Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 16:33 | 05/11/2026
Trong suốt 40 năm Đổi mới, kinh tế nhà nước luôn được Đảng ta khẳng định là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nguyễn Thị Tuyết Hằng

Học viện Chính trị khu vực II

Hồ Thị Minh Hòa

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh

TS. Lê Quang Thông

Trường Đại học Kinh tế Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Tóm tắt

Sau 40 năm Đổi mới, kinh tế nhà nước tiếp tục được Đảng xác định là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cùng với quá trình đẩy mạnh cải cách và hội nhập, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị không ngừng gia tăng các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò này, gây tác động tiêu cực đến nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích - tổng hợp và so sánh, bài viết hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, nhận diện 4 nhóm luận điệu sai trái phổ biến, đồng thời xây dựng hệ thống luận cứ phản bác trên 3 khía cạnh: lý luận khoa học, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, gắn kết giữa phản bác lý luận với thúc đẩy cải cách quản trị thực chất trong khu vực kinh tế nhà nước.

Từ khóa: Kinh tế nhà nước, vai trò chủ đạo, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Abstract

After 40 years of Doi Moi (Renewal), the state economy continues to be identified by the Communist Party of Viet Nam as the leading economic sector in the socialist-oriented market economy. However, alongside the intensification of reforms and international integration, hostile forces and politically opportunistic elements have increasingly disseminated distorted narratives seeking to deny this role, thereby negatively affecting the ideological awareness of cadres, Party members, and the public. Employing documentary research, analysis and synthesis, and comparative methods, this paper systematizes the theoretical foundations of the leading role of the state economy, identifies four common groups of misleading arguments, and develops a set of counterarguments from three perspectives: scientific theory, international experience, and Viet Nam’s practical context. On this basis, the paper proposes several orientations for enhancing the effectiveness of efforts to counter these arguments by linking theoretical rebuttals with the promotion of substantive governance reforms in the state economic sector.

Keywords: State economy, leading role, socialist-oriented market economy, defending the Party’s ideological foundation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa vị thế và uy tín quốc gia lên một tầm cao mới. Theo Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2025 đạt khoảng 8%, thuộc nhóm cao nhất khu vực Đông Nam Á (World Bank, 2026). Trong suốt quá trình đó, kinh tế nhà nước luôn được Đảng ta khẳng định là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa (Bộ Chính trị, 2026).

Ngày 6/1/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó xác định các mục tiêu cụ thể, trong đó phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 đến 3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới (Bộ Chính trị, 2026). Đây là minh chứng cho tính liên tục và sự phát triển trong tư duy của Đảng về kinh tế nhà nước, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng quản trị, hiệu quả hoạt động của khu vực này trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.

Tuy nhiên, cùng với quá trình đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị không ngừng gia tăng hoạt động chống phá, xuyên tạc vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, với mục tiêu sâu xa là phủ nhận nền tảng kinh tế của định hướng xã hội chủ nghĩa, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất, âm mưu và trang bị lý luận, dẫn chứng thực tiễn sắc bén, có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa cả về chính trị, tư tưởng và thực tiễn.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Nghị quyết số 79-NQ/TW xác định, kinh tế nhà nước là khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm: ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia; tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, đất đai, vùng trời, vùng biển và các nguồn lực khác thuộc sở hữu toàn dân; các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối; các tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại nhà nước; và hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do Nhà nước đầu tư, quản lý (Bộ Chính trị, 2026).

Về mặt học thuyết, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân là hình thức sở hữu cao nhất, tiến bộ nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là cơ sở kinh tế để nhà nước thực hiện chức năng quản lý và điều tiết nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh vai trò của kinh tế quốc doanh như “nền tảng” và “sức lãnh đạo” của nền kinh tế dân chủ mới. Nghị quyết số 79-NQ/TW là sự cụ thể hóa, vận dụng sáng tạo nền tảng lý luận này vào điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện đại của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện ở 3 điểm sau:

Thứ nhất, kinh tế nhà nước là công cụ định hướng phát triển chiến lược - thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Nghị quyết số 79-NQ/TW xác định đến năm 2030, kinh tế nhà nước phải trở thành “lực lượng nòng cốt để thực hiện các đột phá chiến lược”, nhất là về hạ tầng số, hạ tầng xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao (Bộ Chính trị, 2026).

Thứ hai, kinh tế nhà nước là “bộ giảm xóc” bảo đảm ổn định vĩ mô, an ninh và an sinh xã hội. Theo Keynes (2002), khi khu vực tư nhân thu hẹp đầu tư trong suy thoái, kinh tế nhà nước có thể duy trì, thậm chí tăng cường đầu tư để bù đắp tổng cầu, ngăn chặn vòng xoáy suy thoái. Nhà nước còn kiểm soát các lĩnh vực chiến lược (năng lượng, lương thực, viễn thông, tài chính - ngân hàng) để bảo đảm chủ quyền kinh tế quốc gia - điều mà ngay cả các nền kinh tế thị trường phát triển như Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu cũng đang thực hiện một cách chặt chẽ.

Thứ ba, kinh tế nhà nước dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển thông qua đầu tư hạ tầng nền tảng (5G, logistics, dữ liệu dùng chung), làm “vốn mồi” kích hoạt hợp tác công - tư (PPP) và chia sẻ công nghệ, kinh nghiệm quản trị cho khu vực tư nhân (Macheda và Liu, 2025). Cần nhấn mạnh, vai trò chủ đạo không phải là chèn ép hay thay thế các thành phần kinh tế khác, mà là tạo nền tảng, điều kiện và cơ hội để các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế tư nhân, được Đảng ta xác định là “động lực quan trọng nhất”, cùng phát triển (Bộ Chính trị, 2026).

Có thể thấy, nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước là một quá trình được bổ sung, hoàn thiện qua từng kỳ Đại hội, gắn với yêu cầu thực tiễn. Nếu như trước đây trọng tâm là mở rộng quy mô, số lượng doanh nghiệp nhà nước, thì đến giai đoạn hiện nay, tư duy đã chuyển mạnh sang “chiếm lĩnh về chất”: tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh quốc tế. Đây là những minh chứng cho thấy chủ trương của Đảng về kinh tế nhà nước luôn được cập nhật, đổi mới theo hướng thực chất, hiệu quả hơn - hoàn toàn trái ngược với cách các luận điệu xuyên tạc thường mô tả là “bảo thủ”, “trì trệ”, “không chịu thay đổi”.

NHẬN DIỆN CÁC NHÓM QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Việc phủ định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ngày càng được các thế lực thù địch, phần tử cơ hội đẩy mạnh dưới nhiều vỏ bọc tinh vi: từ các bài viết mang danh “phân tích kinh tế độc lập”, “kiến nghị cải cách”, các diễn đàn hải ngoại, đến các bài đăng, video ngắn trên mạng xã hội mang tính kích động, dễ lan truyền tới cán bộ, đảng viên và người dân. Lê Hải (2021), Hoàng Thị Bích Loan (2026), Nguyễn Thị Hoa (2025) đã khái quát thành 4 nhóm luận điệu chủ yếu sau:

Nhóm thứ nhất, phủ định toàn diện vai trò của kinh tế nhà nước, đòi “xóa bỏ doanh nghiệp nhà nước”, cho rằng “để tư nhân làm hết mọi việc mới hiệu quả”; quy kết kinh tế nhà nước là “gánh nặng, bao cấp, tham nhũng, kém hiệu quả”.

Nhóm thứ hai: ngụy biện học thuật, lập luận rằng “chỉ khi không còn kinh tế nhà nước thì mới tồn tại một nền kinh tế thị trường đích thực”, từ đó cho rằng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước “đã phá sản về mặt lý luận”.

Nhóm thứ ba, lợi dụng tiêu cực cục bộ để quy chụp toàn bộ, viện dẫn một số vụ việc sai phạm hoặc dự án thua lỗ cụ thể tại một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước để khái quát hóa, quy kết thành bản chất phổ biến của toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước.

