Phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế cộng đồng vùng đệm Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát
TS. Nguyễn Đình Đáp
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Email: [email protected]
Lê Công Hiệu, Tô Quang
Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát
Đỗ Thị Thanh Lương
Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Đại học Công nghiệp Hà Nội
Tóm tắt
Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát (Tây Ninh) có lợi thế phát triển du lịch sinh thái dựa trên sự kết hợp giữa hệ sinh thái rừng, đất ngập nước theo mùa, đa dạng sinh học, cảnh quan sông Vàm Cỏ Đông, di tích lịch sử cách mạng và văn hóa cộng đồng vùng biên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại đây đã hình thành một số tuyến, điểm và cơ sở phục vụ du lịch, song sản phẩm còn thiếu tính chuyên biệt; hạ tầng và nhân lực chưa đồng bộ; liên kết thị trường còn yếu; sự tham gia và lợi ích của cộng đồng chưa được thể chế hóa rõ ràng. Việc mở rộng hoạt động du lịch cũng tiềm ẩn nguy cơ gây áp lực lên các sinh cảnh nhạy cảm nếu không được kiểm soát theo sức chịu tải sinh thái. Từ đó, bài viết đề xuất tổ chức hoạt động du lịch theo phân khu; phát triển sản phẩm đặc thù, có giá trị gia tăng cao; xây dựng chuỗi giá trị gắn với cộng đồng vùng đệm; hình thành cơ chế tài chính tái đầu tư nguồn thu du lịch cho bảo tồn.
Từ khoá: Du lịch sinh thái, đa dạng sinh học, sinh kế vùng đệm
Abstract
Lo Go Xa Mat National Park in Tay Ninh has potential for ecotourism development, based on the combination of forest ecosystems, seasonal wetlands, biodiversity, the Vam Co Dong River landscape, revolutionary historical sites, and the culture of border communities. The findings show that several tourism routes, destinations, and service facilities have been established in the national park; however, tourism products remain insufficiently distinctive, infrastructure and human resources are not yet well coordinated, market linkages remain weak, and community participation and benefit sharing have not been clearly institutionalized. The expansion of tourism activities may also place pressure on sensitive habitats if not managed in accordance with ecological carrying capacity. Accordingly, this article proposes organizing tourism activities by functional zones, developing distinctive products with higher added value, establishing value chains linked to buffer zone communities, and creating financial mechanisms to reinvest tourism revenue in conservation.
Keywords: Ecotourism, biodiversity, buffer zone livelihoods
GIỚI THIỆU
Vườn quốc gia (VQG) Lò Gò - Xa Mát nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; phía Bắc và phía Tây tiếp giáp Campuchia, đồng thời gắn với thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông. Theo địa giới hành chính từ ngày 1/7/2025, VQG nằm trên địa bàn 4 xã: Tân Lập, Tân Biên, Thạnh Bình và Phước Vinh. Vị trí địa lý đặc thù tạo nên sự giao thoa giữa nhiều kiểu cảnh quan, hệ sinh thái, sinh cảnh tự nhiên và không gian văn hóa - lịch sử vùng biên, qua đó hình thành tiềm năng đáng kể cho phát triển du lịch sinh thái.
Bên cạnh giá trị về tự nhiên, Lò Gò - Xa Mát còn có lợi thế về lịch sử, văn hóa và không gian biên giới. Việc được công nhận là Vườn Di sản ASEAN năm 2019 tiếp tục khẳng định giá trị bảo tồn của VQG ở cấp khu vực và quốc tế, đồng thời tạo điều kiện xây dựng hình ảnh điểm đến gắn với thiên nhiên, trách nhiệm môi trường và phát triển bền vững (UBND tỉnh Tây Ninh, 2021).
Tuy nhiên, việc phát triển du lịch sinh thái tại Lò Gò – Xa Mát vẫn còn một số hạn chế. Sản phẩm du lịch chưa đa dạng và thiếu tính liên kết; thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách còn thấp; khả năng thu hút doanh nghiệp và huy động nguồn lực xã hội chưa tương xứng với tiềm năng. Cộng đồng vùng đệm cũng chưa tham gia sâu vào quá trình thiết kế, cung cấp và giám sát các sản phẩm du lịch (UBND tỉnh Tây Ninh, 2021). Vì vậy, phát triển du lịch sinh thái tại VQG Lò Gò – Xa Mát cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa giữa khai thác tiềm năng du lịch, bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế cho cộng đồng vùng đệm.
