Thay đổi quy định kế toán hàng tồn kho: Đánh giá tác động thực tiễn tại doanh nghiệp
ThS. Trần Thị Kiều Quyên
Trường Cao đẳng Công Thương TP. Hồ Chí Minh
Email: ttkieuquyen@hitu.edu.vn
Tóm tắt
Hệ thống kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi khi Thông tư số 99/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp chính thức thay thế Thông tư số 200/2014/TT-BTC. Thông tư số 99/2025/TT-BTC đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp theo hướng hiện đại và tiệm cận thông lệ quốc tế so với quy định trước đây. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định, bài viết phân tích ý nghĩa, các điểm mới liên quan cũng như đánh giá tác động của các quy định mới về hàng tồn kho đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay.
Từ khóa: Kế toán, hàng tồn kho, Thông tư số 99/2025/TT-BTC
Summary
Viet Nam's corporate accounting system has entered a transitional phase as Circular No. 99/2025/TT-BTC issued by the Ministry of Finance, providing guidance on the corporate accounting regime, officially replaces Circular No. 200/2014/TT-BTC. Circular No. 99/2025/TT-BTC marks a significant step in improving the corporate accounting framework toward modernization and convergence with international practices compared to previous regulations. Based on an examination of these provisions, the article analyzes their significance, highlights the new features introduced, and evaluates the impact of the new inventory-related regulations on current business and production activities of enterprises.
Keywords: Accounting, inventory, Circular No. 99/2025/TT-BTC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau hơn một thập kỷ áp dụng, Thông tư số 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính (Thông tư số 200) dần bộc lộ những hạn chế, như mức độ linh hoạt thấp, sự chưa tương thích với thông lệ quốc tế và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị hiện đại của doanh nghiệp. Trước bối cảnh đó, Thông tư số 99/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp (Thông tư số 99) được xây dựng và ban hành, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp theo hướng hiện đại và tiệm cận thông lệ quốc tế. Việc ban hành khung pháp lý mới không chỉ cập nhật các nguyên tắc ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính, mà còn mở rộng yêu cầu về tổ chức kế toán, chuẩn hóa chứng từ và tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản trị, đặc biệt đối với kế toán hàng tồn kho (HTK) được đánh giá là có mức độ ảnh hưởng lớn, khi HTK là một cấu phần trọng yếu trong tài sản ngắn hạn và có vai trò trực tiếp đối với việc xác định giá vốn hàng bán, chi phí, lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp và bộ phận kế toán doanh nghiệp nắm rõ được các quy định mới, việc làm rõ các điều chỉnh liên quan đến HTK, đánh giá tác động của các quy định mới về kế toán HTK đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trên cơ sở các quy định hiện hành về kế toán HTK tại Thông tư số 99 từ đó phân tích ý nghĩa, các điểm mới liên quan cũng như đánh giá tác động của các quy định mới về HTK đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay.
TỔNG QUAN VỀ HÀNG TỒN KHO
Khái niệm hàng tồn kho
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 02 (VAS 02), HTK là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang; hoặc là nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng cho quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. HTK gồm: hàng hóa mua về để bán; thành phẩm; sản phẩm dở dang; nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ; chi phí dịch vụ dở dang (Bộ Tài chính, 2001).
Nguyên tắc tính giá hàng tồn kho
HTK được tính theo nguyên tắc giá gốc (theo VAS 02), trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Giá gốc HTK bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được HTK ở địa điểm và trạng thái hiện tại (Bộ Tài chính, 2001).
Ý nghĩa của hàng tồn kho
HTK đôi khi mang những ý nghĩa tiêu cực là bởi lẽ, nếu hàng hóa, nguyên vật liệu bị tồn kho quá lâu chứng tỏ hoạt động sản xuất, kinh doanh đang gặp vấn đề. Việc để HTK lâu có thể dẫn đến việc giảm chất lượng (đặc biệt là với các ngành như thực phẩm, chế biến) và làm tăng chi phí lưu kho. Vì vậy, quản lý HTK luôn là công tác quan trọng luôn được các doanh nghiệp quan tâm (MISA, 2023). Quản lý hiệu quả HTK góp phần tối ưu hóa hoạt động sản xuất và chuỗi cung ứng, giúp doanh nghiệp nâng cao độ chính xác trong dự báo nhu cầu, lập kế hoạch sản xuất phù hợp, tránh tình trạng thiếu hụt hoặc dư thừa tồn kho, qua đó nâng cao hiệu suất và giảm chi phí sản xuất (Lê Minh Trường, 2024). Bên cạnh đó, việc quản lý hiệu quả HTK góp phần hạn chế rủi ro tồn đọng, hư hỏng, lỗi thời hoặc hết hạn sử dụng, đồng thời giảm thiểu chi phí lưu kho và chi phí quản lý liên quan, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường (MISA, 2023).
