. (2025). Đà Nẵng phát triển logistics xanh và số. https://baodanang.vn/da-nang-phat-trien-logistics-xanh-va-so-3312406.html
4. Notteboom. (2002). Current issues in port logistics and Intermodality. Published by Garant, Belgium.
5. Trần Hoa Phượng, Văn Công Vũ. (2022). Đào tạo nguồn nhân lực dịch vụ logistics Cảng biển ở thành phố Đà Nẵng: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ, (18), 112-121.
| Ngày nhận bài: 15/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/10/2026; Ngày duyệt đăng: 4/11/2026 |
Các tin khác
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường tại Chi cục Quản lý thị trường Thanh Hóa
Kế toán quản trị chi phí môi trường tại bệnh viện công lập dưới góc nhìn phát triển bền vững và áp lực thể chế
Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Phát huy vai trò của pháp luật đất đai trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững tại Việt Nam
Giải pháp nâng cao sự hài lòng, thúc đẩy ý định quay lại của khách hàng tại chuỗi cà phê thương hiệu Nón Coffee ở TP. Hồ Chí Minh
Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam
Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam
Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