GIÁ TRỊ TỰ NHIÊN VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA LÒ GÒ - XA MÁT
VQG Lò Gò - Xa Mát có diện tích tự nhiên 29.997,87 ha, trong đó diện tích rừng đạt 27.908,99 ha, chiếm khoảng 93% tổng diện tích (Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2025). Vườn có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái rừng và đất ngập nước, đồng thời góp phần bảo vệ khu vực biên giới và tạo cơ sở cho các hoạt động bảo tồn thiên nhiên xuyên biên giới Việt Nam - Campuchia.
Kết quả điều tra năm 2025 ghi nhận tại VQG có 834 loài thực vật, 42 loài thú, 203 loài chim, 89 loài cá và 59 loài bò sát (Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2025). Nhiều loài có giá trị bảo tồn cao như vên vên, dầu con rái, dầu mít, cu li nhỏ, khỉ đuôi lợn, chà vá chân đen và gà lôi hông tía. Các sinh cảnh rừng và đất ngập nước còn là nơi cư trú hoặc dừng chân của nhiều loài chim quý hiếm như già đẫy Java, cò nhạn, hạc cổ trắng và sếu đầu đỏ. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển các sản phẩm quan sát chim, nhiếp ảnh thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và tham quan chuyên đề.
Đất ngập nước là một hợp phần có giá trị đặc biệt trong không gian sinh thái của VQG, với tổng diện tích khoảng 2.118,19 ha, bao gồm sông, suối có nước thường xuyên; vùng cây bụi hoặc cây gỗ ngập nước theo mùa; đất canh tác nông nghiệp, hồ chứa và hệ thống kênh, mương (Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2023). Sự đa dạng của các sinh cảnh này mở ra tiềm năng phát triển các hoạt động quan sát cảnh quan, tìm hiểu hệ sinh thái, quan sát chim và trải nghiệm thiên nhiên theo mùa. Tuy nhiên, đây cũng là những sinh cảnh nhạy cảm, đòi hỏi hoạt động du lịch phải được kiểm soát theo mùa, quy mô đoàn và sức chịu tải sinh thái.
Ngoài tài nguyên tự nhiên, hệ thống di tích lịch sử cách mạng, văn hóa cộng đồng Khmer, cảnh quan sông Vàm Cỏ Đông và không gian vùng biên là những yếu tố bổ trợ quan trọng cho phát triển du lịch. Vì vậy, lợi thế của Lò Gò - Xa Mát không chỉ nằm ở từng loại tài nguyên riêng lẻ mà ở khả năng kết hợp rừng, đất ngập nước, động vật hoang dã, cảnh quan sông nước, lịch sử và văn hóa cộng đồng thành các sản phẩm du lịch sinh thái đặc thù, gắn với bảo tồn và sinh kế vùng đệm.
Hình 1: Sơ đồ vị trí VQG Lò Gò - Xa Mát
![]() |
Nguồn: Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2025
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐỆM
Sản phẩm, tuyến và cơ sở phục vụ du lịch
Hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Lò Gò - Xa Mát được tổ chức rõ nét hơn từ khi Trung tâm Giáo dục và Dịch vụ môi trường rừng được thành lập năm 2012. Các sản phẩm bước đầu được hình thành trên cơ sở khai thác tổng hợp giá trị rừng, đất ngập nước, động vật hoang dã, cảnh quan sông nước, lịch sử cách mạng và văn hóa vùng đệm. Có thể phân thành 4 nhóm chính:
Du lịch khám phá hệ sinh thái rừng và đất ngập nước: gồm đi bộ, đạp xe xuyên rừng, tham quan rừng cây họ Dầu, rừng tràm, trảng cỏ và các vùng ngập nước theo mùa. Trảng Tà Nốt, trảng Tân Thanh, Bàu Đưng và các khu vực sinh cảnh chuyển tiếp có tiềm năng phát triển hoạt động quan sát cảnh quan, quan sát chim, nhiếp ảnh thiên nhiên và tìm hiểu đa dạng sinh học.
