Tác động của rủi ro tài chính đến tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 17:28 | 26/05/2026
Cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 là lời nhắc nhở rõ ràng về hậu quả của việc quản lý rủi ro không đầy đủ, dẫn đến sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý và sự suy giảm niềm tin của nhà đầu tư trên toàn cầu.

Phạm Thị Hoàn

Trường Đại học Hải Phòng

Email: hoan1986hp@gmail.com

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá tác động của rủi ro tài chính đến tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Rủi ro thanh khoản, Rủi ro tỷ giá có tác động ngược chiều và đáng kể đến Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu, còn Rủi ro tín dụng có tác động tùy thuộc vào năng lực của các ngân hàng thương mại.

Từ khóa: Rủi ro tài chính, rủi ro lãi suất, tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu

Abstract

This study evaluates the impact of financial risks on return on equity in several Vietnamese commercial banks. The findings indicate that liquidity risk and exchange rate risk have significant negative effects on return on equity, while the impact of credit risk depends on the operational capacity and risk management capability of commercial banks.

Keywords: Financial risk, interest rate risk, return on equity

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rủi ro tài chính có thể gây ra biến động không lường trước được đối với hiệu quả hoạt động và sự ổn định ngân hàng. Rủi ro này bao gồm một loạt các mối nguy hiểm như rủi ro thị trường, tín dụng, thanh khoản, lãi suất, hoạt động và pháp lý. Quản lý rủi ro hiệu quả không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn thu hút sự quan tâm của nhiều bên liên quan, từ cơ quan quản lý đến khách hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 là lời nhắc nhở rõ ràng về hậu quả của việc quản lý rủi ro không đầy đủ, dẫn đến sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý và sự suy giảm niềm tin của nhà đầu tư trên toàn cầu. Tác động của rủi ro tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động như Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế… Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các rủi ro tài chính chưa được nghiên cứu đầy đủ trong bối cảnh cụ thể của ngành ngân hàng, nơi có yêu cầu dự trữ vốn, và rủi ro cao. Do đó, nghiên cứu tập trung việc phân tích tác động của các rủi ro tài chính đến ROE tại một số trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Qua đó, góp phần hỗ trợ các cơ quan quản lý, quản trị ngân hàng trong việc quản lý rủi ro trong hệ thống ngân hàng.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Kiệt quệ tài chính, theo Altman và Hotchkiss (1993), có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, như: mất khả năng thanh toán, vỡ nợ, phá sản… Kiệt quệ tài chính còn được hiểu là việc công ty không thể thanh toán được các khoản nợ đã đến hạn ở hiện tại hoặc dù có bán hết tài sản cũng không đủ để chi trả cho các khoản nợ (Chen và cộng sự, 2001). Nếu như tình trạng khó khăn về tài chính này diễn ra trong thời gian dài, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với nguy cơ phá sản (Hendel, 1996). Kiệt quệ tài chính không phải chỉ mất khả năng thanh toán các khoản nợ, mà còn là tình trạng tài sản dòng âm, có nghĩa là tổng nợ phải trả của doanh nghiệp vượt quá so với tổng tài sản (Doumpos và Zopounidis, 1999). Kiệt quệ tài chính là một vấn đề quan trọng đối với tất cả các bên liên quan của doanh nghiệp, bao gồm: các nhà đầu tư, chủ nợ, quản lý, thậm chí cả nhân viên (Ranjbar và Amanollahi, 2018).

Lý thuyết thanh khoản được đưa ra bởi Maynard Keynes (1930), thường được gọi là Lý thuyết về sự ưa thích thanh khoản hay mô hình cung cầu tiền. Điểm xuất phát của lý thuyết này là Keynes giả thuyết rằng người dân trong nền kinh tế sẽ chỉ nắm giữ của cải dưới 2 dạng: tiền (tiền mặt và tiền gửi thanh toán) và trái phiếu. Keynes cho rằng, việc nắm giữ tiền sẽ không mang lại thu nhập (tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng không trả lãi và tài sản thay thế duy nhất của tiền là trái phiếu sẽ mang lại lợi nhuận (tiền lãi) cho người nắm giữ trái phiếu. Rủi ro thanh khoản càng cao, chi phí vốn tăng làm cho ROE giảm.

Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT) cho phép các nhà đầu tư không thích rủi ro có thể xây dựng danh mục đầu tư một cách tối ưu hóa hay tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng trên một mức độ rủi ro thị trường nhất định, với rủi ro là một phần cần đánh đổi để có lợi nhuận cao hơn. Theo Lý thuyết MPT, có thể xây dựng một “đường biên hiệu quả” cho danh mục đầu tư tối ưu để mang lại lợi nhuận kỳ vọng tối đa có thể cho một mức độ rủi ro nhất định. Lý thuyết này đã được Markowitz (1952) giới thiệu trong bài “Lựa chọn danh mục đầu tư”. Lý thuyết danh mục đầu tư cho thấy, quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả giúp tối ưu ROE.

Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Khoa và cộng sự (2023) về tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam cho thấy, rủi ro thanh khoản có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong khi rủi ro tín dụng tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Theo Nguyễn Ngọc Sơn, Bùi Thị Ngọc (2024), rủi ro tín dụng có ý nghĩa và mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lời. Maulana và cộng sự (2024) chỉ ra rằng, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản có tác động khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố nội tại của các NHTM.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Kế thừa các lý thuyết và nghiên cứu trên, tác giả đưa ra các giả thuyết sau:

H1: Rủi ro tín dụng (NPL) tác động ngược chiều tới ROE của NHTM.

H2: Rủi ro thanh khoản (LTG) tác động ngược chiều tới ROE của NHTM.

H3: Rủi ro lãi suất (IR) tác động cùng chiều (tích cực) đến ROE của NHTM.

H4: Rủi ro tỷ giá (EXR) tác động ngược chiều với ROE của NHTM.

Từ giả thuyết nghiên cứu trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng sau:

ROEt = f(NPL, LTG, IR, EXR)

Trong đó:

ROEt: Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu.

NPL: Rủi ro tín dụng.

LTG: Rủi ro thanh khoản.

IR: Rủi ro lãi suất.

EXR: Rủi ro tỷ giá.

Trên cơ sở đó, mô hình hồi quy nghiên cứu mối quan hệ của tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của NHTM như sau:

ROE (α, αi)= αo + α1.NPLit + α2.LTGit + α3.IRit + α4.EXRit + eit

Trong đó:

ROEit: Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu của ngân hàng i trong năm t.

.NPLit: Rủi ro tín dụng của ngân hàng i trong năm t.

LTGit: Rủi ro thanh khoản ngân hàng i trong năm t.

IRit: Rủi ro lãi suất ngân hàng i trong năm t.

EXRit: Rủi ro tỷ giá ngân hàng i trong năm t.

eit: là một sai số ngẫu nhiên với phương sai liên tục và có giá trị bằng 0.

α: phân vị (α có giá trị từ (0,1).

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu được tác giả thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, nghị quyết đại hội cổ đông thường niên của 24 NHTM tại Việt Nam trên sàn giao dịch chứng khoán giai đoạn 2016-2025. Dữ liệu được mã hóa và đưa vào phần mềm STATA 15 để kiểm định mô hình hồi quy theo phương pháp hồi quy phân vị (Quantile regression) được phát triển bởi Koenker và Bassett (1978). Nghiên cứu sử dụng 4 phân vị: 0.1; 0.25; 0.5; 0.75 để phân tích.

Nghiên cứu sử dụng cách viết thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Phân tích thống kê mô tả

Bảng 1: Thống kê mô tả biến

Biến

Số quan sát

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất

ROE

360

11.093

8.862

-82.002

36.275

NPL

360

2.232

2.010

0.200

29.757

LTG

360

42.398

23.360

-48.373

90.370

EXR

360

82.334

43.207

0.746

405.556

IR

360

48.324

9.244

-5.342

87.657

Nguồn: Kết quả tính toán từ STATA 15

Kết quả thống kê mô tả biến (Bảng 1) cho thấy, ROE trung bình đạt 11.093%; giá trị lớn nhất là 36.275% và giá trị nhỏ nhất là -82.002%. Vì vậy, kết quả khảo sát là hợp lý, có thể sử dụng cho phân tích tiếp theo.

Ma trận tương quan

Bảng 2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu

ROE

NPL

LTG

EXR

IR

ROE

1

NPL

-0.267**

1

LTG

-0.077

0.113**

1

EXR

-0.141***

0.006

0.0335

1

IR

-0.11*

0.0045

0.0012

0.023

1

Nguồn: Kết quả tính toán từ STATA 15

Ma trận hệ số tương quan giữa các biến (Bảng 2) cho thấy, các biến độc lập và phụ thuộc có tương quan với nhau. Các hệ số tương quan < 0.8, cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến. Kết quả ma trận tương quan cũng cho thấy:

- Rủi ro lãi suất (IR) với (r = -0.11, p < 0.1) có ít ý nghĩa thống kê, sự biến động của IR sẽ làm giảm ROE đi ngược lại với giả thuyết nghiên cứu và chưa thể hiện rõ trong các nghiên cứu trước đây, loại biến khỏi mô hình.

- Rủi ro tín dụng (NPL) với r = -0.267, p < 0.05 phản ánh mối quan hệ ngược chiều giữa NPL với ROE ở mức yếu có ý nghĩa thống kê và LTG tác động mức độ yếu (r = -0.077) hay rủi ro thanh khoản có thể ảnh hưởng không rõ ràng với ROE. Rủi ro tỷ giá có ý nghĩa thống kê cao (r = -0.141, p < 0.01), tác động ngược chiều với ROE.

Vì vậy mô hình hồi quy biến như sau:

ROEt = f(NPL, LTG, EXR)

Phân tích hồi quy

Bảng 3: Hồi quy MMQR (ROE)

ROE

Location

Scale

Quantiles

0.1

0.25

0.5

0.75

NPL

-0.699***

(0.123)

-0.073

(0.083)

-0.632***

(0.153)

-0.699***

(0.123)

-0.753***

(0.129)

-0.819***

(0.169)

LTG

-0.045**

(0.018)

-0.007

(0.012)

-0.038*

(0.023)

-0.045**

(0.018)

-0.051***

(0.019)

-0.058**

(0.025)

EXR

-0.023 (164.079)

0.034 (110.733)

-0.054*** (0.002

-0.024 (0.016)

0.001 (0.017)

0.032 (0.023)

CONS

-82.865***

(11.998)

3.639

(8.097)

-86.166***

(14.954)

-82.85**

(11.997)

-80.202

(12.583)

-76.943***

(16.477)

Ghi chú: sai số chuẩn trong ngoặc đơn, *** p < 0.01; **p < 0.05; *p < 0.1

Nguồn: Kết quả tính toán từ STATA 15

Kết quả phân tích hồi quy (Bảng 3) cho thấy:

- Tác động của Rủi ro tín dụng (NPL) làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở thước đo Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu - ROE (mức độ tác động mạnh dần theo các phân vị); đồng thời tác động mạnh hơn ở các nhóm ngân hàng có ROE cao hay ngân hàng càng hiệu quả thì càng nhạy cảm với NPL.

- Tác động của Rủi ro thanh khoản (LTG) làm giảm ROE (giảm dần theo các phân vị), nghĩa là LTG càng lớn thì ROE càng giảm. Mối quan hệ ngược chiều phù hợp với nghiên cứu Mwangi (2014) và phù hợp với giả thuyết nghiên cứu.

- Tác động của Rủi ro tỷ giá (EXR) có ý nghĩa thống kê ở phân vị 0.25 không có ý nghĩa với phân vị cao hơn của ROE. Sự thay đổi của tỷ giá sẽ làm giá trị tài sản biến động, dẫn đến sự thay đổi thu nhập lãi và chi phí lãi. Sự mất cân đối trong cấu trúc tài sản và nợ bằng ngoại tệ sẽ khiến cho ROE có chiều hướng suy giảm.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã phân tích tác động của rủi ro tài chính đến Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) tại một số NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2016-2025 thông qua phương pháp hồi quy phân vị. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Rủi ro thanh khoản, Rủi ro tỷ giá và Rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến ROE, trong khi tác động của Rủi ro tín dụng có sự khác biệt tùy thuộc vào đặc điểm và năng lực quản trị của từng ngân hàng. Những phát hiện này góp phần củng cố bằng chứng thực nghiệm về vai trò quan trọng của quản trị rủi ro tài chính đối với hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị được đề xuất như sau.

Thứ nhất, các NHTM cần tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng theo hướng chủ động, thông qua việc duy trì dự trữ thanh khoản hợp lý, đa dạng hóa nguồn vốn và áp dụng các mô hình dự báo dòng tiền nhằm hạn chế các cú sốc thanh khoản.

Thứ hai, cần kiểm soát chặt chẽ rủi ro ngoại hối bằng cách cân đối trạng thái ngoại tệ, đồng thời sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro như hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi để giảm thiểu tác động bất lợi từ biến động tỷ giá.

Thứ ba, nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng thông qua hoàn thiện hệ thống chấm điểm tín dụng, kiểm soát nợ xấu và tăng cường ứng dụng công nghệ trong thẩm định khách hàng, từ đó cải thiện hiệu quả sinh lời.

Thứ tư, các ngân hàng cần tích hợp quản trị rủi ro vào chiến lược kinh doanh tổng thể, hướng tới tối ưu hóa lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trên cơ sở điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực quản trị, minh bạch thông tin và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế như Basel II, Basel III cũng là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Đồng thời, cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường giám sát nhằm hỗ trợ các ngân hàng kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế sau: (1) Mẫu nghiên cứu mới tập trung vào các NHTM niêm yết, chưa phản ánh đầy đủ toàn bộ hệ thống ngân hàng tại Việt Nam; (2) Các ngân hàng là những tổ chức có hoạt động phức tạp và không đồng nhất, do đó việc đo lường và lượng hóa rủi ro tài chính có thể chưa bao quát hết các yếu tố ảnh hưởng đến ROE. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi mẫu, bổ sung thêm các biến kiểm soát và áp dụng các phương pháp nghiên cứu khác để kiểm định sâu hơn mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và hiệu quả hoạt động ngân hàng.

Tài liệu tham khảo:

1. Altman, E. I., Hotchkiss, E. (1993). Corporate financial distress and bankruptcy. New York: John Wiley & Sons.

2. Andre Maulana., Mayrinda., Mona Fitriyani., Deni., and Yoga Adiyanto (2024). Risk Management as a Determinant of Indonesian Banking Financial Performance: A Systematic Literature Approach. Indo-Fintech Intellectuals: Journal of Economics and Business, 4(5), 2523-2537.

3. Chen, C. J., Chen, S., Su, X. (2001). Profitability regulation, earnings management, and modified audit opinions: Evidence from China. Auditing: A Journal of Practice & Theory, 20(2), 9-30.

4. Doumpos, M., Zopounidis, C. (1999). A multicriteria discrimination method for the prediction of financial distress: The case of Greece. Multinational Finance Journal, 3(2), 71-101.

5. Hendel, I. (1996). Competition under financial distress. The Journal of Industrial Economics, 44(3), 309-324.

6. Koenker, R. and Bassett, G. (1978). Regression Quantiles. Econometrica, 46, 33-50.

7. Markowitz, H. (1952). Portfolio Selection. The Journal of Finance, 7, 77-91.

8. Maynard Keynes (1930). Economic Possibilities for our Grandchildren. The MIT Press Cambridge.

9. Mwangi, R. W. (2014). The Effect of Capital Expenditure on Financial Performance of Firms Listed at the Nairobi Securities Exchange. Master’s Thesis, University Of Nairobi.

10. Nguyễn Đăng Khoa, Phạm Minh Phương và Lê Quốc Tuấn (2023). Nghiên cứu tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng, số 15 (08/2023).

11. Nguyễn Ngọc Sơn, Bùi Thị Ngọc (2024). Đánh giá tác động của rủi ro tín dụng tới khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nxb Học viện Tài chính.

12. Ranjbar, S., Amanollahi, G. (2018). The effect of financial distress on earnings management and unpredicted net earnings in companies listed on Tehran Stock Exchange. Management Science Letters, 8(9), 933-938.

Ngày nhận bài: 8/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 22/5/2026; Ngày duyệt đăng: 26/5/2026

Các tin khác

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Tại Việt Nam, thương mại điện tử tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho kinh tế số, nhưng hành vi tiêu dùng số vẫn phân hóa theo ngành và khu vực; ở các tỉnh như Tiền Giang, người dân vẫn ưu tiên mua bán truyền thống, ít chủ động tự mua dịch vụ viễn thông trên nền tảng trực tuyến.
Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế đến rủi ro của VN-Index. Kết quả cho thấy việc bỏ qua các yếu tố quốc tế có thể dẫn đến đánh giá chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, từ đó nghiên cứu đề xuất hàm ý góp phần ổn định và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ sở lý luận về chính sách liên thông dữ liệu, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của Estonia và Hàn Quốc trong xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ và quản trị dữ liệu công. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái dữ liệu công hiệu quả tại Việt Nam.
Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Kết quả phát triển kinh tế tuần hoàn không chỉ phụ thuộc vào năng lực kỹ thuật của hộ sản xuất và doanh nghiệp mà còn chịu tác động trực tiếp từ chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch, thể chế, đầu tư, tiêu chuẩn, thanh tra, khuyến nông, tín dụng và phối hợp liên ngành.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Số hóa giúp ngân hàng mở rộng tiếp cận khách hàng, tăng tốc độ giao dịch, giảm chi phí và tái cấu trúc dịch vụ tài chính.
Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Nghiên cứu phân tích tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế và vai trò điều tiết của chất lượng thể chế tại các thành phố Việt Nam giai đoạn 2012-2024. Kết quả cho thấy phân cấp chi có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời chất lượng thể chế cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2020-2025 với 100 quan sát bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM). Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và biến động, khả năng duy trì lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính được sử dụng như những công cụ quan trọng, giúp phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau về sức khỏe tài chính, khả năng quản lý nguồn lực và kết quả kinh doanh.
Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Tổng hợp các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số cho thấy các khoảng trống: Các nhóm nguồn lực công nghệ, tổ chức và cá nhân phần lớn được nghiên cứu độc lập; nguồn lực tổ chức số chưa được tích hợp thành khái niệm bậc cao; vai trò trung gian của vốn tâm lý giữa cả 2 nhóm nguồn lực và sự gắn kết với công việc của nhân viên chưa được kiểm định đồng thời; và bằng chứng tại doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh, còn thiếu vắng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên Việt Nam

Khởi nghiệp xã hội đã và đang trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.