Nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn phục hồi và chuyển dịch cơ cấu: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi 16:07 | 29/09/2026
Nguồn nhân lực Việt Nam đang phục hồi và chuyển dịch mạnh sau đại dịch COVID-19, song vẫn tồn tại những hạn chế về chất lượng đào tạo, việc làm phi chính thức, thất nghiệp thanh niên và chênh lệch thu nhập. Nghiên cứu phân tích những thay đổi giai đoạn 2019-2026, qua đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và việc làm.

NCS. Lê Bá Kiêm

Công ty Cổ phần Tư vấn Tân Thành Đạt

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Năm 2021, sau đại dịch COVID-19, số lao động Việt Nam có việc làm giảm xuống còn 49,07 triệu người. Năm 2025, thị trường lao động đã phục hồi vững chắc, đạt 52,475 triệu người và tiếp tục tăng lên 52,7 triệu người trong quý II/2026. Dựa trên dữ liệu của Cục Thống kê giai đoạn 2019-2026, nghiên cứu phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, làm rõ xu hướng dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ, đồng thời chỉ ra những thách thức nội tại về chất lượng đào tạo, tỷ lệ lao động phi chính thức, việc làm thanh niên và khoảng cách thu nhập theo giới, vùng miền. Qua đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn tới.

Từ khoá: Nguồn nhân lực, thị trường lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động, chất lượng lao động

Abstract

Human resources are one of the key determinants of productivity, competitiveness, and the quality of economic growth. In 2021, following the COVID-19 pandemic, the number of employed workers in Viet Nam declined to 49.07 million. By 2025, the labor market had recovered strongly, reaching 52.475 million employed workers, and continued to increase to 52.7 million in the second quarter of 2026. Based on data from the Statistics Office for the 2019-2026 period, this study analyzes the current state of structural shifts and human resource quality in Viet Nam, highlighting the trend of labor movement from agriculture to industry and services, while identifying persistent challenges related to training quality, the informal employment rate, youth employment, and income gaps by gender and region. On this basis, the study proposes solutions to improve the quality of human resources in the coming period.

Keywords: Human resources, labor market, labor structural transformation, labor quality

GIỚI THIỆU

Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Đối với Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, được xác định là nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 (Kinhtetrunguong, 2023). Trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp 4.0, chất lượng nguồn nhân lực càng có ý nghĩa đối với năng suất lao động và khả năng tiếp nhận công nghệ.

Đại dịch COVID-19 giai đoạn 2020-2021 gây ra những biến động lớn đối với thị trường lao động Việt Nam. Từ năm 2022, thị trường lao động từng bước phục hồi và tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; đồng thời, tỷ lệ lao động qua đào tạo và thu nhập bình quân của người lao động từng bước được cải thiện (Cục Thống kê, 2026a, 2026b). Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn những hạn chế, thể hiện ở tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ còn thấp, việc làm phi chính thức phổ biến, thất nghiệp thanh niên và chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động còn đáng kể.

Trên cơ sở dữ liệu thống kê giai đoạn 2019-2026, nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong chu kỳ phục hồi và chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực Việt Nam thông qua sự thay đổi về quy mô việc làm, cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế, nghề nghiệp và vị thế việc làm; đồng thời nhận diện những điểm nghẽn về chất lượng đào tạo, việc làm phi chính thức, việc làm thanh niên và chênh lệch thu nhập. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện chất lượng việc làm trong giai đoạn tới.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Nghiên cứu dựa trên nền tảng Lý thuyết vốn con người của Schultz (1961) và Becker (1964), theo đó giáo dục, đào tạo và kỹ năng nghề nghiệp được xem là những hình thức đầu tư góp phần nâng cao năng suất, thu nhập của người lao động và năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ được sử dụng như một chỉ báo quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, bên cạnh các chỉ tiêu về quy mô lao động.

Ở cấp độ vĩ mô, Mô hình tăng trưởng của Solow (1956) nhấn mạnh phần dư là phần tăng trưởng không giải thích được bởi vốn vật chất và lao động thuần túy - phần lớn bắt nguồn từ năng suất các nhân tố tổng hợp mà chất lượng nguồn nhân lực là cấu phần cốt lõi. Trong khi Mô hình kinh tế nhị nguyên của Lewis (1954) mô tả phát triển như quá trình dịch chuyển lao động dư thừa từ nông nghiệp năng suất thấp sang công nghiệp, dịch vụ năng suất cao hơn - khung phân tích phù hợp để lý giải chuyển dịch cơ cấu lao động giữa 3 khu vực kinh tế Việt Nam.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng Khung việc làm bền vững của ILO (1999) để xem xét chất lượng việc làm gắn với tính chính thức, an sinh xã hội và việc làm thanh niên - những khía cạnh mà chỉ tiêu về số lượng việc làm chưa phản ánh đầy đủ. Đồng thời, định hướng lấy con người làm trung tâm, chủ thể và nguồn lực quan trọng của phát triển trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 (Kinhtetrunguong.vn, 2023) được sử dụng làm cơ sở chính sách để đối chiếu với thực trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh nhằm tổng hợp, phân tích sự thay đổi về quy mô, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam theo thời gian.

Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu là dữ liệu thứ cấp do cơ quan thống kê Việt Nam công bố, bao gồm Niên giám Thống kê Việt Nam các năm 2023 và 2025 với các chỉ tiêu về lao động có việc làm phân theo ngành kinh tế, nghề nghiệp và vị thế việc làm; Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2026. Phạm vi dữ liệu từ năm 2019 đến hết quý II/2026, qua đó phản ánh quá trình suy giảm của thị trường lao động do đại dịch COVID-19, giai đoạn phục hồi và xu hướng chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực Việt Nam.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2019-2026

Đại dịch COVID-19 tác động mạnh đến thị trường lao động Việt Nam, làm số lao động có việc làm giảm từ 54,66 triệu người năm 2019 xuống 49,07 triệu người năm 2021, tương đương giảm khoảng 5,6 triệu người (Cục Thống kê, 2024, 2026a). Từ năm 2022, thị trường lao động từng bước phục hồi, số lao động có việc làm đạt 52,475 triệu người năm 2025 và 52,7 triệu người trong quý II/2026. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, số lao động có việc làm đạt 52,6 triệu người, tăng 672.500 người so với cùng kỳ; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53,7 triệu người, tăng 690.700 người (Cục Thống kê, 2026b). Bảng thể hiện sự thay đổi cơ cấu lao động giữa 3 khu vực kinh tế giai đoạn 2019-2025.

Bảng: Cơ cấu lao động có việc làm theo khu vực kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2019-2025

Chỉ tiêu

2019

2020

2021

2022

2023

2024

2025

Tổng số lao động có việc làm (nghìn người)

54.659,2

53.609,6

49.072,0

50.604,7

51.287,0

51.860,3

52.475,0

Nông, lâm nghiệp và thủy sản (%)

34,5

33,1

29,1

27,5

26,9

26,4

25,6

Công nghiệp và xây dựng (%)

30,1

30,8

33,1

33,5

33,5

33,5

33,5

Dịch vụ (%)

35,4

36,1

37,8

39,0

39,6

40,2

40,8

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Niên giám Thống kê Việt Nam giai đoạn 2019-2025

Số liệu tại Bảng cho thấy xu hướng dịch chuyển cơ cấu rõ nét và bền vững theo đúng quỹ đạo của mô hình kinh tế nhị nguyên: tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm liên tục từ 34,5% năm 2019 xuống còn 25,6% năm 2025, trong khi tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng từ 35,4% lên 40,8% và khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 30,1% lên 33,5%. Đáng chú ý, năm 2021 đáy của đại dịch lại là năm tỷ trọng nông nghiệp giảm mạnh nhất trong 1 năm (từ 33,1% xuống 29,1%), phản ánh việc khu vực dịch vụ và công nghiệp bị co hẹp mạnh hơn do giãn cách xã hội, trong khi nông nghiệp đóng vai trò vùng đệm hấp thụ lao động mất việc quay về nông thôn.

Xu hướng chuyển dịch này tiếp tục được duy trì trong nửa đầu năm 2026, khi khu vực dịch vụ thu hút lực lượng lao động lớn nhất với 40,9% tổng số việc làm (khoảng 21,6 triệu người), theo sau là công nghiệp và xây dựng với 33,9% (khoảng 17,8 triệu người); đặc biệt, các ngành kinh tế số lõi đã thu hút thêm 1,5 triệu lao động chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, cho thấy động lực chuyển dịch cơ cấu mới đến từ quá trình số hóa nền kinh tế (B.S, 2026).

Quá trình chuyển dịch vẫn tồn tại một khu vực phi chính thức mở rộng đáng lưu ý: 6 tháng đầu năm 2026, cả nước vẫn còn hơn 4 triệu lao động làm công việc tự sản, tự tiêu (tăng 197.800 người so với cùng kỳ), trong đó lao động nữ chiếm 65,8% và lao động khu vực nông thôn chiếm tới 89,6% (Cục Thống kê, 2026b). Những kết quả này phản ánh, một bộ phận lao động nông thôn, chủ yếu là nữ giới, chưa thực sự tham gia vào thị trường lao động chính thức mà vẫn gắn với sản xuất tự cấp, tự túc quy mô hộ gia đình.

Chất lượng và cơ cấu việc làm

Cùng với chuyển dịch giữa các khu vực kinh tế, cơ cấu nghề nghiệp và vị thế việc làm cũng có những thay đổi đáng chú ý. Tỷ trọng lao động làm nghề giản đơn giảm từ 33,6% năm 2020 xuống 25,2% năm 2025, trong khi nhóm kỹ năng trung bình gồm nhân viên, dịch vụ - bán hàng, lao động kỹ thuật nông nghiệp, thợ thủ công và thợ vận hành máy móc tăng từ 54,2% lên 63,3%. Tuy nhiên, tỷ trọng nhóm kỹ năng cao, gồm lãnh đạo, quản lý và lao động chuyên môn kỹ thuật bậc cao, bậc trung, giảm nhẹ từ 12,3% xuống 11,5%. Điều này cho thấy sự cải thiện cơ cấu nghề nghiệp chủ yếu tập trung ở nhóm kỹ năng trung bình, trong khi tỷ trọng lao động kỹ năng cao chưa tăng tương xứng.

Về vị thế việc làm, tỷ trọng lao động làm công ăn lương tăng từ 48,4% năm 2020 lên 54,8% năm 2025, cho thấy quan hệ lao động làm công hưởng lương ngày càng phổ biến. Trong khi đó, số chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh giảm từ 1.449,6 nghìn người năm 2020 xuống 701,2 nghìn người năm 2025, tương đương giảm 51,6%. Đây là biến động đáng lưu ý, song số liệu thống kê mô tả chưa đủ cơ sở để xác định nguyên nhân cụ thể của sự thay đổi này.

Về chất lượng đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý II/2026 đạt 29,8%; tính chung 6 tháng đầu năm đạt 29,7%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (Cục Thống kê, 2026b). Mặc dù có cải thiện, tỷ lệ này cho thấy phần lớn lực lượng lao động vẫn chưa thuộc nhóm lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ.

Thu nhập bình quân của người lao động 6 tháng đầu năm 2026 đạt 9 triệu đồng/tháng, tăng 717.000 đồng so với cùng kỳ năm 2025; trong đó thu nhập của lao động nam đạt 10,1 triệu đồng, cao gấp khoảng 1,3 lần lao động nữ (7,8 triệu đồng), thu nhập lao động thành thị đạt 10,6 triệu đồng, cao gấp khoảng 1,3 lần lao động nông thôn (7,9 triệu đồng) (Thúy Hiền, 2026; B.S, 2026), cho thấy khoảng cách thu nhập theo giới và theo vùng vẫn tồn tại dai dẳng dù thị trường lao động đang trên đà phục hồi.

Những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay

Quá trình phục hồi và chuyển dịch cơ cấu lao động cho thấy những kết quả tích cực, nhưng đồng thời bộc lộ một số hạn chế mang tính cấu trúc cần được giải quyết trong giai đoạn tới.

Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực chưa cải thiện tương xứng với sự phục hồi về quy mô việc làm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,7% trong 6 tháng đầu năm 2026, trong khi nhóm kỹ năng cao chỉ chiếm khoảng 11,5% tổng số lao động có việc làm và giảm nhẹ so với năm 2020. Điều này cho thấy quá trình nâng cao chất lượng lao động, đặc biệt ở nhóm nhân lực chuyên môn và kỹ thuật trình độ cao, còn chậm.

Thứ hai, lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng cao, khoảng 62% tổng số lao động có việc làm (Thúy Hiền, 2026). Bên cạnh đó, hơn 4 triệu lao động làm công việc tự sản, tự tiêu tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn và lao động nữ, cho thấy một bộ phận đáng kể người lao động vẫn ở vị thế việc làm dễ tổn thương và khả năng tiếp cận an sinh xã hội còn hạn chế.

Thứ ba, việc làm thanh niên tiếp tục là một điểm nghẽn. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15-24 tuổi trong 6 tháng đầu năm 2026 là 8,77%, cao gần 4 lần tỷ lệ thất nghiệp chung; khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 10,0% tổng số thanh niên (Cục Thống kê, 2026b; Phan Hoạt, 2026). Đáng chú ý, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên ở khu vực nông thôn tăng 1,27 điểm phần trăm so với cùng kỳ, trong khi khu vực thành thị giảm 0,43 điểm phần trăm, cho thấy áp lực việc làm đối với thanh niên nông thôn có xu hướng gia tăng.

Thứ tư, chênh lệch thu nhập theo giới và khu vực cư trú vẫn đáng kể. Thu nhập bình quân của lao động nam cao khoảng 1,3 lần lao động nữ, trong khi thu nhập của lao động thành thị cao khoảng 1,3 lần lao động nông thôn. Thực trạng này đặt ra yêu cầu tăng cường cơ hội tiếp cận đào tạo, việc làm có năng suất và thu nhập cao đối với lao động nữ và lao động khu vực nông thôn.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Kết luận

Nghiên cứu chỉ ra rằng, nguồn nhân lực Việt Nam đã phục hồi sau thời điểm chịu ảnh hưởng bởi dịchCOVID-19 và đang bước vào giai đoạn chuyển dịch cơ cấu tích cực. Điều này thể hiện qua sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế số, cùng với xu hướng chính thức hóa quan hệ lao động và cải thiện dần tỷ lệ lao động qua đào tạo.

Tuy nhiên, thực trạng nguồn nhân lực cũng cho thấy những nguy cơ mang tính cấu trúc: Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp và nhóm kỹ năng cao chưa tăng tương xứng với quy mô lực lượng lao động; Thứ hai, tỷ lệ lao động phi chính thức và lao động tự sản, tự tiêu vẫn ở mức cao, tập trung ở khu vực nông thôn và lao động nữ; Thứ ba, tình trạng thất nghiệp và NEET của thanh niên còn nghiêm trọng và có xu hướng dịch chuyển về khu vực nông thôn; Thứ tư, khoảng cách thu nhập theo giới và vùng miền vẫn chưa được thu hẹp đáng kể.

Hàm ý chính sách

Nhằm phát triển chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn 2026-2031, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm hàm ý chính sách như sau:

Một là, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với chuẩn kỹ năng số và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Cần khẩn trương ban hành và triển khai Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2030, tầm nhìn 2050 theo tinh thần Nghị quyết giám sát chuyên đề của Quốc hội (Vietnam+, 2025), trong đó ưu tiên nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ và mở rộng đào tạo lại, đào tạo nâng cao cho lao động nhóm kỹ năng trung bình để dịch chuyển dần lên nhóm kỹ năng cao.

Hai là, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế số. Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề cho lao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp có năng suất cao hơn, đồng thời đầu tư hạ tầng số và kỹ năng số cho lao động nông thôn để tận dụng dư địa tăng trưởng từ các ngành kinh tế số lõi.

Ba là, chính thức hóa khu vực lao động phi chính thức và mở rộng an sinh xã hội. Rà soát, đơn giản hóa thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, có chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm cho lao động làm công việc tự sản, tự tiêu và lao động hộ gia đình, đặc biệt là lao động nữ khu vực nông thôn - nhóm hiện chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khu vực phi chính thức.

Bốn là, hoàn thiện chính sách việc làm và hướng nghiệp cho thanh niên, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Tăng cường kết nối cung - cầu lao động, tư vấn hướng nghiệp và hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ NEET, ưu tiên các địa bàn nông thôn nơi áp lực việc làm thanh niên đang gia tăng nhanh hơn khu vực thành thị.

Năm là, thu hẹp khoảng cách thu nhập theo giới và vùng miền. Thúc đẩy bình đẳng cơ hội tiếp cận đào tạo và việc làm chất lượng cao cho lao động nữ, đầu tư phát triển việc làm phi nông nghiệp tại chỗ ở khu vực nông thôn nhằm giảm chênh lệch năng suất và thu nhập so với khu vực thành thị, qua đó phát huy đầy đủ vai trò của nguồn nhân lực với tư cách là nguồn lực quan trọng nhất của quá trình phát triển đất nước.

Tài liệu tham khảo:

1. B.S. (2026). Quý II/2026: Hơn 53,8 triệu người tham gia lực lượng lao động. https://thanhtra.com.vn/an-sinh-AFA9C5670/quy-ii2026-hon-538-trieu-nguoi-tham-gia-luc-luong-lao-dong-818acc92a.html

2. Becker, G. S. (1964). Human capital: A theoretical and empirical analysis, with special reference to education. University of Chicago Press.

3. Cục Thống kê (2024). Niên giám Thống kê Việt Nam 2023. Nxb Thống kê.

4. Cục Thống kê (2026a). Niên giám Thống kê Việt Nam 2025. Nxb Thống kê.

5. Cục Thống kê (2026b). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2026. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/07/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-ii-va-6-thang-dau-nam-2026/

6. ILO (1999). Decent work: Report of the Director-General. International Labour Conference, 87th Session. International Labour Organization.

7. Kinhtetrunguong.vn (2023). Để Việt Nam trở thành nước phát triển năm 2045. https://kinhtetrunguong.vn/web/guest/nghien-cuu-trao-doi/de-viet-nam-tro-thanh-nuoc-phat-trien-nam-2045.html

8. Lewis, W. A. (1954). Economic development with unlimited supplies of labour. The Manchester School, 22(2), 139-191. https://doi.org/10.1111/j.1467-9957.1954.tb00021.x

9. Phan Hoạt (2026). Giải pháp nào để 1,4 triệu người ở độ tuổi lao động thoát khỏi tình trạng ba không? https://cand.vn/giai-phap-nao-14-trieu-nguoi-o-do-tuoi-lao-dong-thoat-khoi-tinh-trang-ba-khong-post816535.html

10. Schultz, T. W. (1961). Investment in human capital. The American Economic Review, 51(1), 1-17.

11. Solow, R. M. (1956). A contribution to the theory of economic growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65-94. https://doi.org/10.2307/1884513

12. Thúy Hiền (2026). Thị trường lao động khởi sắc, gần 53 triệu người có việc làm. https://baotintuc.vn/kinh-te/thi-truong-lao-dong-khoi-sac-gan-53-trieu-nguoi-co-viec-lam-20260703173858369.htm

13. Vietnam+ (2025). Khẩn trương ban hành Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://www.vietnamplus.vn/khan-truong-ban-hanh-chien-luoc-phat-trien-nguon-nhan-luc-den-nam-2030-post1060219.vnp

Ngày nhận bài: 5/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 17/9/2026; Ngày duyệt đăng: 28/9/2026

Các tin khác

Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản

Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh và xu hướng phát triển bền vững, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa quan trọng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Tiền gửi của khách hàng cá nhân là nguồn vốn quan trọng đối với ngân hàng thương mại, đồng thời đáp ứng nhu cầu bảo toàn và tích lũy tài sản của người gửi tiền. Khi lãi suất và sản phẩm có thể được điều chỉnh tương đối nhanh, chất lượng dịch vụ trở thành một tiêu chí quan trọng trong lựa chọn ngân hàng.
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Quyết định về cấu trúc vốn phản ánh sự lựa chọn của doanh nghiệp giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm tài trợ cho hoạt động kinh doanh và các cơ hội tăng trưởng. Việc sử dụng nợ tạo ra lợi ích từ lá chắn thuế và có thể góp phần hạn chế chi phí đại diện
Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh

Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh

Trong quảng bá du lịch di sản tại Quảng Ninh, câu chuyện trên nền tảng số có thể gia tăng sức hấp dẫn và khả năng thuyết phục của thông điệp điểm đến. Nghiên cứu làm rõ tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện đến ý định du lịch di sản, đồng thời xem xét vai trò trung gian của mức độ thuyết phục cảm nhận.
Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Nhật Bản tiếp tục là một trong những đối tác đầu tư nước ngoài chiến lược hàng đầu của Việt Nam, với dòng vốn đang dịch chuyển mạnh mẽ từ sản xuất công nghiệp truyền thống sang thị trường tiêu dùng nội địa và hạ tầng bán lẻ.
Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam

Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam

Thương mại điện tử Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng và trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế số.
Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Năng suất lao động là nền tảng quan trọng của tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc đánh giá thực trạng năng suất lao động giai đoạn 2020-2024 là cơ sở để đề xuất các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gia tăng, chính sách đầu tư tại nhiều quốc gia đang chuyển từ nhấn mạnh quy mô dòng vốn sang chú trọng chất lượng và phát triển bền vững.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, logistics đã trở thành ngành dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tại Việt Nam, ngành logistics đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Trong các đội dự án, nơi yêu cầu cao về tốc độ, phối hợp đa chức năng và khả năng thích ứng, khác biệt về giá trị nghề nghiệp, kỳ vọng và cách thức giao tiếp giữa Gen Z với các thế hệ đi trước có thể tạo ra khoảng cách trong lãnh đạo và phối hợp.