Nhóm thứ tư, đòi thay đổi thể chế, đòi xóa bỏ điều khoản “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” trong Hiến pháp và văn kiện Đảng, viện dẫn lý do “vi phạm nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng”, “cản trở tự do kinh doanh”.

Xét về phương thức truyền bá, các luận điệu này được thể hiện dưới các hình thức ngày càng tinh vi như: trích dẫn số liệu thật nhưng cắt xén khỏi ngữ cảnh, thể hiện dưới dạng đồ họa hoặc video ngắn có tính lan truyền cao trên mạng xã hội, đồng thời núp bóng danh nghĩa “chuyên gia độc lập” nhằm tạo độ tin cậy giả tạo. Về bản chất, cả 4 nhóm luận điệu đều có chung một điểm: xuất phát từ phê phán hiện tượng cụ thể, đi đến phủ định toàn bộ mô hình và cuối cùng hướng tới đòi thay đổi nền tảng thể chế chính trị. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa luận điệu xuyên tạc có chủ đích với những ý kiến phản biện chính sách mang tính xây dựng: người góp ý xây dựng luôn chỉ ra vấn đề cụ thể và đề xuất cách sửa; người có ý đồ xấu thường chỉ phủ định tất cả, không đưa ra giải pháp nào và mục đích cuối cùng luôn là kích động, làm mất niềm tin.

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Từ lý luận khoa học

Luận điệu “có kinh tế nhà nước thì không có kinh tế thị trường” là một lối lập luận sai lệch, đồng nhất một cách siêu hình “kinh tế thị trường” với “tư nhân hóa hoàn toàn”. Thực tiễn cho thấy không tồn tại một nền kinh tế thị trường thuần túy; mọi nền kinh tế thị trường phát triển đều có sự can thiệp, điều tiết và sở hữu của nhà nước ở mức độ khác nhau. Samuelson (1997) cũng thừa nhận thị trường không phải lúc nào cũng vận hành hoàn hảo, có những lĩnh vực mà cơ chế giá cả và lợi nhuận tư nhân không thể dẫn tới phân bổ nguồn lực tối ưu - đó chính là cơ sở khách quan, được chính giới học thuật kinh tế thị trường thừa nhận, cho sự hiện diện của kinh tế nhà nước nhằm khắc phục các “thất bại thị trường”.

Đối với luận điệu đòi xóa bỏ điều khoản hiến định về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với lý do “vi phạm cạnh tranh bình đẳng”, cần khẳng định: nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi mọi chủ thể kinh tế, không phân biệt thành phần sở hữu, đều phải tuân thủ cùng một khung pháp lý và quy tắc thị trường; nguyên tắc này không đồng nghĩa với việc loại trừ sự hiện diện của doanh nghiệp nhà nước. Theo Nghị quyết số 79-NQ/TW, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện qua vai trò “định hướng, dẫn dắt, hỗ trợ” ở những ngành, lĩnh vực then chốt, tạo “đầu tàu” để kéo theo khu vực tư nhân phát triển theo đúng chiến lược quốc gia (Bộ Chính trị, 2026). Do đó, về bản chất, luận điệu đòi xóa bỏ điều khoản này trong Hiến pháp thực chất nhằm thay đổi bản chất chính trị của Nhà nước ta, xóa bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và ghi nhận trong Hiến pháp.