QUY ĐỊNH HÀNG TỒN KHO THEO THÔNG TƯ SỐ 99/2025/TT-BTC
Sự cần thiết
Việc điều chỉnh các quy định liên quan đến HTK không chỉ mang tính kỹ thuật kế toán, mà còn phản ánh xu hướng chuyển đổi từ cách tiếp cận mang tính tuân thủ sang cách tiếp cận dựa trên bản chất kinh tế và nhu cầu quản trị của doanh nghiệp. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng cao. Cụ thể:
Thứ nhất, tăng tính linh hoạt trong hạch toán HTK: Việc tăng tính linh hoạt trong hạch toán HTK giúp các doanh nghiệp đa chi nhánh hoặc mô hình tập đoàn chủ động hơn trong ghi nhận giao dịch nội bộ, phù hợp với cơ chế phân cấp quản trị nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu lập báo cáo hợp nhất. Điều này khắc phục hạn chế của Thông tư số 200 vốn áp dụng cơ chế cứng, chưa phản ánh đầy đủ bản chất kinh tế của một số giao dịch.
Thứ hai, phù hợp hơn với thực tiễn vận hành: Các quy định về HTK tại Thông tư số 99 phù hợp hơn với thực tiễn vận hành khi quy định rõ ràng các khoản chi phí liên quan đến việc đưa hàng về kho được tính vào giá gốc HTK. Điều này đảm bảo giá trị HTK phản ánh đúng bản chất tài sản và chi phí phát sinh, góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin kế toán.
Thứ ba, tăng hiệu quả quản trị HTK. Các quy định mới cũng tăng hiệu quả quản trị HTK thông qua việc mở rộng quyền lựa chọn phương pháp tính giá (đích danh, bình quân), đồng thời chuẩn hóa nguyên tắc ghi nhận chi phí khuyến mại, quảng cáo vào chi phí bán hàng. Những điều chỉnh này giúp thông tin kế toán linh hoạt và phù hợp hơn với nhu cầu kiểm soát, phân tích và ra quyết định của doanh nghiệp.
Thảo luận nội dung sửa đổi, bổ sung chính
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định tại Thông tư số 99, có thể hệ thống hóa một số thay đổi chính liên quan đến HTK như sau:
Một là, linh hoạt trong ghi nhận giao dịch nội bộ. Thông tư số 99 cho phép đơn vị trực thuộc tùy chọn ghi nhận hoặc không ghi nhận doanh thu và giá vốn khi thực hiện luân chuyển nội bộ, không phụ thuộc vào việc lập hóa đơn. Quy định này giúp giảm trùng lặp ghi nhận và phù hợp hơn với báo cáo tài chính hợp nhất của doanh nghiệp.
Hai là, chuẩn hóa chi phí đưa hàng về kho. Theo quy định mới, các khoản chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo hiểm và hao hụt trong định mức được yêu cầu tính vào giá gốc HTK, bảo đảm giá trị HTK phản ánh đầy đủ chi phí thực tế phát sinh. Giá gốc HTK được tính theo công thức sau:
Giá gốc = Giá mua + Chi phí mua + Chi phí chế biến
Trong đó: Giá mua bao gồm giá ghi trên hóa đơn và các khoản thuế gián thu hoặc thuế khác không được hoàn lại; Chi phí mua bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo hiểm, hao hụt trong định mức và các khoản chi phí trực tiếp khác liên quan đến việc đưa hàng về đến kho của doanh nghiệp; Chi phí chế biến, đối với doanh nghiệp sản xuất được xác định trên cơ sở các khoản mục như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được phân bổ theo phương pháp thích hợp.
Ba là, yêu cầu đối với báo cáo tài chính hợp nhất. Dù Thông tư số 99 mở rộng mức độ linh hoạt ở cấp đơn vị trực thuộc, báo cáo tài chính hợp nhất vẫn phải phản ánh đầy đủ quy mô, giá trị và biến động của HTK theo chuẩn mực hợp nhất. Điều này giúp nâng cao tính minh bạch và khả năng so sánh giữa các kỳ báo cáo. Mặc dù có nhiều điều chỉnh, nguyên tắc trọng yếu trong ghi nhận HTK là ghi nhận theo giá gốc vẫn được giữ nguyên và tiếp tục đóng vai trò nền tảng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Thông tư quy định HTK phải được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, phản ánh tổng chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để đưa hàng hóa, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm đến trạng thái và địa điểm hiện hữu. Nguyên tắc này tiếp tục được áp dụng cho các tài khoản (TK) HTK để đảm bảo sự nhất quán trong phương pháp đo lường tài sản của doanh nghiệp.
Bốn là, thu gọn lại hệ thống TK để phù hợp với tình hình thực tế. Hệ thống TK có sự thay đổi đáng kể, loại bỏ một số TK ít sử dụng và hợp nhất một số TK có bản chất tương đồng. Mục đích là để giảm sự phức tạp không cần thiết và tập trung vào bản chất kinh tế của giao dịch, HTK được chuẩn hóa tên gọi, giảm bớt tiểu khoản (Bảng).
Bảng: Những điểm mới liên quan đến hàng tồn kho
|
Số hiệu TK |
Thông tư số 99/2025/TT-BTC |
Thông tư số 200/2014/TT-BTC |
Nội dung thay đổi |
Trích quy định tại Thông tư số 99/2025/TT-BTC/2025 |
|
155 |
Sản phẩm |
Thành phẩm 1551 Thành phẩm nhập kho 1557 Thành phẩm bất động sản |
Đổi tên TK, bỏ chi tiết |
Mục A - Phụ lục II – Hệ thống TK doanh nghiệp |
|
156 |
Hàng hóa. Không có TK cấp 2 |
Hàng hóa Có 3 TK cấp 2: TK 1561, 1562 và 1567 - Hàng hóa bất động sản |
Bỏ chi tiết |
Mục A - Phụ lục II – Hệ thống TK doanh nghiệp |
|
158 |
Nguyên liệu, vật tư tại kho bảo thuế |
Hàng hoá kho bảo thuế |
Đổi tên TK |
Mục A - Phụ lục II – Hệ thống TK doanh nghiệp |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Năm là, xử lý hàng mua kèm sản phẩm tặng thêm. Doanh nghiệp mua hàng và được tặng thêm sản phẩm chia thành 2 trường hợp: Trường hợp 1: nếu tách được giá trị hàng tặng thì sẽ ghi riêng theo giá trị hợp lý (giá thị trường, giá tài sản tương tự); Trường hợp 2: Nếu không tách được giá trị thì kế toán sẽ gộp chung vào giá gốc của lô hàng chính, thường áp dụng khi hàng tặng đem đi dùng nội bộ, biếu tặng, bán ngay hoặc không theo dõi riêng.
Sáu là, xử lý hàng khuyến mại - quảng cáo. Việc ghi nhận kế toán đối với hàng khuyến mại và quảng cáo được phân định rõ dựa trên bản chất kinh tế của giao dịch, góp phần chuẩn hóa thông tin kế toán và nâng cao tính nhất quán trong báo cáo tài chính: (i). Đối với chương trình khuyến mại không điều kiện: Tức doanh nghiệp cung cấp hàng hóa cho khách hàng hoàn toàn miễn phí và không gắn với yêu cầu mua sản phẩm khác, giá trị hàng khuyến mại được ghi nhận toàn bộ vào chi phí bán hàng (TK 642). Quy định này phản ánh đúng bản chất hoạt động marketing của doanh nghiệp, theo đó hàng hóa khuyến mại được xem là chi phí phục vụ xúc tiến thương mại thay vì là một phần doanh thu; (ii). Đối với chương trình khuyến mại có điều kiện: Khách hàng chỉ nhận hàng tặng khi phát sinh giao dịch mua hàng. Trong trường hợp này, bản chất giao dịch được xác định là giảm giá hàng bán, không phải chi phí bán hàng. Do đó, doanh nghiệp phải phân bổ doanh thu cho cả hàng bán và hàng tặng, đồng thời ghi nhận giá vốn của hàng tặng vào TK 632 – Giá vốn hàng bán, bảo đảm phù hợp với nguyên tắc ghi nhận doanh thu và phản ánh đầy đủ chi phí liên quan.
