Phát triển các vùng động lực và cực tăng trưởng hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030: Cơ sở lý luận, thực trạng và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 09:35 | 21/10/2026
Bài viết luận giải thực tiễn giai đoạn 2021-2025, phân tích các cơ hội và rào cản, từ đó đề xuất hệ thống hàm ý chính sách đột phá để các vùng động lực thực sự trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030.

Nguyễn Tiến Hiệp

Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính

Email: [email protected]

Tóm tắt

Phát triển các vùng động lực và cực tăng trưởng đóng vai trò then chốt trong việc huy động, phân bổ và tối ưu hóa hiệu quả các nguồn lực quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới và đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bứt phá hai con số từ 10% trở lên giai đoạn 2026-2030 theo Nghị quyết số 192/2025/QH15, Nghị quyết số 252/2025/QH15 của Quốc hội và đặc biệt là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia, việc phát huy vai trò đầu tàu và lan tỏa của các vùng động lực là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế không gian, phân tích các kênh truyền dẫn tác động từ cực tăng trưởng và vùng động lực đến tăng trưởng kinh tế vĩ mô. Trên cơ sở đánh giá thực trạng giai đoạn 2021-2025 và cập nhật khung định hướng tổ chức không gian đa tầng, đa cực gắn với cải cách bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp tỉnh và xã, nghiên cứu nhận diện các cơ hội, thách thức và khoảng trống thể chế liên vùng. Từ đó, đề xuất hàm ý chính sách đột phá nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực bứt phá để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững giai đoạn 2026-2030.

Từ khóa: Vùng động lực, cực tăng trưởng, tăng trưởng hai con số, địa lý kinh tế mới, thể chế liên vùng, chính quyền 2 cấp, Nghị quyết số 27-NQ/TW

Abstract

The development of growth-driving regions and growth poles plays a pivotal role in mobilizing, allocating, and optimizing the efficiency of national resources. As Viet Nam enters a new era of development and sets a target of achieving breakthrough annual GDP growth of at least 10% during 2026-2030 under National Assembly Resolutions No. 192/2025/QH15 and No. 252/2025/QH15, and particularly Politburo Resolution No. 27-NQ/TW dated 28 August 2026 on regional development and the organization of national development space, strengthening the leading and spillover roles of growth-driving regions has become an urgent priority. This study systematizes the theoretical foundations of spatial economics and analyzes the transmission channels through which growth poles and growth-driving regions affect macroeconomic growth. Based on an assessment of the 2021-2025 period and an updated framework for organizing development space in a multi-tiered, multi-polar structure in conjunction with the reform of the two-tier local government system at the provincial and commune levels, the study identifies opportunities, challenges, and institutional gaps in interregional coordination. It then proposes breakthrough policy implications to remove bottlenecks and generate new momentum for realizing the goal of sustainable double-digit economic growth during 2026-2030.

Keywords: Growth-driving regions, growth poles, double-digit growth, new economic geography, interregional institutions, two-tier local government, Resolution No. 27-NQ/TW

GIỚI THIỆU

Để thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và chuẩn bị các cơ sở tiền đề vững chắc bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 192/2025/QH15 và Nghị quyết số 252/2025/QH15 với mục tiêu đưa tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt mức hai con số từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bứt phá này trong điều kiện nguồn lực quốc gia có hạn, việc chuyển đổi mô hình phân bổ nguồn vốn từ diện rộng sang định hướng tập trung vào các khu vực động lực là yêu cầu mang tính tất yếu khách quan.

Quy hoạch tổng thể quốc gia điều chỉnh cùng các định hướng phát triển các vùng đã tái cấu trúc không gian kinh tế lãnh thổ sang mô hình không gian đa tầng, đa cực, kết nối chặt chẽ giữa đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm và không gian số. Trọng tâm của cấu trúc này là hệ thống các vùng động lực quốc gia gắn liền với các cực tăng trưởng như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Cần Thơ, đồng thời mở rộng không gian liên kết sang các hành lang kinh tế mới. Ngày 28/8/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, chính thức thay thế toàn bộ 6 nghị quyết vùng của khóa XIII, tiếp tục khẳng định phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, chuyển đổi căn bản từ tư duy dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông mọi nguồn lực xã hội.