Về luận điệu lợi dụng sai phạm cục bộ để quy chụp toàn bộ mô hình, cần phân biệt rạch rõ giữa bản chất chính sách và vấn đề thực thi. Theo Vo Tri Thanh (2023), nguyên nhân kém hiệu quả ở một số doanh nghiệp cụ thể thường liên quan đến chính sách, cơ chế quản trị hoặc thiếu chính sách công nghiệp rõ ràng, chứ không phải bản chất sở hữu nhà nước. Đồng thời, do doanh nghiệp nhà nước thường đồng thời đảm nhận cả mục tiêu thương mại lẫn mục tiêu chính sách công (an sinh xã hội, việc làm, điều tiết thị trường), việc đánh giá hiệu quả hoạt động chỉ dựa trên chỉ số lợi nhuận tài chính đơn thuần là chưa toàn diện (Knutsen và Do, 2020). Báo cáo đánh giá quản trị công ty tại doanh nghiệp nhà nước Việt Nam của OECD (2022) cũng khuyến nghị theo hướng nâng cao tính minh bạch, tách bạch chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý nhà nước, chứ không đặt vấn đề xóa bỏ sở hữu nhà nước. Điều này cho thấy, ngay cả các tổ chức quốc tế cũng không đặt vấn đề xóa bỏ kinh tế nhà nước, mà tập trung vào nâng cao hiệu quả quản trị.

Và thực tiễn quốc tế

Thực tiễn thế giới cho thấy, kinh tế nhà nước là thành phần không thể thiếu trong mọi nền kinh tế thị trường hiện đại, không riêng ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Tại Singapore - nền kinh tế thị trường tự do hàng đầu châu Á - Chính phủ vẫn duy trì vai trò sở hữu thông qua các công ty liên kết chính phủ (government-linked companies); riêng quỹ đầu tư Temasek Holdings có danh mục đầu tư ròng đạt 434 tỷ đô la Singapore vào năm 2025, đóng vai trò là một trụ cột của nền kinh tế quốc gia (Trần Hoàng, 2025). Tại Na Uy, Quỹ Hưu trí Chính phủ Toàn cầu (Government Pension Fund Global) - quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới với quy mô khoảng 1.900 tỷ USD - đã giúp quốc gia này chuyển hóa nguồn thu từ tài nguyên dầu khí thành tài sản tích lũy dài hạn, tránh được hiện tượng “lời nguyền tài nguyên” mà nhiều quốc gia giàu tài nguyên khác gặp phải.

Ngay tại Hoa Kỳ, quốc gia được xem là hình mẫu của chủ nghĩa tư bản tự do, Chính phủ liên bang vẫn duy trì cơ chế giám sát chặt chẽ thông qua Ủy ban Đầu tư nước ngoài tại Hoa Kỳ (CFIUS), có thẩm quyền ngăn chặn các giao dịch đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chiến lược. Liên minh châu Âu áp dụng cơ chế sàng lọc đầu tư trực tiếp nước ngoài tương tự từ năm 2020. Tại Pháp, Cơ quan Quản lý phần vốn nhà nước (Agence des participations de l'État) trực tiếp quản lý cổ phần nhà nước tại các tập đoàn chiến lược như EDF (điện lực) hay Air France-KLM; tại Đức, Ngân hàng Tái thiết KfW thuộc sở hữu nhà nước tiếp tục là kênh tài trợ chủ lực cho công nghiệp và chuyển đổi năng lượng.

Hàn Quốc trong giai đoạn công nghiệp hóa 1960-1970 đã dùng kinh tế nhà nước, đặc biệt là biện pháp kiểm soát hệ thống tín dụng, làm đòn bẩy xây dựng công nghiệp nặng và hóa chất, áp dụng cơ chế “thưởng phạt dựa trên kết quả” đối với cả doanh nghiệp tư nhân (Bunthoeun Thun, 2018). Trung Quốc dù đã đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân, vẫn duy trì khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 30% GDP, tập trung ở các lĩnh vực năng lượng, viễn thông, tài chính - ngân hàng; kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc cho thấy xu hướng “tái cơ cấu có chọn lọc” - cắt giảm ở những lĩnh vực kém hiệu quả, đồng thời tập trung nguồn lực cho các ngành công nghệ cao và hạ tầng chiến lược - thay vì xóa bỏ hoàn toàn vai trò của khu vực này (Tô Hà, 2024).

Từ mô hình quỹ đầu tư quốc gia của Na Uy, Singapore đến mô hình nhà nước phát triển của Hàn Quốc, Trung Quốc và cả các nước tư bản phát triển, có thể khẳng định: không có bất kỳ nền kinh tế thị trường phát triển, thành công nào trên thế giới hoàn toàn vắng bóng vai trò của kinh tế nhà nước. Điều này cho thấy, luận điệu đòi xóa bỏ hoàn toàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam đi ngược lại quy luật phát triển khách quan đã được kiểm chứng qua thực tiễn quốc tế.

Đến những thành tựu của Việt Nam

Đây là bằng chứng thuyết phục và trực diện nhất để bác bỏ luận điệu cho rằng kinh tế nhà nước là “gánh nặng”, “lực cản”. Theo Tổng cục Thống kê (2025), khu vực kinh tế nhà nước hiện đóng góp khoảng 21,06% GDP cả nước. Đáng chú ý, số lượng doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả kinh doanh (tương đương 1.804 doanh nghiệp), nhưng đóng góp tới 8,81% tổng thu ngân sách nhà nước, tương đương 180.104 tỷ đồng. Tính bình quân, mỗi doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 99,8 tỷ đồng vào ngân sách mỗi năm, cao gấp khoảng 9,5 lần so với mức bình quân của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (khoảng 10,5 tỷ đồng/doanh nghiệp) và gấp khoảng 200 lần so với doanh nghiệp tư nhân trong nước (khoảng 0,5 tỷ đồng/doanh nghiệp) (Tổng cục Thống kê, 2025). Đây là bằng chứng định lượng trực tiếp bác bỏ luận điệu cho rằng kinh tế nhà nước là “gánh nặng” đối với ngân sách quốc gia.

Ở cấp độ doanh nghiệp cụ thể, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) - từ một đơn vị quốc phòng đã phát triển thành tập đoàn công nghệ hàng đầu khu vực, làm chủ công nghệ 5G và trí tuệ nhân tạo - đạt mức tăng trưởng 13,8% năm 2025, đóng góp hơn 40.900 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam), đơn vị giữ vai trò bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp hơn 165.000 tỷ đồng trong năm 2024, tương đương 9-10% GDP cả nước (Báo Nhân Dân, 2025a). Bên cạnh đó, khối ngân hàng thương mại nhà nước (Vietcombank, BIDV, Agribank) tiếp tục là kênh dẫn vốn chủ lực cho các chương trình mục tiêu quốc gia và những địa bàn khó khăn, nơi khu vực tư nhân ít có động lực tài chính để đầu tư. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) bảo đảm cung ứng điện ổn định tới các vùng sâu, vùng xa - những khu vực có suất đầu tư cao nhưng khả năng thu hồi vốn thấp.

Ở chiều cạnh xã hội, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của Việt Nam đã giảm từ hơn 70% trong những năm đầu đổi mới xuống còn 1,3% vào năm 2025 (Báo Nhân dân, 2025b), phản ánh việc nguồn lực từ khu vực kinh tế nhà nước, thông qua ngân sách và đầu tư công, đã được phân bổ hiệu quả cho các mục tiêu an sinh xã hội. Đồng thời, theo cập nhật của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang triển khai chương trình đầu tư hạ tầng quy mô khoảng 320 tỷ USD trong 5 năm tới, song song với quá trình tinh gọn bộ máy và cải cách thể chế - giai đoạn được giới chuyên gia quốc tế gọi là “Đổi mới 2.0” (World Bank, 2026). Đây là bằng chứng cho thấy khu vực kinh tế nhà nước đang được đặt trong lộ trình cải cách chủ động, có mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể để giám sát, đánh giá, trái ngược với hình ảnh “trì trệ” mà các luận điệu xuyên tạc thường quy kết.

MỘT SỐ HÀM Ý

Từ kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một số hàm ý quan trọng cho công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực kinh tế.

Thứ nhất, hiệu quả của công tác đấu tranh, phản bác phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của hệ thống luận cứ khoa học và bằng chứng thực chứng có nguồn gốc rõ ràng, hạn chế các phản ứng mang tính khẩu hiệu, thiếu sức thuyết phục đối với đối tượng còn hoài nghi.

Thứ hai, cần kết hợp hài hòa giữa nhiệm vụ “xây” và “chống”, cùng với đấu tranh phản bác, cần tiếp tục thúc đẩy cải cách thực chất, tăng cường minh bạch khu vực kinh tế nhà nước và quản trị doanh nghiệp nhà nước, qua đó triệt tiêu tận gốc cơ sở thực tiễn mà các luận điệu xuyên tạc thường lợi dụng.

Thứ ba, cần phân biệt rạch ròi giữa phản biện chính sách chính đáng với luận điệu xuyên tạc có chủ đích chính trị, nhằm tránh cả 2 khuynh hướng cực đoan: quy chụp mọi ý kiến phản biện là thù địch, hoặc mất cảnh giác trước những luận điệu chống phá được ngụy trang tinh vi.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo Nhân Dân (2025a). Petrovietnam - Trụ cột của nền kinh tế Việt Nam. https://nhandan.vn/petrovietnam-tru-cot-cua-nen-kinh-te-viet-nam-post906936.html

2. Báo Nhân Dân (2025b). Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống 1,3% năm 2025. https://nhandan.vn/ty-le-ho-ngheo-da-chieu-giam-xuong-13-nam-2025-post916422.html

3. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.

4. Bunthoeun, T. (2018). How developmental states promote growth? Case studies from South Korea, Singapore and China.

5. Hoàng Thị Bích Loan (2026). Nhận diện và phản bác các luận điệu phủ định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. https://moit.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/nhan-dien-va-phan-bac-cac-luan-dieu-phu-dinh-vai-tro-chu-dao-cua-kinh-te-nha-nuoc-trong-xay-dung-va-phat-trien-kinh-te-t.html

6. Keynes, J. M. (2002). Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (bản dịch tiếng Việt). Nxb Thống kê.

7. Knutsen, H. M., & Do, T. K. (2020). Reforming state-owned enterprises in a global economy: The case of Vietnam. The socialist market economy in Asia.

8. Lê Hải (2021). Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/dau-tranh-phan-bac-nhung-thong-tin-xuyen-tac-sai-trai-thu-dich-tren-khong-gian-mang-giu-vung-tran-dia-tu-tuong-ly-luan-cua-dang-trong-boi-canh-moi

9. Macheda, F., & Liu, J. (2025). The role of state-owned enterprises in promoting high-quality economic development: The case of China. World Review of Political Economy.

10. Nguyễn Thị Hoa (2025). Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân. https://lyluanchinhtri.vn/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-xuyen-tac-phu-nhan-quan-diem-cua-dang-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-10259.html

11. Samuelson, P. A. (1997). Kinh tế học (bản dịch tiếng Việt). NxbChính trị quốc gia.

12. Tô Hà (2024). Việt Nam - Trung Quốc trao đổi kinh nghiệm quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. https://nhandan.vn/viet-nam-trung-quoc-trao-doi-kinh-nghiem-quan-ly-von-nha-nuoc-tai-doanh-nghiep-post803730.html

13. Tổng cục Thống kê (2025). Niên giám Thống kê 2024. Nxb Thống kê.

14. Trần Hoàng (2025). Hướng tới mục tiêu thành lập quỹ đầu tư Chính phủ. https://nhandan.vn/huong-toi-muc-tieu-thanh-lap-quy-dau-tu-chinh-phu-post927603.html

15. Vo Tri Thanh (2023). Viet Nam: Transition to a socialist-oriented market economy. Viet Nam 2045: Development issues and challenges. ERIA.

16. World Bank (2026). Vietnam's economy remains resilient but sustained reforms are key to navigating heightened uncertainty. https://www.worldbank.org

Ngày nhận bài: 4/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 29/10/2026

Các tin khác

Hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường tại Chi cục Quản lý thị trường Thanh Hóa

Hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường tại Chi cục Quản lý thị trường Thanh Hóa

Trong bối cảnh phương thức kinh doanh thay đổi nhanh, đặc biệt là sự phát triển của thương mại điện tử và mạng xã hội, công tác quản lý thị trường không chỉ đòi hỏi tuân thủ pháp luật mà còn cần nâng cao năng lực thu thập, phân tích thông tin, dự báo rủi ro và phối hợp liên ngành.
Kế toán quản trị chi phí môi trường tại bệnh viện công lập dưới góc nhìn phát triển bền vững và áp lực thể chế

Kế toán quản trị chi phí môi trường tại bệnh viện công lập dưới góc nhìn phát triển bền vững và áp lực thể chế

Tại Việt Nam, các quy định về bảo vệ môi trường, định hướng tăng trưởng xanh và cơ chế tự chủ tài chính tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với quản trị bệnh viện công lập. Tuy nhiên, việc quản lý chi phí môi trường tại các bệnh viện vẫn chủ yếu hướng đến tuân thủ quy định, trong khi thông tin kế toán phục vụ kiểm soát chi phí và ra quyết định còn hạn chế.
Yêu cầu về năng lực xanh đối với nguồn nhân lực logistics cảng biển tại TP. Đà Nẵng

Yêu cầu về năng lực xanh đối với nguồn nhân lực logistics cảng biển tại TP. Đà Nẵng

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, phát triển logistics cảng biển cần gắn mục tiêu nâng cao hiệu quả khai thác với tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động môi trường. Quá trình này đặt ra yêu cầu đổi mới công nghệ, tổ chức vận hành và phát triển nguồn nhân lực.
Phát huy vai trò của pháp luật đất đai trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững tại Việt Nam

Phát huy vai trò của pháp luật đất đai trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững tại Việt Nam

Đất đai là nguồn lực đặc biệt và là tài sản có giá trị lớn của nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy, pháp luật đất đai giữ vai trò kiến tạo trong việc khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Giải pháp nâng cao sự hài lòng, thúc đẩy ý định quay lại của khách hàng tại chuỗi cà phê thương hiệu Nón Coffee ở TP. Hồ Chí Minh

Giải pháp nâng cao sự hài lòng, thúc đẩy ý định quay lại của khách hàng tại chuỗi cà phê thương hiệu Nón Coffee ở TP. Hồ Chí Minh

Thị trường cà phê tại Việt Nam cạnh tranh ngày càng mạnh về sản phẩm, thương hiệu và trải nghiệm dịch vụ. Khách hàng không chỉ lựa chọn quán dựa trên đồ uống mà còn cân nhắc không gian, tốc độ phục vụ, sự thuận tiện, mức độ cá nhân hóa và tính ổn định. Với các thương hiệu Việt Nam, trải nghiệm khác biệt là yếu tố quan trọng giúp duy trì khách hàng khi có nhiều lựa chọn thay thế.
Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam

Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam

Các hệ thống tự động ngày càng có khả năng thực hiện các hoạt động tạo ra hệ quả pháp lý với mức độ can thiệp của con người thấp hơn, từ đó đặt ra những vấn đề mới đối với pháp luật hợp đồng, đặc biệt là việc công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi của hệ thống tự động.
Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Theo báo cáo thực tiễn, 93% SME tại Việt Nam đã tiếp cận hoặc sử dụng ít nhất một công cụ AI trong hoạt động kinh doanh, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về mức độ phổ cập AI ban đầu.
Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam

Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam

Khung chuyển đổi chi phí kế toán quản trị thành mô hình QUBO cho thấy tối ưu hóa phân bổ hàng hóa F&B phụ thuộc nhiều vào năng lực mô hình hóa dữ liệu hơn phần cứng lượng tử, khi các phương pháp cổ điển như MILP vẫn vượt trội về tốc độ và khả năng mở rộng.
Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Sau cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 tại COP26 và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, chuyển đổi xanh đã trở thành định hướng chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam.
Tổng quan nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế

Tổng quan nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế

Bằng cách thúc đẩy đổi mới và hiệu quả trong sử dụng tài nguyên sinh học (động vật, thực vật, vi sinh vật), kinh tế sinh học đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững và nâng cao phúc lợi kinh tế - xã hội và lợi ích môi trường.