Du lịch đường sông và trải nghiệm vùng biên: tập trung trên tuyến sông Vàm Cỏ Đông, kết nối bến Lò Gò, vàm suối Đa Ha, rặng gừa cổ thụ, cảnh quan ven sông và một số cột mốc biên giới. Sản phẩm có tính khác biệt nhưng cần tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu về an toàn đường thủy, quốc phòng, an ninh và quản lý khu vực biên giới.
Du lịch lịch sử, giáo dục môi trường và nghiên cứu khoa học: khai thác hệ thống di tích cách mạng, nổi bật là Di tích quốc gia đặc biệt Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, kết hợp các chương trình giáo dục như “Em là kiểm lâm viên”, “Học sinh về nguồn, đến với rừng xanh”, tham quan tiêu bản và trải nghiệm bảo vệ rừng. Giai đoạn 2013-2020, khoảng 10.000 lượt học sinh tham gia các chương trình tham quan, học tập tại VQG; các hoạt động truyền thông, tập huấn và giáo dục môi trường tại vùng đệm thu hút trên 30.000 lượt học sinh (Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2023).
Du lịch cộng đồng và trải nghiệm văn hóa địa phương: gồm cắm trại, lưu trú qua đêm tại khu vực phù hợp, trải nghiệm ẩm thực, tham quan mô hình nông nghiệp, tìm hiểu văn hóa Khmer và sử dụng sản phẩm địa phương. Nhóm sản phẩm này có khả năng kéo dài thời gian lưu trú, đồng thời tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân vùng đệm.
Bảng: Các nhóm sản phẩm du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát
| Nhóm sản phẩm | Hoạt động chủ yếu | Giá trị khai thác | Khả năng tham gia của cộng đồng |
|---|---|---|---|
| Khám phá rừng và đất ngập nước | Đi bộ, đạp xe, tham quan trảng ngập nước, quan sát chim | Đa dạng sinh học, cảnh quan, giáo dục môi trường | Dẫn đường, vận chuyển, cung cấp hậu cần |
| Đường sông và vùng biên | Tham quan sông Vàm Cỏ Đông, cột mốc và cảnh quan ven sông | Cảnh quan sông nước, đặc trưng vùng biên | Vận chuyển, ăn uống, cung cấp sản phẩm địa phương |
| Lịch sử, giáo dục và nghiên cứu | Tham quan di tích, học tập, khảo sát sinh học | Giá trị lịch sử, khoa học và giáo dục | Thuyết minh, hỗ trợ nghiên cứu và tổ chức sự kiện |
| Cộng đồng và trải nghiệm | Cắm trại, lưu trú, ẩm thực, văn hóa, nông nghiệp | Sinh kế và bản sắc địa phương | Trực tiếp cung cấp và vận hành dịch vụ |
Nguồn: Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2023
Về cơ sở phục vụ du lịch, VQG đã đầu tư Trung tâm du lịch sinh thái Đa Ha, nhà ăn, bungalow dưới tán rừng, trạm dừng chân, trạm quan sát, bến thuyền và một số tuyến đường tham quan; đồng thời trang bị ghe máy, xe đạp địa hình, lều, bạt, ống nhòm, máy ảnh và hệ thống tiêu bản động, thực vật. Tổng vốn đầu tư cho các công trình du lịch đến năm 2022 đạt khoảng 23,27 tỷ đồng (Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2023). Tuy nhiên, một số cơ sở lưu trú đã xuống cấp; hệ thống cấp, thoát nước, thông tin liên lạc và dịch vụ bổ trợ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển du lịch.
Kết quả phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia
Giai đoạn 2012-2020, VQG đón bình quân khoảng 4.400 lượt khách/năm. Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, lượng khách giảm còn 3.066 lượt, trong đó khách quốc tế chiếm khoảng 0,6%. Đến tháng 11/2022, lượng khách phục hồi lên khoảng 7.000 lượt, doanh thu đạt 1,1 tỷ đồng; tuy nhiên, mức chi tiêu bình quân mới đạt khoảng 154.000 đồng/người/ngày (Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2023) .
Đề án giai đoạn 2023-2030 đặt mục tiêu đến năm 2025 đạt 18.000 lượt khách, doanh thu khoảng 5,4 tỷ đồng và mức chi tiêu trên 300.000 đồng/người/ngày; đến năm 2030 đạt 40.000 lượt khách, doanh thu khoảng 52 tỷ đồng và mức chi tiêu trên 1,3 triệu đồng/người/ngày. Đây là các chỉ tiêu định hướng, cho thấy yêu cầu trọng tâm không chỉ là gia tăng số lượng khách mà còn phải nâng cao chất lượng sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu.
Tổng nhu cầu vốn cho các chương trình, dự án ưu tiên giai đoạn 2023-2030 khoảng 229,6 tỷ đồng, trong đó vốn xã hội hóa và vốn doanh nghiệp chiếm gần 84% (Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát, 2023). Tuy nhiên, tại thời điểm xây dựng Đề án, hoạt động du lịch vẫn chủ yếu do Ban quản lý VQG tổ chức; các hình thức liên doanh, liên kết và cho thuê môi trường rừng chưa được triển khai đáng kể.
Sự tham gia của cộng đồng vùng đệm
Thứ nhất, cung cấp lao động và dịch vụ như dẫn đường, vận chuyển, ăn uống, lưu trú, biểu diễn văn nghệ, vệ sinh môi trường và hỗ trợ tổ chức sự kiện. Một số hộ nhận khoán bảo vệ rừng đã tham gia hướng dẫn thực địa, song quy mô còn nhỏ và chưa thường xuyên.
Thứ hai, cung cấp nông sản, dược liệu, mật ong, thực phẩm, sản phẩm thủ công và các món ăn đặc trưng, qua đó tạo khả năng kết nối du lịch với kinh tế hộ và sản phẩm địa phương. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm chưa được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu hoặc tổ chức thành chuỗi cung ứng ổn định.
Thứ ba, tham gia bảo vệ tài nguyên thông qua nhận khoán bảo vệ rừng, tuần tra, phòng cháy, chữa cháy, truyền thông môi trường và giám sát các hành vi xâm hại tài nguyên. Vai trò này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh sinh kế của một bộ phận dân cư vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp và tài nguyên tự nhiên.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐỆM
Sản phẩm du lịch chưa tạo được sự khác biệt rõ nét
Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên đa dạng, các tuyến, điểm du lịch còn phân tán; hoạt động chủ yếu vẫn là tham quan, đi bộ, đạp xe và dã ngoại trong ngày. Những sản phẩm có lợi thế riêng như quan sát chim, khám phá đất ngập nước, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và trải nghiệm vùng biên chưa được phát triển thành các sản phẩm chuyên biệt với lịch trình, tiêu chuẩn dịch vụ và thị trường khách rõ ràng. Điều này hạn chế thời gian lưu trú, mức chi tiêu và khả năng quay trở lại của du khách.
Hạ tầng và năng lực phục vụ còn hạn chế
Cơ sở hạ tầng giữa các tuyến, điểm chưa đồng bộ; một số cơ sở lưu trú đã xuống cấp; dịch vụ ăn uống, vui chơi, mua sắm, lưu niệm và trải nghiệm ban đêm còn thiếu. Hệ thống cấp, thoát nước và thông tin liên lạc chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Trong khi đó, nhân lực du lịch còn mỏng, nhất là về kiến thức bảo tồn, diễn giải thiên nhiên, ngoại ngữ, sơ cứu, an toàn và tiếp thị số.
Liên kết thị trường còn yếu
Lò Gò - Xa Mát chưa trở thành một mắt xích rõ nét trong chuỗi điểm đến của Tây Ninh và vùng Đông Nam Bộ. Hợp tác với doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, trường học, viện nghiên cứu và các điểm du lịch trong tỉnh còn hạn chế. Danh hiệu Vườn Di sản ASEAN chưa được khai thác hiệu quả để nâng cao nhận diện điểm đến; các tour liên kết với Núi Bà Đen, Tòa thánh Tây Ninh và hệ thống di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh còn ít.
Lợi ích của cộng đồng chưa được thể chế hóa đầy đủ
Cộng đồng vùng đệm chưa tham gia sâu vào quá trình thiết kế sản phẩm, cung cấp dịch vụ, giám sát tác động và phân chia lợi ích. Cơ chế ưu tiên sử dụng lao động địa phương, tiêu thụ sản phẩm bản địa và hỗ trợ các hộ tham gia du lịch cộng đồng chưa rõ ràng. Nếu lợi ích kinh tế không được chia sẻ hợp lý, du lịch khó tạo động lực lâu dài để người dân chuyển đổi sinh kế và tích cực bảo vệ tài nguyên.
Nguy cơ xung đột giữa phát triển du lịch và bảo tồn
Rừng, đất ngập nước, động vật hoang dã và cảnh quan tự nhiên vừa là tài nguyên du lịch, vừa là các đối tượng nhạy cảm trước tác động của con người. Gia tăng lượng khách có thể gây áp lực lên sức chịu tải, làm phát sinh chất thải, tiếng ồn, nguy cơ cháy rừng và xáo trộn sinh cảnh. Bên cạnh đó, hệ sinh thái còn chịu tác động từ sản xuất nông nghiệp vùng đệm, khai thác lâm sản, săn bắt động vật hoang dã và các hoạt động tại khu vực biên giới.
Vì vậy, hiệu quả phát triển du lịch sinh thái không nên chỉ được đo bằng số lượng khách mà cần đánh giá đồng thời qua doanh thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, việc làm và thu nhập của cộng đồng, tỷ lệ nguồn thu tái đầu tư cho bảo tồn, mức độ hài lòng của du khách và trạng thái hệ sinh thái. Đây là cơ sở để bảo đảm du lịch phát triển trong giới hạn sinh thái và đóng góp thực chất cho bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Lò Gò - Xa Mát.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Tổ chức hoạt động du lịch theo phân khu và sức chịu tải sinh thái
Cần tổ chức không gian du lịch phù hợp với các phân khu chức năng của VQG. Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chỉ nên triển khai hoạt động nghiên cứu, giáo dục và tham quan chuyên đề quy mô nhỏ, có hướng dẫn và giám sát chặt chẽ; phân khu phục hồi sinh thái có thể tổ chức một số tuyến trải nghiệm thiên nhiên nhưng phải căn cứ vào trạng thái phục hồi của rừng và mức độ nhạy cảm của từng sinh cảnh.
Hình 2: Sơ đồ tổng thể du lịch sinh thái Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát
|
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Trên cơ sở phân vùng, cần xác định sức chịu tải cho từng tuyến, điểm và từng mùa du lịch, đồng thời xem xét khả năng chịu tác động của hệ sinh thái, mức độ nhạy cảm của loài, nguy cơ cháy rừng, năng lực thu gom chất thải và cứu hộ. Các tuyến quan sát chim, tham quan trảng ngập nước, đi bộ xuyên rừng và trải nghiệm qua đêm cần quy định số khách tối đa, thời gian lưu lại và khoảng cách tiếp cận sinh cảnh.
Đối với các tuyến nhạy cảm, có thể áp dụng đặt chỗ trước, phân khung giờ và bắt buộc có hướng dẫn viên; hoạt động tham quan cần điều chỉnh theo mùa sinh sản, mùa chim di cư, chế độ ngập nước và cấp dự báo cháy rừng. Khi dữ liệu giám sát cho thấy sinh cảnh suy giảm hoặc áp lực môi trường vượt khả năng kiểm soát, cần giảm quy mô, điều chỉnh hoặc tạm dừng tuyến tham quan.
Phát triển sản phẩm đặc thù, có giá trị gia tăng cao
Cần tập trung phát triển các nhóm sản phẩm có lợi thế riêng, gồm: du lịch rừng và đất ngập nước; quan sát chim, nhiếp ảnh và nghiên cứu thiên nhiên; du lịch lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống; du lịch cộng đồng, nông nghiệp và trải nghiệm vùng biên.