Mặc dù các lý thuyết về phân cực không gian của Perroux (1955) và Krugman (1991) đã định hình nền tảng phân tích kinh tế vùng, song việc làm rõ cơ chế lan tỏa của cực tăng trưởng trước yêu cầu tái cấu trúc không gian theo mô hình chính quyền 2 cấp và mục tiêu của Nghị quyết số 27-NQ/TW vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống đó, bài viết đi sâu luận giải thực tiễn giai đoạn 2021-2025, phân tích các cơ hội cùng các rào cản, từ đó đề xuất hệ thống hàm ý chính sách đột phá về thể chế liên vùng, tài khóa, hạ tầng và nhân lực để các vùng động lực thực sự trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN KHÔNG GIAN

Lý thuyết cực tăng trưởng được khởi xướng bởi nhà kinh tế học Perroux từ những năm 1950 đã chỉ ra rằng, tăng trưởng kinh tế không xuất hiện đồng đều trên khắp không gian lãnh thổ mà tập trung tại các điểm cực thông qua các ngành công nghiệp đầu tàu có hệ số nhân tác động vượt trội. Boudeville (1961) sau đó đã cụ thể hóa luận điểm này bằng việc gắn cực tăng trưởng với tọa độ địa lý tại các trung tâm đô thị, nơi tích tụ các lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên ngoài. Bước chuyển dịch sang tư duy hiện đại được Krugman (1991) hoàn thiện thông qua Thuyết Địa lý kinh tế mới, giải thích sự phát triển không gian dựa trên sự cân bằng giữa lực hướng tâm thúc đẩy tích tụ kinh tế và lực ly tâm thúc đẩy phân tán địa lý khi chi phí logistics và vận tải biên giảm sâu.

Tác động lan tỏa từ các vùng động lực và cực tăng trưởng đến tăng trưởng vĩ mô được vận hành đồng bộ qua 4 kênh truyền dẫn không gian chủ đạo:

(i) Tích tụ nguồn vốn và kết nối hạ tầng, thông qua đầu tư công chiến lược vào mạng lưới đa phương thức nhằm khắc phục phân mảnh, hạ thấp chi phí logistics biên và kích hoạt dòng vốn tư nhân cùng FDI thế hệ mới;

(ii) Lan tỏa tri thức và vốn nhân lực, dựa trên mô hình liên kết Viện - Trường - Doanh nghiệp để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế tri thức;

(iii) Chuyên môn hóa thông minh và phân công lao động không gian, trong đó cực tăng trưởng đảm nhận các khâu thượng nguồn giá trị cao (nghiên cứu phát triển - R&D, thiết kế, tài chính số), còn các địa phương phụ cận phát triển công nghiệp chế tạo, hình thành chuỗi giá trị nội vùng tự chủ và bền vững;

(iv) Chuyển dịch cơ cấu và gia tăng hiệu ứng tràn năng suất (TFP), nhờ tận dụng ngoại ứng đô thị hóa tích cực để nâng cao hiệu quả quy mô, tạo động lực vượt qua bẫy thu nhập trung bình

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÙNG ĐỘNG LỰC TẠI VIỆT NAM

Tiến trình hình thành và phát triển các vùng động lực kinh tế tại Việt Nam phản ánh sự chuyển biến trong tư duy quy hoạch không gian qua 3 giai đoạn lịch sử chính:

Giai đoạn 1990-2005 đánh dấu sự ra đời của các Vùng kinh tế trọng điểm (Bắc Bộ, miền Trung, phía Nam) nhằm tập trung nguồn vốn mồi đầu tư công vào các trục giao thông huyết mạch và cảng biển, tạo tọa độ ưu tiên thu hút dòng vốn FDI đầu tiên.

Giai đoạn 2006-2017 tiếp tục mở rộng quy mô với sự hình thành thêm Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long và nâng quy mô bao phủ lên 24 tỉnh, thành phố; tuy nhiên, việc mở rộng theo ranh giới hành chính đã làm phân tán nguồn lực đầu tư công và bộc lộ các hạn chế do thiếu cơ chế điều phối vùng.

Giai đoạn từ năm 2018 đến nay đánh dấu bước đột phá phương pháp luận từ Luật Quy hoạch năm 2017, Nghị quyết số 81/2023/QH15 và được điều chỉnh hoàn thiện tại Nghị quyết số 252/2025/QH15 của Quốc hội, chính thức chuyển dịch từ Vùng kinh tế trọng điểm cũ sang hệ thống 5 Vùng động lực quốc gia mở gắn liền với các hành lang kinh tế đa phương thức.

Theo Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia tại Nghị quyết số 252/2025/QH15 của Quốc hội, 5 vùng động lực được gắn kết với các hành lang giao thông quan trọng, hệ thống 5 vùng động lực có liên quan tới 16 tỉnh, thành phố trọng điểm của cả nước:

(i) Vùng động lực phía Bắc: bao gồm Thủ đô Hà Nội (cực tăng trưởng hạt nhân) và các địa bàn gắn với đường Vành đai 4, Vành đai 5 vùng Thủ đô, trục Quốc lộ 5, Quốc lộ 18, các cao tốc CT01, CT04, CT05, CT07, CT09 qua TP. Hải Phòng và các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Ninh.

(ii) Vùng động lực phía Nam: bao gồm các địa bàn dọc theo trục Quốc lộ 22, Quốc lộ 13, Quốc lộ 1, Quốc lộ 51, cao tốc Bắc Nam phía Tây và đường Vành đai 4 qua TP. Hồ Chí Minh (cực tăng trưởng hạt nhân) và các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh.

(iii) Vùng động lực miền Trung: bao gồm khu vực ven biển gắn với hành lang kinh tế Đông - Tây và cao tốc Bắc - Nam phía Đông qua các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng (cực tăng trưởng hạt nhân), Huế, Quảng Ngãi và mở rộng kết nối với tỉnh Gia Lai.

(iv) Vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long: bao gồm TP. Cần Thơ (cực tăng trưởng hạt nhân) và các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp gắn với mạng lưới cao tốc liên vùng (Cần Thơ - Vĩnh Long, An Hữu - Cao Lãnh, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng) và không gian đặc khu Phú Quốc.

(v) Vùng động lực Bắc Trung Bộ: bao gồm dải không gian ven biển dọc cao tốc Bắc - Nam phía Đông và Quốc lộ 1 qua 3 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG ĐỘNG LỰC, CỰC TĂNG TRƯỞNG GIAI ĐOẠN 2021-2025

Trong giai đoạn 2021-2025, hệ thống các vùng động lực kinh tế quốc gia đã khẳng định vị thế trụ cột, giữ vai trò quyết định trong việc định hình quy mô và dẫn dắt tốc độ tăng trưởng vĩ mô khi đóng góp liên tục từ 80,75% GDP năm 2020 lên 81,47% GDP vào năm 2025. Vùng động lực phía Bắc với tốc độ tăng GRDP bình quân đạt 8,1%/năm và Vùng động lực phía Nam với quy mô lớn nhất cả nước tiếp tục là 2 đầu tàu chi phối nền kinh tế, đóng góp lần lượt 30,20% và 32,00% vào GDP quốc gia năm 2025. Cùng với đó, 3 vùng động lực tại Bắc Trung Bộ, miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long duy trì mức đóng góp ổn định từ 6,40% đến 6,47% GDP, tạo lập nền tảng vững chắc về công nghiệp nặng, lọc hóa dầu, kinh tế biển, năng lượng tái tạo và nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn.

Sự phân hóa tăng trưởng nội vùng tại các vùng động lực phản ánh rõ nét tính chuyên môn hóa không gian sản xuất, sự gắn kết chuỗi giá trị và tính bổ trợ chức năng lẫn nhau giữa cực tăng trưởng hạt nhân với các địa phương phụ cận:

Tại vùng động lực phía Bắc: Thủ đô Hà Nội phát huy hiệu quả vai trò trung tâm dịch vụ, R&D và kinh tế tri thức khi đạt mức tăng trưởng GRDP 8,16% năm 2025, đóng góp 12,94% vào GDP cả nước; giữ vị trí điều phối chuỗi cung ứng, cung ứng công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao cho mạng lưới công nghiệp vệ tinh phụ cận gồm Quảng Ninh (tăng trưởng dẫn đầu 11,89%), Hải Phòng (tăng 11,81% nhờ công nghiệp chế biến chế tạo và cụm cảng nước sâu), Ninh Bình (tăng 10,65%), Phú Thọ (tăng 10,52%) và Bắc Ninh (tăng 10,27% nhờ đà tăng trên 20% của ngành công nghiệp điện tử, vi mạch bán dẫn từ Samsung, Amkor).

Tại vùng động lực phía Nam: TP. Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu điều phối tài chính quốc tế, công nghệ cao và logistics với mức tăng 7,53% năm 2025 (đóng góp quy mô tuyệt đối lớn nhất cả nước với 23,11% vào đà tăng trưởng chung), tạo lực kéo thúc đẩy và liên kết chặt chẽ với TP. Đồng Nai (tăng 9,63% từ năng lực công nghiệp chế tạo, phụ trợ và hạ tầng Cảng hàng không quốc tế Long Thành) cùng tỉnh Tây Ninh (tăng 9,52% nhờ bứt phá hạ tầng biên mậu, logistics cửa ngõ kết nối hành lang kinh tế xuyên Á).

Tại vùng động lực miền Trung: Mối liên kết đa chức năng giữa đô thị biển, dịch vụ công nghệ cao với dải công nghiệp và hậu cần Tây Nguyên được phát huy đồng bộ. Trong đó, cực tăng trưởng Đà Nẵng đạt mức tăng trưởng GRDP 9,18% năm 2025 (đóng góp 2,52% vào tăng trưởng chung), khẳng định vai trò trung tâm kinh tế số, thiết kế vi mạch bán dẫn, tài chính và logistics quốc tế; tạo sự tương hỗ chặt chẽ với tổ hợp sản xuất vật chất tại tỉnh Quảng Ngãi (tăng 10,02% nhờ mở rộng công suất Lọc hóa dầu Dung Quất, chuỗi cơ khí chế tạo ô tô Chu Lai và luyện kim Hòa Phát), TP. Huế (tăng 8,50% từ kinh tế di sản, dịch vụ y tế chuyên sâu) và không gian sinh thái nông nghiệp công nghệ cao Gia Lai.

Tại vùng động lực Bắc Trung Bộ: Sự gắn kết liên hoàn của chuỗi công nghiệp nặng, lọc hóa dầu và logistics biển tạo nền tảng vững chắc đưa tăng trưởng bình quân toàn vùng năm 2025 đạt 8,40%; trong đó hạt nhân công nghiệp năng lượng Hà Tĩnh tăng 8,78% (vận hành hiệu quả Khu kinh tế Vũng Áng, dự án pin, xe điện) bổ trợ mật thiết cho trung tâm chế biến chế tạo, giáo dục Nghệ An (tăng 8,44%) và tổ hợp lọc hóa dầu, vật liệu Nghi Sơn của tỉnh Thanh Hóa (tăng 8,27%).

Tại vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long: Cực tăng trưởng Cần Thơ đạt mức tăng trưởng 7,23% năm 2025, giữ vai trò điều phối hạ tầng logistics thương mại, công nghệ sinh học và đào tạo nhân lực chuyên sâu; tạo nền tảng quan trọng trong chuyển giao kỹ thuật và liên kết tiêu thụ sản phẩm cho các vùng chuyên canh lúa gạo, thủy sản chất lượng cao tại An Giang (tăng 8,39%), Đồng Tháp (tăng 7,38%) và Vĩnh Long (tăng 5,84%), từ đó khép kín chuỗi giá trị nông nghiệp tuần hoàn và nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu cho toàn vùng.

TỒN TẠI, BẤT CẬP THỂ CHẾ VÀ KHOẢNG TRỐNG QUẢN LÝ CỦA HỘI ĐỒNG ĐIỀU PHỐI VÙNG

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn phát triển các vùng động lực hiện nay đang bộc lộ một điểm nghẽn thể chế: Sự thiếu đồng nhất giữa phạm vi không gian của Vùng động lực quốc gia với địa giới vùng kinh tế - xã hội, dẫn đến việc một số địa phương thuộc vùng động lực nằm ngoài phạm vi hoạt động của Hội đồng điều phối vùng kinh tế - xã hội.

Điển hình tại vùng động lực phía Bắc: Theo quy hoạch điều chỉnh tại Nghị quyết số 252/2025/QH15, Vùng bao gồm cả tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Phú Thọ nhằm hoàn thiện chuỗi công nghiệp và vành đai tiếp vận của Vùng Thủ đô. Tuy nhiên, về mặt phân vùng hành chính kinh tế - xã hội theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị, Thái Nguyên và Phú Thọ lại thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, được điều phối bởi Hội đồng điều phối vùng Trung du và miền núi phía Bắc thay vì Hội đồng điều phối vùng Đồng bằng sông Hồng.

Tương tự, tại vùng động lực miền Trung, theo Nghị quyết số 252/2025/QH15, TP. Huế thuộc vùng Bắc Trung Bộ và được điều phối hoạt động liên kết vùng bởi Hội đồng điều phối vùng Bắc Trung Bộ); trong khi Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Gia Lai lại thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được điều phối hoạt động liên kết vùng bởi Hội đồng điều phối vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên).

Sự thiếu đồng bộ về cơ chế quản trị này sẽ làm ảnh hưởng đáng kể tới các quy hoạch hạ tầng dùng chung, cơ chế chia sẻ nguồn thu tài khóa liên tỉnh, các dự án logistics kết nối ngang và chuỗi liên kết cụm ngành nội vùng động lực hoàn toàn nằm ngoài thẩm quyền chỉ đạo, điều phối trực tiếp của một Hội đồng điều phối vùng duy nhất. Tình trạng “một vùng động lực - nhiều hội đồng điều phối” làm giảm tính đồng bộ trong phân bổ nguồn lực công, kéo dài thời gian xử lý thủ tục đầu tư liên tỉnh và tiếp tục duy trì tư duy quản lý cục bộ địa phương, cản trở việc phát huy tối đa hiệu ứng lan tỏa của cực tăng trưởng hạt nhân sang các địa bàn phụ trợ.

CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ

Bước vào giai đoạn 2026-2030, các vùng động lực đứng trước những cơ hội tái định vị chuỗi giá trị để tạo ra bước đột phá về năng lực sản xuất tổng thể. Xu hướng tái cấu trúc sản xuất quốc tế mở ra cơ hội thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như: vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và công nghệ số. Sự bứt phá của kinh tế dữ liệu, kinh tế số và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực nội sinh then chốt, đặt mục tiêu đóng góp tới 35%-40% GRDP tại các vùng đầu tàu như: Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Thêm vào đó, việc tiếp cận các nguồn tài chính xanh quốc tế phục vụ cam kết Net Zero 2050 và việc Bộ Chính trị định hướng xây dựng các mô hình thể chế kinh tế vượt trội như: đặc khu công nghệ, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng cùng các trung tâm dữ liệu quốc gia đang tạo ra những xung lực cạnh tranh vượt bậc mang tầm khu vực.

Tuy nhiên, con đường hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số cũng đối mặt với nhiều điểm nghẽn mang tính cấu trúc và trở lực vĩ mô gay gắt. Các rào cản xanh phi thuế quan từ thị trường quốc tế như: Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và tiêu chuẩn ESG đang tạo áp lực chuyển đổi rất lớn lên hệ thống sản xuất công nghiệp nội địa. Việc thực thi Thuế tối thiểu toàn cầu làm suy giảm hiệu lực của các ưu đãi thuế quan truyền thống, đòi hỏi chuyển sang mô hình hỗ trợ dựa trên chi phí hạ tầng và nghiên cứu phát triển. Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ chiến lược và các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu như sụt lún đất, xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long hay thiên tai cực đoan tại miền Trung đang đặt ra yêu cầu cấp bách về năng lực chống chịu của hệ thống kết cấu hạ tầng. Ngoài ra, nếu thiếu cơ chế điều phối vùng thực chất, hiệu ứng phân cực ngược sẽ tiếp tục hút cạn kiệt tài nguyên từ vùng phụ cận về đô thị lõi, gây quá tải hạ tầng kỹ thuật, ô nhiễm môi trường và gia tăng xung đột lợi ích tài khóa giữa các địa phương.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2026-2030

Giai đoạn 2026-2030, để hiện thực hóa khát vọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng GDP bứt phá hai con số từ 10% trở lên, các vùng động lực và cực tăng trưởng phải thực hiện tái cấu trúc toàn diện, trở thành những đầu mối điều phối mạng lưới sản xuất, trung tâm đổi mới sáng tạo nhằm tăng cường năng lực tự cường và khả năng hấp thụ rủi ro trước các biến động quốc tế. Dựa trên các phân tích lý luận, thực chứng và định hướng chiến lược từ Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị, nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá cho các vùng động lực như sau:

Một là, đột phá về thể chế điều phối vùng và hoàn thiện cơ chế tài khóa liên vùng. Cần đổi mới căn bản mô hình và phương thức hoạt động của Hội đồng điều phối vùng theo hướng thực chất, hiệu lực và hiệu quả, trao thẩm quyền pháp lý thực chất để điều phối các công trình liên vùng theo nguyên tắc các địa phương cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi mà không phát sinh khâu trung gian. Đối với các công trình liên ngành, liên vùng có ý nghĩa chiến lược quốc gia, cần áp dụng cơ chế điều phối thống nhất với một đầu mối chịu trách nhiệm duy nhất. Đồng thời, cần ban hành cơ chế cho phép các cực tăng trưởng tham gia điều phối phát triển vùng, thiết lập Quỹ phát triển hạ tầng vùng dùng chung và cơ chế chia sẻ nguồn thu tài khóa từ các dự án hạ tầng liên tỉnh.

Hai là, kiến tạo khung thể chế thử nghiệm vượt trội và đổi mới chính sách thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới. Chính phủ cần sớm ban hành các cơ chế, chính sách đột phá để phát triển các mô hình kinh tế mới như: kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và đặc khu công nghệ. Cho phép các cực tăng trưởng hạt nhân như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng thí điểm áp dụng cơ chế thử nghiệm pháp lý đặc thù có kiểm soát trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, logistics số và dữ liệu xuyên biên giới. Song song đó, cần chuyển đổi mạnh mẽ chính sách ưu đãi FDI từ miễn giảm thuế trực thu sang các hình thức hỗ trợ chi phí đầu tư hạ tầng sạch, nguồn điện xanh ổn định và tài trợ chi phí đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao để thích ứng với Thuế tối thiểu toàn cầu.

Ba là, tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng kép đồng bộ, kết hợp chặt chẽ giữa hạ tầng giao thông đa phương thức với hạ tầng kỹ thuật số hiện đại. Cần ưu tiên đầu tư trục giao thông xương sống Bắc - Nam thế hệ mới tích hợp đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, hạ tầng năng lượng, cáp quang và logistics, gắn liền với các hành lang kinh tế Đông - Tây chiến lược. Tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia như: đường sắt mới Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đường sắt kết nối cảng biển và cửa khẩu quốc tế, tuyến đường sắt TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau, đường sắt Viêng Chăn - Vũng Áng, cùng các dự án hàng không chiến lược như: Cảng Hàng không quốc tế Long Thành, Cảng Hàng khong quốc tế Gia Bình (Bắc Ninh) và nâng cấp Cát Bi, Nội Bài. Đồng thời, mở rộng không gian phát triển biển thông qua việc hoàn thành các cảng nước sâu Lạch Huyện, Liên Chiểu, Cái Mép - Thị Vải, Hòn Khoai và hình thành tam giác chiến lược biển Tây Nam Phú Quốc - Hòn Khoai - Thổ Châu phục vụ phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng an ninh.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên cơ chế vận hành của mô hình liên kết 3 bên (Nhà nước - Nhà trường/Viện nghiên cứu - Doanh nghiệp) gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và an sinh xã hội bao trùm. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, cung cấp nguồn vốn mồi và đặt hàng nghiên cứu chiến lược; các trường đại học, viện nghiên cứu lớn tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Cần Thơ đóng vai trò đào tạo chuyên sâu, sáng tạo và lan tỏa tri thức; trong khi doanh nghiệp vận hành theo tín hiệu thị trường, tham gia đồng tài trợ và tiếp nhận thương mại hóa các phát minh, sáng chế.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Ban Chấp hành Trung ương (2026). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

3. Boudeville, J. R. (1961). Les Espaces Économiques. Presses Universitaires de France, Paris.

4. Cục Thống kê (2025, 2026). Niên giám Thống kê 2026 và Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội các năm 2021-2025, 6 tháng đầu năm 2026.

5. Friedmann, J. (1966). Regional Development Policy: A Case Study of Venezuela. MIT Press, Cambridge.

6. Krugman, P. (1991). Geography and Trade. MIT Press, Cambridge, MA.

7. Perroux, F. (1955). Note sur la notion de pôle de croissance. Économie Appliquée, 8(1-2), 307-320.

8. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

9. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 192/2025/QH15 về bổ sung Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025.

10. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 252/2025/QH15 ngày 10/12/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 về Quy hoạch tổng thể quốc gia.

11. World Bank (2009). World Development Report 2009: Reshaping Economic Geography. Washington, D.C.N.

Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 6/10/2026; Ngày duyệt đăng: 19/10/2026

Các tin khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu qua tài khoản ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Kiên Giang

Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu qua tài khoản ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Kiên Giang

Hành vi chi tiêu qua tài khoản ngân hàng của sinh viên ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng, khả năng quản lý tài chính cá nhân và định hướng sử dụng ngân hàng số.
Đầu tư công hiện đại ở Việt Nam: Từ đổi mới nhận thức đến hoàn thiện thể chế quản lý

Đầu tư công hiện đại ở Việt Nam: Từ đổi mới nhận thức đến hoàn thiện thể chế quản lý

Đầu tư công là một công cụ để nhà nước hình thành, duy trì và nâng cấp kết cấu hạ tầng, tài sản và năng lực cung ứng dịch vụ phục vụ các mục tiêu phát triển. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2022) xem chất lượng quản lý đầu tư công theo toàn bộ chu trình lập kế hoạch, phân bổ và thực hiện là yếu tố quyết định khả năng chuyển nguồn lực đầu tư thành tài sản công có hiệu quả và bền vững.
Nâng cao năng lực số cho công chức trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh tại Đồng Tháp

Nâng cao năng lực số cho công chức trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh tại Đồng Tháp

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính, chuyển đổi số đã trở thành một định hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng dịch vụ công.
Xuất khẩu sản phẩm văn hóa tại chỗ thông qua du lịch: Kinh nghiệm tại một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Xuất khẩu sản phẩm văn hóa tại chỗ thông qua du lịch: Kinh nghiệm tại một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

"Xuất khẩu tại chỗ" các sản phẩm văn hóa thông qua du lịch được xem như một động lực kinh tế chiến lược, chuyển đổi di sản vật thể và phi vật thể thành nguồn thu xuất khẩu có giá trị cao.
Quản lý tổ chức đăng ký doanh nghiệp cấp tỉnh - Nghiên cứu tại Sở Tài chính tỉnh Đồng Tháp

Quản lý tổ chức đăng ký doanh nghiệp cấp tỉnh - Nghiên cứu tại Sở Tài chính tỉnh Đồng Tháp

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp là yêu cầu cần thiết.
Xu hướng ngân hàng dịch vụ: Thách thức và giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Xu hướng ngân hàng dịch vụ: Thách thức và giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Ngân hàng dịch vụ là một mô hình phân phối dịch vụ tài chính hiện đại đột phá, cho phép các tổ chức phi ngân hàng thực hiện tích hợp trực tiếp các tính năng và dịch vụ ngân hàng cốt lõi vào các sản phẩm và nền tảng của họ thông qua nền tảng giao diện.
Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản lý tài chính cá nhân của sinh viên khối ngành Kinh tế tại Hà Nội

Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản lý tài chính cá nhân của sinh viên khối ngành Kinh tế tại Hà Nội

Quản lý tài chính cá nhân là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, kiểm soát và theo dõi việc sử dụng các nguồn lực tài chính của cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm đạt được các mục tiêu tài chính trong ngắn hạn và dài hạn.
Đề xuất mô hình nghiên cứu về cá nhân hóa dựa trên AI và lòng trung thành thương hiệu đa chiều đối với khóa học trực tuyến thương mại

Đề xuất mô hình nghiên cứu về cá nhân hóa dựa trên AI và lòng trung thành thương hiệu đa chiều đối với khóa học trực tuyến thương mại

Sự phát triển của AI đang thúc đẩy cá nhân hóa học tập trực tuyến thông qua điều chỉnh nội dung, lộ trình và phản hồi theo đặc điểm người học.
Chuyển dịch cơ chế phòng ngừa rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân và vai trò của ngân hàng hợp tác xã

Chuyển dịch cơ chế phòng ngừa rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân và vai trò của ngân hàng hợp tác xã

Tại Việt Nam, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đóng một vai trò đặc thù và trọng yếu trong kiến trúc tài chính nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy tài chính toàn diện. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động trong những năm qua đã bộc lộ những hạn chế mang tính cơ cấu.
Thương mại quốc tế, FDI và mối quan hệ với quy mô GRDP thực cấp tỉnh ở Việt Nam: Trường hợp Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Thương mại quốc tế, FDI và mối quan hệ với quy mô GRDP thực cấp tỉnh ở Việt Nam: Trường hợp Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Thương mại quốc tế và FDI là 2 kênh quan trọng qua đó hội nhập kinh tế có thể tác động đến quy mô GRDP thực của địa phương. Tuy nhiên, mức độ chuyển hóa các lợi ích này còn phụ thuộc vào vốn con người, chất lượng thể chế và khả năng hấp thụ.