Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp giả định hoạt động liên tục và không liên tục theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC

Nghiên cứu - Trao đổi 16:39 | 29/12/2025
Bài viết tập trung trao đổi các nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp khi đáp ứng và khi không đáp ứng giả định hoạt động liên tục theo quy định mới tại Thông tư số 99/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Nguyễn Thị Thuận

Khoa Kế toán, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng

Email: thuannguyen4384@gmail.com

Tóm tắt

Bài viết tập trung trao đổi các nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp khi đáp ứng và khi không đáp ứng giả định hoạt động liên tục theo quy định mới tại Thông tư số 99/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2026. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ những điểm cần lưu ý trong quá trình áp dụng nhằm nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính.

Từ khóa: Kế toán doanh nghiệp, báo cáo tài chính, giả định hoạt động liên tục, chuẩn mực kế toán

Summary

This article discusses the principles for the preparation and presentation of corporate financial statements when the going concern assumption is met and when it is not met, in accordance with the new regulations stipulated in Circular No. 99/2025/TT-BTC issued by the Ministry of Finance, guiding the enterprise accounting regime and effective from January 1, 2026. On this basis, the article clarifies key issues that should be noted during the implementation process to enhance the transparency and reliability of financial information.

Keywords: Enterprise accounting, financial statements, going concern assumption, accounting standards

ĐẶT VẤN ĐỀ

Báo cáo tài chính (BCTC) là hệ thống thông tin phản ánh toàn diện tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp (DN). Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 21, BCTC được trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế.

Ngày 27/10/2025, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 99/2025/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán DN, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau thời điểm này. Thông tư đã bổ sung, làm rõ nhiều nội dung quan trọng liên quan đến việc lập và trình bày BCTC, đặc biệt trong bối cảnh DN có hoặc không đáp ứng giả định hoạt động liên tục. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích các nguyên tắc lập và trình bày BCTC theo hai trường hợp nêu trên.

TỔNG QUAN

Báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Kế toán, BCTC là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một DN, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. BCTC gồm: Báo cáo tình hình tài chính; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh BCTC; Báo cáo khác theo quy định của pháp luật.

Giả định hoạt động liên tục của doanh nghiệp

Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 21, khi lập và trình bày BCTC, người đứng đầu DN cần phải đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của DN. BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là DN đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi DN có ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể qui mô hoạt động của mình. Trường hợp tồn tại các yếu tố không chắc chắn trọng yếu có thể gây ra sự nghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục, DN phải thuyết minh rõ trong BCTC. Nếu BCTC không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục, DN phải nêu rõ cơ sở lập BCTC và lý do không đáp ứng giả định này.

Khả năng không đáp ứng giả định hoạt động liên tục của doanh nghiệp

Theo khoản 1 Điều 24 Thông tư số 99/2025/TT-BTC, khi lập và trình bày BCTC, DN phải xem xét các dấu hiệu không đáp ứng giả định hoạt động liên tục của đơn vị. DN bị coi là không hoạt động liên tục nếu DN dự kiến bị giải thể hoặc phá sản hoặc ngừng sản xuất kinh doanh hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động theo quy định trong thời hạn từ 12 tháng trở xuống kể từ thời điểm kết thúc kỳ kế toán. DN phải thuyết minh về tình hình hoạt động liên tục của DN khi có yếu tố không chắc chắn trọng yếu có thể gây ra sự nghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục.

NGUYÊN TẮC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

Trường hợp doanh nghiệp đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Theo Điều 20 , trong trường hợp DN đáp ứng giả định hoạt động liên tục, việc lập và trình bày BCTC phải tuân thủ các quy định tại Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 - Trình bày BCTC và các Chuẩn mực kế toán Việt Nam khác có liên quan.

Tài sản và nợ phải trả trên BCTC được phân loại thành ngắn hạn và dài hạn theo tính thanh khoản giảm dần. Đối với các khoản nợ phải trả là một bộ phận của vốn lưu động được sử dụng trong chu kỳ kinh doanh thông thường của DN, chẳng hạn như các khoản phải trả cho nhà cung cấp, chi phí phải trả cho người lao động và các khoản chi phí phải trả khác phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, DN phải phân loại các khoản nợ này là nợ phải trả ngắn hạn, kể cả trong trường hợp DN có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đó trong khoảng thời gian trên 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán. Những khoản nợ phải trả không đáp ứng điều kiện phân loại là nợ ngắn hạn theo hướng dẫn nêu trên thì được phân loại là nợ phải trả dài hạn.

Đối với các khoản nợ phải trả được phân loại là nợ ngắn hạn, nếu trong khoảng thời gian từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán đến ngày phát hành BCTC xảy ra các sự kiện như: Thỏa thuận gia hạn khoản nợ phải trả ngắn hạn thành dài hạn; khắc phục vi phạm trong thỏa thuận đối với nợ phải trả dài hạn; chủ nợ cho phép ân hạn để khắc phục vi phạm của thỏa thuận đối với nợ phải trả dài hạn ít nhất là 12 tháng sau ngày kết thúc kỳ kế toán, thì các sự kiện này không cần điều chỉnh. Tuy nhiên, DN có trách nhiệm thuyết minh đầy đủ các sự kiện phát sinh sau này trong Thuyết minh BCTC theo đúng quy định.

Trường hợp DN lựa chọn trình bày Báo cáo tình hình tài chính theo phương pháp phân loại tài sản và nợ phải trả theo chu kỳ kinh doanh thông thường, DN phải thuyết minh giá trị dự kiến sẽ được thu hồi hoặc phải thanh toán trong khoảng thời gian trên 12 tháng đối với từng dòng chỉ tiêu tài sản và nợ phải trả, trong trường hợp các chỉ tiêu này bao gồm giá trị dự kiến sẽ được thu hồi hay phải thanh toán: (i) từ 12 tháng trở xuống kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán; (ii) trên 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán. Đồng thời, chu kỳ kinh doanh thông thường được sử dụng để phân loại tài sản và nợ phải trả phải được áp dụng thống nhất trong toàn DN. Đối với các DN có chu kỳ kinh doanh thông thường không thể xác định một cách rõ ràng, chu kỳ kinh doanh của DN vẫn được mặc định là 12 tháng.

Khi lập BCTC, DN phải thực hiện tái phân loại các tài sản dài hạn và nợ phải trả dài hạn của kỳ trước thành tài sản và nợ phải trả ngắn hạn trong kỳ này, nếu kể từ thời điểm kết thúc kỳ kế toán, các tài sản hoặc nợ phải trả này đáp ứng điều kiện để phân loại là tài sản ngắn hạn hoặc nợ phải trả ngắn hạn theo quy định, trừ những trường hợp không được tái phân loại theo hướng dẫn tại Thông tư này.

Tài sản và nợ phải trả phải được trình bày riêng biệt. DN chỉ được thực hiện bù trừ tài sản và nợ phải trả khi tài sản và nợ phải trả liên quan đến cùng một đối tượng, có vòng quay nhanh, thời gian đáo hạn ngắn, phát sinh từ các giao dịch và sự kiện cùng loại. Các khoản mục doanh thu, thu nhập và các chi phí liên quan trực tiếp tới việc tạo ra các khoản doanh thu, thu nhập đó phải được trình bày theo nguyên tắc phù hợp và đảm bảo nguyên tắc thận trọng.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các khoản mục doanh thu, thu nhập, chi phí và luồng tiền của kỳ báo cáo. Trường hợp phát hiện BCTC của các kỳ trước có sai sót trọng yếu thì phải được điều chỉnh hồi tố theo quy định. Trường hợp DN có các đơn vị trực thuộc thì BCTC của DN phải tổng hợp cả thông tin tài chính của trụ sở chính và các đơn vị trực thuộc, số dư các khoản mục nội bộ của Báo cáo tình hình tài chính, các khoản doanh thu, chi phí, lãi, lỗ chưa thực hiện phát sinh từ các giao dịch nội bộ đều phải được loại trừ.

Trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Theo Điều 24, trong một số trường hợp nhất định, DN vẫn được coi là hoạt động liên tục nên không phải lập và trình bày BCTC trên cơ sở không đáp ứng giả định hoạt động liên tục. Các trường hợp này gồm: (i) chuyển đổi loại hình DN, trong đó có cả việc cổ phần hóa DN nhà nước thành công ty cổ phần; (ii) DN bị chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập; (iii) việc chuyển một DN (công ty con) thành đơn vị trực thuộc (chi nhánh) hoặc ngược lại. Trường hợp DN không đáp ứng giả định hoạt động liên tục, DN vẫn phải lập đầy đủ các BCTC theo quy định, như được thống kê tại Bảng.

Bảng: Các BCTC phải lập khi không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Loại báo cáo

Mẫu biểu áp dụng

Báo cáo tình hình tài chính: áp dụng cho DN không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Mẫu B 01 - DNKLT và trình bày theo mẫu riêng

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: áp dụng cho DN không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Mẫu B 02 - DNKLT và được trình bày theo mẫu chung tương tự DN đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: áp dụng cho DN không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Mẫu B 03 - DNKLT và được trình bày theo mẫu chung tương tự DN đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Thuyết minh BCTC: áp dụng cho DN không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Mẫu B 09 - DNKLT và được trình bày theo mẫu riêng

Nguồn: Thông tư số 99/2025/TT-BTC

Theo quy định, trường hợp giả định về sự hoạt động liên tục không còn phù hợp tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán, DN phải tái phân loại tài sản dài hạn và nợ phải trả dài hạn thành tài sản ngắn hạn và nợ phải trả. Việc đánh giá lại không áp dụng với trường hợp có bên thứ ba kế thừa quyền đối với tài sản hoặc nghĩa vụ đối với nợ phải trả theo giá trị sổ sách. DN phải ghi nhận vào sổ kế toán theo giá đánh giá lại trước khi lập Báo cáo tình hình tài chính.

Khi giả định hoạt động liên tục không còn phù hợp, DN phải xử lý một số vấn đề tài chính sau:

Thứ nhất, thực hiện trích trước vào chi phí để xác định kết quả kinh doanh đối với các khoản lỗ dự kiến phát sinh trong tương lai nếu khả năng phát sinh khoản lỗ là tương đối chắc chắn và giá trị khoản lỗ được ước tính một cách đáng tin cậy; Ghi nhận nghĩa vụ hiện tại đối với các khoản phải trả kể cả trong trường hợp chưa có đầy đủ hồ sơ tài liệu (như biên bản nghiệm thu khối lượng của nhà thầu,...) nhưng chắc chắn phải thanh toán;

Thứ hai, đối với khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản lũy kế thuộc phần vốn chủ sở hữu được kết chuyển vào thu nhập khác (nếu lãi) hoặc chi phí khác (nếu lỗ);

Thứ ba, đối với khoản chênh lệch tỷ giá đang phản ánh lũy kế trên Báo cáo tình hình tài chính, DN kết chuyển toàn bộ vào doanh thu hoạt động tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ);

Thứ tư, các khoản chi phí chờ phân bổ chưa phân bổ hết được ghi giảm toàn bộ để tính vào chi phí sản xuất kinh doanh liên quan trong kỳ tùy theo từng nghiệp vụ cụ thể tương tự như việc ghi nhận của DN đang hoạt động liên tục trong kỳ;

Thứ năm, công ty mẹ dừng ghi nhận lợi thế thương mại trên BCTC hợp nhất, phần lợi thế thương mại chưa phân bổ hết được tính ngay vào chi phí quản lý DN;

Thứ sáu, các khoản chênh lệch lãi, lỗ khi đánh giá lại tài sản và nợ phải trả sau khi bù trừ với số dự phòng đã trích lập được ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác hoặc chi phí tài chính, chi phí khác tùy từng khoản mục cụ thể tương tự như việc ghi nhận của DN đang hoạt động liên tục.

Khi lập BCTC, trường hợp giả định về sự hoạt động liên tục không còn phù hợp, DN phải thuyết minh chi tiết về khả năng tạo tiền và thanh toán nợ phải trả, vốn chủ sở hữu cho các cổ đông. Đồng thời, DNphải phân loại lại các số liệu so sánh trên BCTC của kỳ đầu tiên DN không đáp ứng giả định hoạt động liên tục (trừ trường hợp việc phân loại không thể thực hiện được), nhằm đảm bảo khả năng so sánh với kỳ báo cáo cũng như phải trình bày tính chất, số liệu và lý do của việc phân loại lại.

Trường hợp không thể phân loại lại các số liệu mang tính so sánh, DN phải thuyết minh và giải thích rõ nguyên nhân dẫn đến việc không so sánh được giữa thông tin của kỳ báo cáo và kỳ so sánh, bao gồm: số tiền có khả năng thu hồi từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản hoặc thu hồi các khoản phải thu; khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả theo thứ tự ưu tiên (như khả năng trả nợ ngân sách nhà nước, trả nợ người lao động, trả nợ vay, nợ nhà cung cấp); khả năng thanh toán cho chủ sở hữu (đối với công ty cổ phần, cần công bố rõ giá trị dự kiến mỗi cổ phiếu có thể nhận được); thời gian dự kiến thực hiện thanh toán các khoản nợ phải trả và vốn chủ sở hữu; và các lý do khác dẫn đến sự không so sánh được giữa các kỳ báo cáo.

MỘT SỐ LƯU Ý

Khi lập và trình bày BCTC của DN khi đáp ứng hoặc không đáp ứng giả định hoạt động liên tục, cần lưu ý một số nội dung sau:

Một là, việc lập và trình bày BCTC phải tuân theo các quy định của Chuẩn mực kế toán số 21 về “Trình bày BCTC” và các chuẩn mực liên quan. Các thông tin trọng yếu cần được giải thích rõ ràng để giúp người đọc hiểu đúng tình hình tài chính của DN.

Hai là, BCTC hợp nhất năm và BCTC hợp nhất giữa niên độ được lập theo quy định của pháp luật về BCTC hợp nhất, trên cơ sở số liệu đã khóa sổ kế toán, đảm bảo đúng nội dung, phương pháp và tính nhất quán giữa các kỳ; trường hợp có thay đổi phải thuyết minh rõ nguyên nhân.

Ba là, DN có các đơn vị trực thuộc phải tổng hợp cả thông tin tài chính của trụ sở chính và các đơn vị trực thuộc trên cơ sở loại trừ tất cả các giao dịch nội bộ; trụ sở chính và các đơn vị trực thuộc không bắt buộc lập BCTC riêng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bốn là, việc lập và ký BCTC thực hiện theo quy định của Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn; trường hợp thuê dịch vụ kế toán, DN phải ghi rõ thông tin về người hành nghề và đơn vị cung cấp dịch vụ theo quy định.

Năm là, trong trường hợp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục, DN không phải đánh giá lại tài sản và nợ phải trả nếu có bên thứ ba kế thừa quyền đối với tài sản hoặc nghĩa vụ đối với nợ phải trả theo giá trị sổ sách trong các trường hợp cụ thể được pháp luật cho phép.

KẾT LUẬN

Lập và trình bày BCTC có ý nghĩa quan trọng đối với DN, nhà quản lý, nhà đầu tư, ngân hàng và cơ quan thuế. Trong quá trình lập BCTC, các DN phải nắm rõ các nguyên tắc đối với từng trường hợp của DN. Các nội dung này đã được quy định rõ tại Thông tư số 99/2025/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán DN, bắt đầu áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 1/1/2026.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính (2003). Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 21, ban hành theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 31/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

2. Bộ Tài chính (2025). Thông tư số 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 Hướng dẫn Chế độ kế toán DN.

3. Quốc hội (2015). Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.

Ngày nhận bài: 7/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/12/2025; Ngày duyệt đăng: 28/12/2025

Các tin khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng chuyển hóa doanh thu thành dòng tiền của doanh nghiệp xây dựng. Trong bối cảnh rủi ro khoản phải thu gia tăng, nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến DSO của doanh nghiệp kỹ thuật xây dựng niêm yết tại Việt Nam, qua đó hỗ trợ kiểm soát dòng tiền và giảm áp lực tài trợ vốn lưu động.
Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Các nghiên cứu marketing trực tuyến gần đây chỉ ra rằng chất lượng của các dịch vụ bán hàng phát trực tiếp (livestream) trên các nền tảng thương mại điện tử có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua hàng của một bộ phận lớn khách hàng trực tuyến. Hành vi mua hàng này được thúc đẩy bởi một loạt các cơ chế phát trực tiếp chất lượng cao được tạo ra bởi các công ty bán hàng trực tuyến trên các nền tảng thương mại điện tử hiện nay.
Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số

Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số

Việc thấu hiểu nhu cầu và đặc điểm của khách hàng là yếu tố quan trọng, giúp doanh nghiệp triển khai các chiến lược tiếp thị cá nhân hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ. Phân khúc khách hàng được xem là một trong những phương pháp phân tích thị trường quan trọng, cho phép phân chia tập khách hàng thành các nhóm có những đặc điểm và hành vi tương đồng.
Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp định hướng thị trường: Minh chứng từ Công ty Cổ phần Hòa Việt

Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp định hướng thị trường: Minh chứng từ Công ty Cổ phần Hòa Việt

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh doanh bền vững và thực hiện các cam kết SDGs, Net Zero đến năm 2050, yêu cầu tái cấu trúc các chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng liên kết, tích hợp và định hướng thị trường ngày càng trở nên cấp thiết.
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Trong sự vận động của kinh tế vĩ mô, thu ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là nguồn lực tài chính cho chi tiêu công, mà còn là một "phong vũ biểu" nhạy cảm, phản ánh trực tiếp sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp và hiệu quả của các chính sách điều hành tài khóa.
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai

Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai

Nghiên cứu kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại Đồng Nai, làm cơ sở khoa học để các nhà quản lý và các cơ sở giáo dục hoạch định giải pháp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp hiệu quả.
Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam

Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam

Thương mại điện tử xuyên biên giới ngày càng trở thành một kênh quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường với chi phí gia nhập thấp.
Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương 
ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023

Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023

Trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và định hướng từ Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị, việc chuyển hướng sang FDI thế hệ mới - gắn liền với công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuẩn mực ESG - là lựa chọn mang tính chiến lược.
Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến

Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến

Sự phát triển của thương mại điện tử đã làm thay đổi hành vi mua sắm của người tiêu dùng và đặt ra yêu cầu nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định mua hàng trong môi trường số.
Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, logistics đã trở thành ngành dịch vụ nền tảng kết nối sản xuất, lưu thông, thương mại điện tử và xuất nhập khẩu.