Mỗi sản phẩm cần được thiết kế theo chủ đề rõ ràng, có tiêu chuẩn dịch vụ và phù hợp với đặc điểm sinh thái của từng khu vực. Các hoạt động quan sát chim và nghiên cứu thiên nhiên nên tổ chức theo nhóm nhỏ, có hướng dẫn viên chuyên môn và tuân thủ quy tắc hạn chế tác động đến sinh cảnh. Du lịch lịch sử cần kết nối giá trị tự nhiên với Căn cứ Trung ương Cục miền Nam và các địa điểm lịch sử trong khu vực; trong khi du lịch cộng đồng, nông nghiệp và trải nghiệm vùng biên cần gắn với ẩm thực, văn hóa Khmer, sản phẩm địa phương và cảnh quan sông Vàm Cỏ Đông.
Phát triển sản phẩm cần hướng tới nâng cao chất lượng trải nghiệm, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu, thay vì chỉ mở rộng số lượng khách. Các tuyến nên được thiết kế thành gói dịch vụ tương đối hoàn chỉnh, kết nối vận chuyển, hướng dẫn, ăn uống, trải nghiệm và sản phẩm địa phương.
Xây dựng chuỗi giá trị du lịch gắn với cộng đồng vùng đệm
Cộng đồng vùng đệm cần được chuyển từ vai trò hỗ trợ sang tham gia trực tiếp vào cung cấp sản phẩm và dịch vụ du lịch. Trước hết, cần khảo sát khả năng tham gia của từng nhóm hộ, lựa chọn một số điểm có điều kiện thuận lợi để xây dựng mô hình thí điểm trước khi nhân rộng.
Người dân cần được đào tạo về hướng dẫn bản địa, đón tiếp khách, vệ sinh thực phẩm, lưu trú, sơ cứu, bảo vệ môi trường và giới thiệu văn hóa địa phương; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn tối thiểu đối với các dịch vụ cung cấp cho du khách. Các sản phẩm OCOP, nông sản, dược liệu, mật ong, thực phẩm chế biến và sản phẩm thủ công có thể được kết nối với hệ thống giới thiệu, bán hàng tại VQG.
Các dự án liên doanh, liên kết hoặc thuê môi trường rừng cần có cam kết về sử dụng lao động địa phương, đào tạo nghề, mua sản phẩm tại chỗ và hỗ trợ cộng đồng. Quan hệ giữa doanh nghiệp, Ban quản lý và người dân cần được quy định rõ bằng hợp đồng hoặc quy chế hợp tác, bảo đảm minh bạch về trách nhiệm và chia sẻ lợi ích.
Tạo cơ chế tài chính cho bảo tồn từ hoạt động du lịch
Trong bối cảnh vốn xã hội hóa chiếm gần 84% tổng nhu cầu vốn của Đề án giai đoạn 2023-2030, việc lựa chọn nhà đầu tư cần dựa trên năng lực tài chính, kinh nghiệm du lịch sinh thái, phương án môi trường và cam kết đóng góp cho cộng đồng.
Đối với doanh nghiệp tham gia đầu tư, nghĩa vụ bảo tồn cần được thể hiện cụ thể trong hồ sơ lựa chọn, dự án đầu tư và hợp đồng thực hiện. Ngoài tiền thuê hoặc chia sẻ doanh thu, doanh nghiệp có thể đóng góp thông qua tài trợ thiết bị giám sát, phục hồi sinh cảnh, đào tạo cộng đồng và giảm chất thải.
Nguồn thu từ du lịch cũng cần được kết hợp với chi trả dịch vụ môi trường rừng, tài trợ của các tổ chức bảo tồn, nguồn lực cho các chương trình khí hậu và phát triển carbon rừng khi đáp ứng đầy đủ điều kiện kỹ thuật, pháp lý. Việc đa dạng hóa nguồn tài chính cần tuân thủ nguyên tắc không làm suy giảm giá trị tự nhiên - nền tảng của hoạt động du lịch sinh thái.
Nâng cao năng lực quản trị, chuyển đổi số và liên kết thị trường
Ban quản lý cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về tài nguyên, tuyến điểm, lượng khách, doanh thu, sức chịu tải và trạng thái sinh cảnh; từng bước áp dụng vé điện tử, đặt chỗ trực tuyến, mã QR, bản đồ số và hệ thống phản hồi của du khách. Dữ liệu về lượng khách, thời gian lưu lại, chất thải và tác động đến sinh cảnh cần được cập nhật thường xuyên để hỗ trợ quản lý.
Đồng thời, cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp lữ hành, trường học, viện nghiên cứu và các tổ chức chuyên về quan sát chim, nhiếp ảnh, giáo dục môi trường; kết nối Lò Gò - Xa Mát với Núi Bà Đen, Tòa thánh Tây Ninh, hệ thống di tích lịch sử và các tuyến du lịch vùng Đông Nam Bộ. Hợp tác du lịch sinh thái xuyên biên giới Việt Nam - Campuchia có thể được nghiên cứu khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về đối ngoại, quốc phòng, an ninh và quản lý biên giới.
KẾT LUẬN
VQG Lò Gò - Xa Mát có nhiều lợi thế để phát triển du lịch sinh thái nhờ sự kết hợp giữa hệ sinh thái rừng, đất ngập nước theo mùa, đa dạng sinh học, cảnh quan sông Vàm Cỏ Đông, hệ thống di tích lịch sử cách mạng và văn hóa cộng đồng vùng biên. Vị trí chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long cùng danh hiệu Vườn Di sản ASEAN tạo nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị bảo tồn và khả năng nhận diện điểm đến. Tuy nhiên, tiềm năng này chỉ có thể được chuyển hóa thành giá trị kinh tế - xã hội khi các sản phẩm du lịch được tổ chức theo hướng chuyên biệt, có chất lượng và phù hợp với sức chịu tải sinh thái. Các loại hình du lịch rừng, đất ngập nước, quan sát chim, nghiên cứu thiên nhiên, lịch sử, giáo dục truyền thống, trải nghiệm đường sông và du lịch cộng đồng cần được kết nối thành chuỗi sản phẩm tương đối hoàn chỉnh, đồng thời bảo đảm sự tham gia và chia sẻ lợi ích của cộng đồng vùng đệm.
Về lâu dài, du lịch sinh thái cần được xem là một bộ phận của quản lý hệ sinh thái, gắn với bảo vệ rừng, phục hồi sinh cảnh và bảo tồn đa dạng sinh học. Khi lợi ích từ du lịch được phân bổ hợp lý cho cộng đồng và tái đầu tư cho bảo tồn, VQG Lò Gò - Xa Mát mới có thể vừa duy trì sức hấp dẫn của điểm đến, vừa cải thiện sinh kế vùng đệm và phát huy bền vững giá trị của Vườn Di sản ASEAN.
(*) Bài viết là sản phẩm của nhiệm vụ bảo vệ môi trường “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương của các vùng đất ngập nước nội địa quan trọng vùng Đông Nam Bộ”, (mã số KHXH/DA/2025-02), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam quản lý, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững thực hiện.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát (2023). Đề án Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí và Dự án đầu tư phát triển vùng đệm VQG Lò Gò - Xa Mát giai đoạn 2023-2030, Tây Ninh.
2. Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát (2025). Báo cáo chuyên đề hiện trạng tài nguyên rừng và đất ngập nước VQG Lò Gò - Xa Mát, tỉnh Tây Ninh, Tây Ninh.
3. UBND tỉnh Tây Ninh (2021). Quyết định số 3923/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 phê duyệt Phương án quản lý rừng bền vững của Ban quản lý VQG Lò Gò - Xa Mát giai đoạn 2021-2030.
4. UBND tỉnh Tây Ninh (2023). Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 13/4/2023 phê duyệt Đề án Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí và Dự án đầu tư phát triển vùng đệm VQG Lò Gò - Xa Mát giai đoạn 2023-2030.
| Ngày nhận bài: 3/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 13/10/2026 |
Các tin khác
Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách
Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp
Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng
Ứng dụng Random Forest phân tích tác động trễ của giá năng lượng đến giá carbon tại Hệ thống thương mại phát thải châu Âu và hàm ý cho Việt Nam
Nghiên cứu ý định mua xe máy điện tại TP. Hồ Chí Minh dưới góc độ tiêu dùng xanh
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đồng Nai