Bảy là, quy định chi tiết hơn về HTK mua bằng ngoại tệ. Thông tư quy định chi tiết và thống nhất đối với việc ghi nhận HTK hình thành từ giao dịch ngoại tệ, nhằm bảo đảm tính nhất quán trong đo lường và hạn chế biến động không cần thiết trên báo cáo tài chính. Cụ thể, giá trị HTK được xác định theo tỷ giá thực tế tại ngày nhập kho, phản ánh đúng chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đưa hàng về trạng thái sẵn sàng sử dụng hoặc bán. Trong trường hợp doanh nghiệp ứng trước tiền cho nhà cung cấp, giá gốc HTK sẽ được xác định theo 2 tỷ giá khác nhau (giá trị tương ứng với khoản tiền đã ứng trước được quy đổi theo tỷ giá tại ngày ứng trước và phần giá trị còn lại chưa thanh toán được quy đổi theo tỷ giá tại ngày nhập kho). Các chênh lệch tỷ giá phát sinh sau thời điểm ghi nhận ban đầu không được điều chỉnh vào giá gốc HTK, mà phải phản ánh riêng biệt trên TK 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái theo quy định. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm rằng giá gốc HTK mua bằng ngoại tệ ổn định và không bị tác động bởi biến động tỷ giá cuối kỳ, từ đó nâng cao tính nhất quán và khả năng so sánh của thông tin tài chính giữa các kỳ.
Tám là, cho phép áp dụng phương pháp tính giá HTK. Thông tư này không quy định cụ thể tên gọi các phương pháp kế toán HTK, song vẫn giữ nguyên nguyên tắc cơ bản cho phép doanh nghiệp chủ động lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc điểm hoạt động. Theo đó, doanh nghiệp có thể xác định số lượng và giá trị hàng xuất kho theo từng lần phát sinh hoặc xác định trên cơ sở số lượng và giá trị HTK cuối kỳ.
Chín là, đánh giá lại và trích lập dự phòng giảm giá HTK. Theo quy định mới, vào cuối mỗi kỳ kế toán (quý hoặc năm), doanh nghiệp có trách nhiệm rà soát và đánh giá lại giá trị của từng mặt HTK nhằm bảo đảm việc ghi nhận tài sản phù hợp với giá trị có thể thu hồi. Khi giá trị thuần có thể thực hiện được (giá bán ước tính tại thời điểm lập báo cáo trừ chi phí hoàn thiện và chi phí tiêu thụ) thấp hơn giá gốc, kế toán bắt buộc phải thực hiện trích lập dự phòng giảm giá HTK và phản ánh vào TK 229 - Dự phòng giảm giá HTK. Khác với giai đoạn trước, việc trích lập dự phòng giảm giá HTK hiện nay không còn mang tính khuyến nghị mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc, thể hiện sự tiệm cận với thông lệ quốc tế trong ghi nhận và đo lường HTK.
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC QUY ĐỊNH MỚI VỀ HÀNG TỒN KHO
Tác động đến doanh nghiệp sản xuất, thương mại
Việc áp dụng các quy định mới về HTK theo Thông tư số 99 đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác đánh giá giá trị HTK của doanh nghiệp. Thay vì chỉ ghi nhận theo giá gốc như trước, doanh nghiệp phải thường xuyên xem xét giá trị thuần có thể thực hiện được (NRV) để xác định khả năng thu hồi thực tế của HTK. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá kịp thời các yếu tố như mức độ lỗi thời, hư hỏng, giảm chất lượng hoặc biến động giá thị trường, qua đó phản ánh trung thực hơn giá trị tài sản trên báo cáo tài chính. Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống theo dõi HTK chi tiết hơn, cập nhật thường xuyên tình trạng hàng hóa, đồng thời hoàn thiện quy trình đánh giá, phân loại và trích lập dự phòng giảm giá.
Ngoài ra, việc trích lập dự phòng giảm giá HTK có tác động trực tiếp đến giá vốn hàng bán và kết quả kinh doanh trong kỳ. Khi giá trị HTK bị điều chỉnh giảm, chi phí tăng lên sẽ làm lợi nhuận trước thuế giảm tương ứng. Tác động này thể hiện rõ nhất đối với các doanh nghiệp sản xuất, thương mại có vòng đời sản phẩm ngắn, chịu rủi ro lỗi thời cao như ngành thời trang, điện tử, hàng tiêu dùng nhanh. Do đó, Thông tư số 99 không chỉ yêu cầu tuân thủ về mặt kế toán mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực quản trị HTK và quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Tác động đến công tác quản trị, kiểm soát chi phí
Doanh nghiệp buộc phải chuyển sang mô hình quản trị tồn kho tinh gọn, hạn chế tình trạng tích trữ kéo dài gây ứ đọng vốn. Việc đánh giá và trích lập dự phòng giảm giá HTK trở thành một nội dung quản trị quan trọng, tác động trực tiếp đến chi phí và lợi nhuận. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động kiểm soát vòng quay HTK, tối ưu hóa dòng tiền và hạn chế rủi ro phát sinh từ hàng hóa chậm luân chuyển hoặc lỗi thời.
Thông tư số 99 cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Hoạt động kiểm kê, đánh giá chất lượng và giá trị HTK cần được thực hiện thường xuyên, có quy trình rõ ràng và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận kế toán, kho vận và kinh doanh. Việc thiết lập cơ chế kiểm soát độc lập giúp doanh nghiệp phát hiện sớm các rủi ro liên quan đến thất thoát, hao hụt hoặc suy giảm giá trị HTK, từ đó nâng cao độ tin cậy của thông tin tài chính được trình bày trên báo cáo.
Doanh nghiệp cũng phải xác định rõ đâu là chi phí được tính vào giá gốc HTK, đâu là chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp, tránh tình trạng ghi nhận sai kỳ hoặc sai bản chất. Việc tuân thủ đúng nguyên tắc ghi nhận không chỉ giúp phản ánh chính xác kết quả kinh doanh mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, hỗ trợ công tác phân tích, ra quyết định và quản trị tài chính trong dài hạn.
Tác động đến minh bạch tài chính và hội nhập kế toán
Các quy định về HTK theo Thông tư số 99 góp phần nâng cao đáng kể mức độ minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính doanh nghiệp. Khi HTK được ghi nhận và đánh giá sát với giá trị thực tế có thể thu hồi, báo cáo tài chính phản ánh trung thực hơn tình hình tài sản, hạn chế hiện tượng "làm đẹp" số liệu thông qua việc duy trì giá gốc không còn phù hợp. Điều này giúp nhà đầu tư, chủ nợ và các bên liên quan có cái nhìn chính xác hơn về năng lực tài chính, khả năng thanh toán cũng như mức độ rủi ro của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các quy định mới thể hiện rõ định hướng hội nhập với chuẩn mực kế toán quốc tế, đặc biệt là Chuẩn mực IAS 2 - HTK. Việc tiệm cận các nguyên tắc quốc tế về ghi nhận, đo lường và trình bày HTK góp phần nâng cao tính so sánh của báo cáo tài chính Việt Nam với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới. Đây là tiền đề quan trọng để thu hút vốn đầu tư, nâng cao uy tín của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế và đáp ứng yêu cầu minh bạch trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng.
KẾT LUẬN
Thông tư số 99/2025/TT-BTC có hiệu lực không chỉ góp phần hoàn thiện khung pháp lý kế toán doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp từng bước làm quen với tư duy kế toán dựa trên bản chất kinh tế của giao dịch, mà còn trở thành nền tảng hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả điều hành và năng lực cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng khắt khe. Để triển khai hiệu quả Thông tư số 99, doanh nghiệp cần chủ động rà soát chính sách kế toán, đầu tư nâng cấp hệ thống thông tin và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ kế toán nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài chính (2001). Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 - Hàng tồn kho.
2. Bộ Tài chính (2014). Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp.
3. Bộ Tài chính (2025). Thông tư số 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp.
4. Lê Minh Trường (2024). Hàng tồn kho (inventory) là gì? Phân loại và ý nghĩa của hàng tồn kho. https://luatminhkhue.vn/hang-ton-kho-inventory-la-gi.aspx
5. MISA (2023). Hàng tồn kho là gì? Phân loại và quản lý hàng tồn kho hiệu quả. https://amis.misa.vn/30882/hang-ton-kho/
| Ngày nhận bài: 23/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/2/2026; Ngày duyệt đăng: 25/2/2026 |
Các tin khác
Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh
Nhận thức về cam kết ESG và chất lượng thông tin kế toán: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Kế toán hệ sinh thái: Tổng quan lý thuyết, phương pháp đo lường và ứng dụng thực tiễn
Phát triển kế toán xanh ở Việt Nam: Xu hướng và giải pháp
Những nhân tố tác động đến hành vi gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất thuộc khu công nghiệp TP. Hải Phòng
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần KTG Electric
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tích hợp chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế trong chương trình đào tạo kế toán tại các trường đại học
Các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất ở TP. Hồ Chí Minh
Ứng dụng Định luật Benford trong kế toán điều tra nhằm nhận diện bất thường trong báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam