Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay
TS. Nguyễn Quang Tạo
Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bài viết làm rõ cơ sở và khả năng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích các quan điểm của Người về kế thừa và đổi mới, gắn phát triển kinh tế với văn hóa, phát huy vai trò của nhân dân và bảo đảm lợi ích lâu dài, nghiên cứu đánh giá thực tiễn khai thác di sản, chỉ ra những kết quả, hạn chế và thách thức trong việc kết hợp phát triển kinh tế với bảo tồn. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng phát triển kinh tế di sản theo hướng bền vững, gắn đổi mới sáng tạo với bảo tồn, phát huy vai trò cộng đồng và nâng cao đời sống nhân dân.
Từ khóa: Di sản văn hóa, kinh tế di sản, phát triển bền vững, tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam
Abstract
This paper clarifies the theoretical foundations and applicability of Ho Chi Minh's thought to the development of the heritage economy in contemporary Viet Nam. By analysing his perspectives on inheritance and innovation, the integration of economic development with culture, the promotion of the people's role, and the safeguarding of long-term interests, the study examines current practices in heritage exploitation and identifies the achievements, limitations and challenges involved in reconciling economic development with heritage conservation. Finally, the study proposes orientations for sustainable heritage economy development, emphasising the integration of innovation with conservation, the promotion of community participation, and improvements in people's living standards.
Keywords: Cultural heritage, heritage economy, sustainable development, Ho Chi Minh's thought, Viet Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển kinh tế di sản (KTDS) đang trở thành một hướng quan trọng nhằm phát huy giá trị di sản, tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, khai thác di sản để tạo giá trị kinh tế luôn đặt ra yêu cầu giải quyết hài hòa giữa phát triển với bảo tồn, giữa lợi ích trước mắt với giá trị lâu dài. Ở Việt Nam, Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 và Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 tạo cơ sở quan trọng cho việc phát huy nguồn lực di sản trong phát triển đất nước (Quốc hội, 2024; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025).
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp đề cập đến khái niệm “kinh tế di sản”, nhưng những quan điểm của Người về kinh tế, văn hóa, con người, nhân dân và bảo vệ các giá trị của dân tộc chứa đựng những giá trị phương pháp luận có thể vận dụng vào vấn đề này. Vì vậy, nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển KTDS nhằm làm rõ cơ sở tư tưởng và những định hướng có giá trị đối với việc khai thác, phát huy nguồn lực di sản theo hướng hiệu quả, bền vững, gắn với lợi ích của nhân dân và bảo tồn các giá trị cho các thế hệ tương lai.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KINH TẾ DI SẢN
Có thể hiểu KTDS là quá trình huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực gắn với di sản văn hóa và di sản thiên nhiên để tạo ra giá trị kinh tế, việc làm, sinh kế và nguồn thu, đồng thời duy trì, phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa, xã hội và sinh thái. Theo cách tiếp cận này, KTDS không đồng nhất với thương mại hóa di sản, mà hướng tới làm cho di sản tiếp tục được bảo tồn, phát huy và tạo đóng góp cho phát triển. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với xu hướng quốc tế coi văn hóa và di sản là một thành tố của phát triển bền vững. UNESCO (2023) nhấn mạnh, các hoạt động kinh tế gắn với di sản sống có thể tạo sinh kế, tăng cường gắn kết xã hội nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm sức sống của di sản và sự công bằng trong phân phối lợi ích.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể nhận diện một số luận điểm có giá trị phương pháp luận đối với phát triển KTDS.
Một là, kế thừa có chọn lọc, đồng thời đổi mới và phát triển sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm” (Hồ Chí Minh, 2011). Đây là cách nhìn biện chứng đối với mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới: không bảo tồn máy móc, cũng không phủ định sạch trơn những giá trị đã được lịch sử tạo dựng. Vận dụng vào KTDS đòi hỏi nhận diện đúng giá trị cốt lõi, tính xác thực và tính toàn vẹn của di sản, đồng thời đổi mới phương thức tổ chức, khai thác và truyền tải để di sản phù hợp với đời sống đương đại.
Hai là, gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa... để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta” (Hồ Chí Minh, 2011). Như vậy, kinh tế không phải mục tiêu tự thân, mà phải phục vụ những mục tiêu xã hội và con người rộng lớn hơn. Đối với KTDS, giá trị kinh tế phải được tạo lập trên nền tảng giá trị văn hóa, lịch sử, xã hội, môi trường và con người; khai thác di sản phải đồng thời duy trì những giá trị làm nên bản sắc và sức sống của di sản.
Ba là, lấy nhân dân làm chủ thể và mục tiêu của phát triển. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”, đồng thời nhấn mạnh phải “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” (Hồ Chí Minh, 2011). Đối với KTDS, cộng đồng gắn bó với di sản không thể chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải trở thành chủ thể tham gia bảo tồn, khai thác, cung cấp dịch vụ và giám sát hoạt động phát triển. Khi lợi ích kinh tế từ di sản quay trở lại phục vụ cộng đồng, KTDS mới tạo được động lực xã hội cho bảo tồn và trao truyền di sản.
Bốn là, sử dụng hợp lý và có tầm nhìn dài hạn đối với nguồn lực tự nhiên. Khi nói về bảo vệ rừng, Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải giữ gìn rừng cho tốt. 5 năm, 10 năm nữa, rừng là vàng là bạc, là máy móc cả” (Hồ Chí Minh, 2011). Quan điểm này thể hiện rõ tư duy phát triển dài hạn: nguồn lực tự nhiên vừa là điều kiện của phát triển hiện tại, vừa phải được bảo vệ để tiếp tục tạo ra giá trị trong tương lai. Vận dụng vào KTDS thiên nhiên đòi hỏi kiểm soát cường độ khai thác, bảo vệ hệ sinh thái, tôn trọng sức chịu tải và tái đầu tư một phần nguồn thu cho bảo tồn, phục hồi.
Năm là, lấy nâng cao đời sống nhân dân và lợi ích lâu dài làm mục tiêu của phát triển. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011). Vì vậy, hiệu quả KTDS không thể chỉ được đánh giá bằng doanh thu, lượng khách hay quy mô đầu tư mà phải xem xét cả việc làm, thu nhập, sinh kế, chất lượng môi trường, khả năng trao truyền di sản và đời sống văn hóa của cộng đồng.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không cung cấp một mô hình KTDS theo nghĩa trực tiếp, nhưng cung cấp hệ thống nguyên tắc phương pháp luận quan trọng để định hướng quá trình phát triển: kế thừa gắn với đổi mới; kinh tế gắn với văn hóa và con người; nhân dân là chủ thể; khai thác gắn với bảo tồn; lợi ích trước mắt gắn với lợi ích lâu dài.
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DI SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Những năm gần đây, KTDS ở Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, thể hiện ngày càng rõ khả năng chuyển hóa các giá trị văn hóa, lịch sử và tự nhiên thành nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam hiện có 9 di sản được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới, gồm 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên và 1 di sản hỗn hợp; cùng với đó là hệ thống phong phú các di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu, công viên địa chất và khu dự trữ sinh quyển (UNESCO, 2026b). Thành tựu nổi bật trước hết thể hiện ở khả năng tạo doanh thu và sinh kế thông qua du lịch gắn với di sản. Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, khoảng 137 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2024 (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2026). Ở những địa bàn có tài nguyên di sản đặc sắc, tác động kinh tế thể hiện khá rõ: Năm 2025, Huế đón khoảng 6,3 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt hơn 13.000 tỷ đồng, tăng hơn 64% (NA, 2025); Ninh Bình đón gần 19,42 triệu lượt khách, doanh thu đạt khoảng 21.278 tỷ đồng (Diệp Anh, 2026). Đáng chú ý, việc khai thác di sản đã bước đầu gắn với tạo sinh kế cho cộng đồng. Trong năm 2025, các chương trình hỗ trợ tại Việt Nam đã giúp 21.150 người dân địa phương phát triển và tiêu thụ các sản phẩm dựa trên di sản, góp phần liên kết bảo tồn với du lịch bền vững và kinh tế địa phương (UNESCO, 2026a).
Tuy nhiên, KTDS vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và còn bộc lộ nhiều hạn chế. Hoạt động khai thác hiện vẫn tập trung chủ yếu vào du lịch và dịch vụ, trong khi khả năng tạo giá trị từ công nghiệp văn hóa, sản phẩm sáng tạo, thương hiệu, bản quyền và công nghệ số còn hạn chế. Tiềm năng của các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo ở Việt Nam vẫn chưa được khai thác đầy đủ; dưới 2,5% thanh niên đang làm việc trong lĩnh vực này, cho thấy quy mô thị trường và khả năng hấp thụ nguồn nhân lực còn khiêm tốn (UNESCO, 2025b). Bên cạnh đó, quá trình thương mại hóa ở một số điểm di sản có nguy cơ đặt mục tiêu tăng khách và doanh thu cao hơn yêu cầu bảo tồn, gây sức ép lên hạ tầng, môi trường và cảnh quan. Việc một số di sản phi vật thể vẫn phải đưa vào danh sách cần bảo vệ khẩn cấp, như nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh năm 2025, cho thấy khoảng cách giữa việc sở hữu tài nguyên di sản và khả năng duy trì, tái tạo giá trị kinh tế của di sản trong thực tiễn (UNESCO, 2025a).
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, để phát triển KTDS ở Việt Nam hiện nay, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, kế thừa có chọn lọc và phát triển sáng tạo các giá trị di sản. Phát triển KTDS phải bắt đầu từ nhận diện đúng giá trị, bảo vệ tính xác thực và toàn vẹn của di sản, đồng thời đổi mới phương thức khai thác, truyền tải. Không đồng nhất bảo tồn với giữ nguyên trạng mọi yếu tố, nhưng cũng không lấy sáng tạo làm lý do làm biến dạng di sản. Trên nền tảng giá trị gốc, có thể phát triển các sản phẩm du lịch, giáo dục, nghệ thuật, dịch vụ sáng tạo và nội dung số. Nguyên tắc xuyên suốt là sáng tạo trên nền tảng bảo tồn, để khai thác kinh tế đồng thời góp phần gia tăng nhận thức và nguồn lực cho bảo tồn.
Thứ hai, gắn phát triển KTDS với văn hóa, xã hội, môi trường và con người. KTDS không thể chỉ được đánh giá bằng doanh thu, lượng khách hay quy mô đầu tư, mà phải xem xét đồng thời hiệu quả kinh tế, bảo tồn di sản, tác động xã hội, môi trường, sinh kế và chất lượng trải nghiệm. Phát triển kinh tế phải trở thành nguồn lực cho bảo tồn và phát huy văn hóa; ngược lại, di sản phải được khai thác như một nguồn lực cho phát triển bền vững.
Thứ ba, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và bảo đảm phân phối lợi ích hợp lý. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy sức dân, cộng đồng địa phương cần được đặt ở vị trí trung tâm của chuỗi giá trị KTDS, không chỉ tham gia cung cấp dịch vụ mà còn có tiếng nói trong khai thác, bảo tồn và giám sát. Cần tạo điều kiện cho nghệ nhân, người thực hành di sản, hộ gia đình và các mô hình kinh tế cộng đồng tham gia, đồng thời xây dựng cơ chế phân phối lợi ích minh bạch giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.
Thứ tư, khai thác hợp lý gắn với bảo tồn và tái tạo giá trị di sản thiên nhiên. Đối với di sản thiên nhiên, phát triển kinh tế phải dựa trên sức chịu tải sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, kiểm soát ô nhiễm và phục hồi hệ sinh thái. Một phần nguồn thu từ khai thác cần được tái đầu tư cho bảo tồn. Theo đó, di sản thiên nhiên phải được xem là tài sản sống, trong đó bảo tồn là điều kiện duy trì giá trị kinh tế lâu dài.
Thứ năm, kết hợp lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, lấy nâng cao đời sống nhân dân làm thước đo. KTDS phải hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường, duy trì sinh kế và trao truyền các giá trị cho thế hệ sau. Cần đánh giá kết quả phát triển không chỉ bằng doanh thu và lượng khách mà cả việc làm, thu nhập cộng đồng, điều kiện truyền nghề, chất lượng môi trường và mức độ hài lòng của người dân.
KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh tuy không đề cập trực tiếp đến KTDS, nhưng những quan điểm của Người về phát triển kinh tế, văn hóa, con người, phát huy sức dân và bảo vệ các giá trị của dân tộc chứa đựng những giá trị phương pháp luận sâu sắc đối với phát triển KTDS ở Việt Nam hiện nay. Vận dụng những giá trị đó không phải là tìm kiếm một mô hình KTDS có sẵn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là kế thừa và phát triển sáng tạo những nguyên tắc phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong điều kiện hiện nay, phát triển KTDS cần được đặt trong tổng thể phát triển bền vững, bảo đảm sự hài hòa giữa khai thác và bảo tồn, giữa lợi ích kinh tế với các giá trị văn hóa, xã hội, môi trường và lợi ích của cộng đồng. Qua đó, di sản không chỉ được gìn giữ mà còn được phát huy như một nguồn lực nội sinh của phát triển, góp phần tạo sinh kế, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố bản sắc văn hóa và trao truyền các giá trị của dân tộc cho các thế hệ tương lai.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025). Quyết định số 3399/QĐ-BVHTTDL ngày 23/9/2025 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035.
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026). Báo cáo đánh giá kết quả ngành du lịch Việt Nam năm 2025, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026.
3. Diệp Anh (2026). Ninh Bình khẳng định là điểm đến an toàn - thân thiện - văn minh dịp Tết Bính Ngọ. https://baochinhphu.vn/ninh-binh-khang-dinh-la-diem-den-an-toan-than-thien-van-minh-dip-tet-binh-ngo-102260223143447897.htm?
4. Hồ Chí Minh (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 5, 6, 12, 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
5. NA (2025). Du khách đến Huế tăng hơn 61% trong Năm Du lịch quốc gia 2025. https://baochinhphu.vn/du-khach-den-hue-tang-hon-61-trong-nam-du-lich-quoc-gia-2025-102251219160211635.htm?
6. Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024.
7. UNESCO (2023). Guidance note on the economic dimensions of intangible cultural heritage safeguarding under the 2003 Convention. UNESCO Intangible Cultural Heritage.
8. UNESCO (2025a). Craft of making Đông Hồ Folk woodblock printings. https://ich.unesco.org/en/USL/craft-of-making-ong-h-folk-woodblock-printings-01737?
9. UNESCO (2025b). UNESCO uplifting Viet Nam’s cultural and creative industries. https://www.unesco.org/en/articles/unesco-uplifting-viet-nams-cultural-and-creative-industries?
10. UNESCO (2026a). Snapshots 2025. https://articles.unesco.org/sites/default/files/medias/fichiers/2026/04/Snapshots_2025_FINAL_lite.pdf?
11. UNESCO (2026b). Viet Nam - World Heritage Convention. https://whc.unesco.org/en/statesparties/vn?
| Ngày nhận bài: 27/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/10/2026; Ngày duyệt đăng: 26/10/2026 |
Các tin khác
Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn
Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á
Thực trạng ý định ứng dụng logistics xanh trong các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam
Định kiến giới và cơ hội thăng tiến được cảm nhận của lao động nữ trong ngành khách sạn: Vai trò trung gian của nguồn lực từ mạng lưới nghề nghiệp
Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai
Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam