Liên kết vùng trong thu hút FDI ở Đông Nam Bộ sau sắp xếp đơn vị hành chính

Nghiên cứu - Trao đổi 17:11 | 29/10/2026
Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng FDI, chú trọng năng suất, chuyển giao tri thức, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, phát triển kỹ năng và chuyển đổi xanh. Vì vậy, liên kết vùng Đông Nam Bộ cần chuyển từ lợi thế địa điểm sang lợi thế hệ sinh thái.

TS. Nguyễn Thị Oanh

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trong bối cảnh không gian kinh tế các địa phương vùng Đông Nam Bộ (TP. Hồ Chí Minh, TP. Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh) được tái cấu trúc, nghiên cứu phân tích những chuyển biến tích cực về vị thế, chất lượng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hạ tầng mạng lưới. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn tồn tại những điểm nghẽn chủ yếu như sự phân công chức năng chưa rõ nét giữa các địa phương, hạ tầng logistics chưa liền mạch, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn hạn chế, cùng với thể chế điều phối chưa bắt kịp yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế liên kết vùng nhằm tối ưu hóa hiệu quả thu hút và lan tỏa dòng vốn FDI, bao gồm: phân công theo chuỗi giá trị, tối ưu hóa hạ tầng logistics, lấy doanh nghiệp trong nước làm trung tâm kết nối, phát triển nguồn nhân lực gắn với bản đồ kỹ năng vùng và nâng cấp thể chế quản trị dựa trên kết quả phát triển.

Từ khóa: Liên kết vùng, FDI, Đông Nam Bộ, sắp xếp đơn vị hành chính

Abstract

Against the backdrop of the restructuring of the economic space across localities in the Southeast region of Viet Nam (Ho Chi Minh City, Dong Nai City, and Tay Ninh Province), this study analyzes positive changes in regional positioning, the quality of foreign direct investment (FDI) inflows, and network infrastructure. However, several major bottlenecks remain, including an unclear division of functions among localities, fragmented logistics infrastructure, limited linkages between FDI enterprises and domestic firms, and coordination institutions that have not kept pace with practical requirements. Accordingly, the study proposes solutions to improve regional cooperation mechanisms and optimize the effectiveness of FDI attraction and spillover effects. These include assigning roles based on value chains, optimizing logistics infrastructure, placing domestic enterprises at the center of connectivity, developing human resources in alignment with a regional skills map, and upgrading governance institutions based on development outcomes.

Keywords: Regional cooperation, foreign direct investment (FDI), Southeast region, administrative unit reorganization

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 đã tái cấu trúc không gian kinh tế Đông Nam Bộ. TP. Hồ Chí Minh mới được hình thành từ TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu; Đồng Nai mới từ Đồng Nai và Bình Phước; Tây Ninh mới từ Tây Ninh và Long An. Đến tháng 4/2026, TP. Đồng Nai trực thuộc Trung ương được thành lập trên toàn bộ diện tích và dân số của tỉnh Đồng Nai.

Theo cơ cấu vùng hiện hành, Đông Nam Bộ gồm: TP. Hồ Chí Minh, TP. Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh. Quá trình này không chỉ làm thay đổi địa giới hành chính mà còn tái cấu trúc các không gian kinh tế vốn có quan hệ chặt chẽ. TP. Hồ Chí Minh tích hợp trung tâm tài chính - dịch vụ - công nghệ với trung tâm công nghiệp Bình Dương và cụm cảng biển - công nghiệp - năng lượng Bà Rịa - Vũng Tàu. Đồng Nai kết hợp công nghiệp, Cảng hàng không quốc tế Long Thành với không gian đất đai, công nghiệp và cửa khẩu của Bình Phước. Tây Ninh kết hợp không gian cửa khẩu phía Tây với không gian công nghiệp và cửa ngõ kết nối đồng bằng sông Cửu Long của Long An.

Đối với thu hút FDI, thay đổi này tạo điều kiện giảm chi phí phối hợp trong các chuỗi sản xuất - logistics. Những quan hệ trước đây mang tính liên tỉnh như kết nối sản xuất với cảng Cái Mép - Thị Vải, tiếp cận dịch vụ tài chính tại TP. Hồ Chí Minh hoặc kết nối với khu vực phía Tây có điều kiện được tổ chức thống nhất hơn.

Điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định tăng cường liên kết nội vùng, phát triển đa trung tâm và ưu tiên hành lang Mộc Bài - TP. Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu cùng các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ gắn với Vành đai 3 và Vành đai 4 (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Đây là cơ sở để tổ chức lại không gian FDI theo các hành lang kinh tế thay vì các khu công nghiệp tách biệt.

Năm 2025, cả nước thu hút 38,418 tỷ USD FDI đăng ký. TP. Hồ Chí Minh đạt 7,0897 tỷ USD, Đồng Nai đạt 4,2288 tỷ USD và Tây Ninh đạt 2,9205 tỷ USD. Tổng cộng 3 địa phương thu hút khoảng 14,24 tỷ USD, tương đương 37,1% tổng vốn FDI đăng ký của cả nước (Bộ Tài chính, 2025). Tuy nhiên, không thể đồng nhất việc sắp xếp các địa phương với gia tăng FDI. Quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào thị trường, chuỗi cung ứng, hạ tầng, chính sách quốc gia và chiến lược của tập đoàn. Ý nghĩa quan trọng hơn của sắp xếp đơn vị hành chính là mở rộng khả năng tổ chức lại nguồn lực để tạo ra một hệ sinh thái đầu tư có quy mô và tính bổ trợ lớn hơn.

Theo OECD (2026), Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng FDI, chú trọng năng suất, chuyển giao tri thức, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, phát triển kỹ năng và chuyển đổi xanh. Vì vậy, liên kết vùng Đông Nam Bộ cần chuyển từ lợi thế địa điểm sang lợi thế hệ sinh thái. Nếu tiếp tục thu hút đầu tư theo từng địa phương, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh có thể cùng ưu tiên các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), logistics, trung tâm dữ liệu và công nghệ cao, dẫn tới cạnh tranh nội vùng về đất đai, nhân lực và hạ tầng. Ngược lại, nếu coi Đông Nam Bộ là một không gian đầu tư thống nhất, việc lựa chọn và bố trí dự án cần dựa trên lợi thế so sánh, các mắt xích còn thiếu và khả năng đóng góp cho chuỗi giá trị toàn Vùng.

THỰC TRẠNG LIÊN KẾT VÙNG TRONG THU HÚT FDI SAU XẮP SẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

Những chuyển biến tích cực

Vị thế của Đông Nam Bộ trong thu hút FDI tiếp tục được củng cố. Đông Nam Bộ có khoảng 23.000 dự án FDI, chiếm 55,4% tổng số dự án FDI cả nước, với tổng vốn trên 205 tỷ USD, gần 42% tổng vốn fdi tại Việt Nam. Vùng đồng thời tập trung hơn 381.000 doanh nghiệp và trên 135 tỷ USD xuất khẩu. Năm 2025, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh đều nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút FDI (Bộ Tài chính, 2025). Sáu tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút hơn 6,8 tỷ USD FDI; Tây Ninh có 70 dự án FDI mới, tổng vốn đăng ký mới và điều chỉnh hơn 2,2 tỷ USD; tại các khu công nghiệp, khu kinh tế Đồng Nai, FDI cấp mới và điều chỉnh đạt hơn 1,24 tỷ USD, tương đương 82,63% kế hoạch năm. Những kết quả này cho thấy sức hấp dẫn của không gian Đông Nam Bộ tiếp tục được duy trì sau quá trình sắp xếp (Anh Đức, 2026).

Cơ cấu FDI bắt đầu chuyển sang các lĩnh vực có chất lượng và khả năng tham gia chuỗi giá trị cao hơn. Theo Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế TP. Đồng Nai (2026), trong 6 tháng đầu năm 2026, 14/41 dự án FDI mới thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, chiếm 34,15% số dự án nhưng đóng góp 65,93% tổng vốn đăng ký mới, tương ứng 427,99 triệu USD. Đồng thời, thu hút được 8 dự án có vốn đầu tư tương đối lớn (từ 10 triệu USD trở lên); vốn đầu tư đăng ký bình quân cho dự án là 15,83 triệu USD/dự án. Các dự án thu hút mới chủ yếu thuộc các ngành sản xuất linh kiện điện, điện tử; cơ khí chế tạo; sản xuất, chế biến thực phẩm; sản xuất sản phẩm từ nhựa, kim loại đúc sẵn, sản xuất cơ khí…; không có dự án thuộc danh mục ngành nghề có yếu tố gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng lao động; đảm bảo các tiêu chí về công nghệ tiên tiến; phù hợp với chủ trương thu hút đầu tư của Tỉnh. Điều này cho thấy, xu hướng ưu tiên những dự án có khả năng bổ sung các mắt xích còn thiếu trong chuỗi cung ứng.

Tại TP. Hồ Chí Minh, định hướng thu hút FDI tập trung vào công nghệ cao, tài chính, AI, bán dẫn, logistics, nghiên cứu và phát triển (R&D). Thành phố hiện có hơn 20.000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 142 tỷ USD. Việc mở rộng Khu Công nghệ cao thêm 194,84 ha trong năm 2026 cũng thể hiện định hướng chuyển từ mặt bằng công nghiệp truyền thống sang các hoạt động có giá trị gia tăng và hàm lượng tri thức cao.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Tây Ninh cấp mới 70 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn khoảng 36.600 tỷ đồng và 70 dự án FDI với tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh hơn 2,2 tỷ USD. Lũy kế đến nay, Tây Ninh có hơn 3.100 dự án đầu tư trong nước và hơn 2.000 dự án FDI còn hiệu lực. Kết quả này cho thấy, sức hấp dẫn ngày càng lớn của địa phương trong bối cảnh dòng vốn đầu tư quốc tế đang dịch chuyển theo hướng ưu tiên những địa bàn có hạ tầng đồng bộ, quỹ đất sạch và môi trường đầu tư ổn định. Lợi thế của Tây Ninh không chỉ nằm ở vị trí cửa ngõ kết nối Việt Nam với Campuchia và các nước ASEAN, mà còn ở khả năng kết nối trực tiếp với hệ thống cảng biển, sân bay và trung tâm logistics của vùng Đông Nam Bộ thông qua các tuyến cao tốc và vành đai đang được đầu tư. Theo các chuyên gia, khi hạ tầng giao thông hoàn thiện, Tây Ninh sẽ không chỉ là điểm đến của các dự án sản xuất mà còn trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa, logistics và dịch vụ của khu vực biên giới phía Tây Nam, góp phần hình thành chuỗi cung ứng liên kết với TP. Hồ Chí Minh và TP. Đồng Nai (Anh Đức, 2026).

Hạ tầng liên kết vùng ngày càng được tổ chức theo logic mạng lưới. Điều chỉnh Quy hoạch vùng năm 2026 đặt các dự án giao thông trong mối quan hệ với cảng biển, sân bay, khu công nghiệp và trung tâm đô thị. Cảng hàng không quốc tế Long Thành được định hướng trở thành đầu mối hạ tầng phục vụ hệ sinh thái kinh tế toàn vùng, gắn với các tuyến đường kết nối và trung tâm logistics liên vùng. Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh cũng được triển khai theo cơ chế phối hợp giữa TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh. Cùng với Cái Mép - Thị Vải và cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài, các dự án này tạo nền tảng kết nối các cực sản xuất phía Đông, trung tâm dịch vụ - tài chính và cửa ngõ phía Tây. Dự án cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài cùng hệ thống kết nối với Vành đai 3 và Vành đai 4 được kỳ vọng tạo bước đột phá về hạ tầng, rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa, giảm chi phí logistics và mở rộng không gian phát triển cho cả Vùng.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh không gian phát triển của vùng đang được mở rộng, liên kết giữa TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh sẽ tạo nên một cực tăng trưởng mới của Đông Nam Bộ. Mỗi địa phương phát huy lợi thế riêng nhưng cùng tham gia chuỗi giá trị thống nhất, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tăng sức cạnh tranh của toàn Vùng.

Cơ chế quy hoạch và điều phối đang thích ứng với cấu trúc hành chính mới. Việc xác lập Đông Nam Bộ gồm TP. Hồ Chí Minh, TP. Đồng Nai và Tây Ninh tạo cơ sở để tổ chức các cực tăng trưởng và dòng vốn FDI trên cùng một không gian phát triển. Vùng được định hướng trở thành trung tâm khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và tài chính quốc tế. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Đông Nam Bộ có điều kiện chuyển từ liên kết chủ yếu dựa trên vị trí địa lý sang liên kết dựa trên chức năng kinh tế. Giá trị quan trọng nhất không phải là xác định việc hợp nhất làm tăng bao nhiêu vốn FDI, mà là tạo điều kiện tích hợp những lợi thế trước đây còn phân tán và tổ chức dòng vốn theo chuỗi giá trị.

Một số điểm nghẽn chủ yếu

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, liên kết vùng trong thu hút và khai thác FDI vẫn tồn tại một số điểm nghẽn. Cụ thể:

Thứ nhất, phân công chức năng trong thu hút FDI chưa rõ nét. TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh đều hướng tới các ngành có giá trị gia tăng cao như bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu, logistics, công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, vẫn chưa có chiến lược cấp vùng, có thể dẫn đến sự trùng lặp và cạnh tranh về đất đai, nhân lực, hạ tầng và ưu đãi đầu tư.

Thứ hai, hạ tầng liên kết chưa bảo đảm tính liền mạch của mạng lưới logistics. Đông Nam Bộ có lợi thế về khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và cửa khẩu nhưng vẫn tồn tại tình trạng ùn tắc, thiếu kết nối giữa khu công nghiệp và logistics. Đối với nhà đầu tư FDI, vấn đề quan trọng không chỉ là số lượng tuyến đường mà là thời gian và chi phí vận chuyển từ nhà máy tới cảng, sân bay, cửa khẩu, cũng như độ ổn định của điện, nước và dữ liệu.

Thứ ba, liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Theo OECD (2026), khoảng 61% đầu vào của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam được mua trong nước trong giai đoạn 2016-2020; khoảng 40% đầu vào của các chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài năm 2019 vẫn phải nhập khẩu. Chỉ khoảng 4% quan hệ hợp tác được ghi nhận giữa doanh nghiệp trong nước và chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài. Ngân hàng Thế giới cũng cho biết, khu vực FDI chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu Việt Nam, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023. Đối với Đông Nam Bộ, cơ sở dữ liệu nhà cung cấp, chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ và kết nối doanh nghiệp chưa được tổ chức đầy đủ trên quy mô vùng. Chất lượng nhân lực cũng là vấn đề đáng lưu ý khi tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2024 mới khoảng 30% (World Bank, 2024).

Thứ tư, thể chế điều phối vùng chưa hoàn toàn theo kịp phạm vi tạo giá trị của FDI. Các quyết định về xúc tiến đầu tư, khu công nghiệp, lựa chọn dự án và đánh giá hiệu quả FDI vẫn chủ yếu gắn với từng địa phương. Trong khi đó, một dự án FDI có thể đặt nhà máy ở Đồng Nai, sử dụng cảng và dịch vụ tài chính tại TP. Hồ Chí Minh, đồng thời sử dụng nhà cung cấp từ Tây Ninh. Điều này cho thấy, Đông Nam Bộ đã giảm phân mảnh về hành chính nhưng vẫn cần tiếp tục khắc phục sự phân mảnh về chiến lược đầu tư, hạ tầng, chuỗi cung ứng, nguồn nhân lực và cơ chế điều phối.

ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CƠ CHẾ LIÊN KẾT VÙNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT FDI Ở ĐÔNG NAM BỘ SAU SẮP XẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH

Một là, hình thành cơ chế phân công và phối hợp thu hút FDI trên cơ sở chuỗi giá trị vùng. Cần xây dựng khung định hướng FDI chung, xác định lĩnh vực ưu tiên, các mắt xích còn thiếu và chức năng tương đối của từng không gian dựa trên lợi thế so sánh. Đồng thời, xây dựng danh mục dự án FDI chiến lược cấp vùng, ưu tiên dự án có khả năng bổ sung chuỗi cung ứng, phát triển nhà cung cấp, nâng cao năng lực công nghệ và tạo hiệu ứng lan tỏa.

Hai là, hoàn thiện cơ chế đầu tư và vận hành hạ tầng theo chuỗi logistics vùng. Cần chuyển từ phối hợp từng dự án sang quản trị chuỗi vận tải hoàn chỉnh từ khu công nghiệp đến cảng, sân bay và cửa khẩu. Xây dựng hệ thống chỉ số logistics vùng, tập trung đo thời gian và chi phí door-to-port (vận chuyển từ kho người gửi đến cảng đích), door-to-airport (vận chuyển từ kho người gửi đến sân bay nước đến) và door-to-border (vận chuyển từ kho người gửi đến cửa khẩu/biên giới nước xuất hoặc nhập). Đồng thời, cần điều phối điện, nước, dữ liệu, môi trường và năng lượng xanh trên quy mô vùng. Đối với các ngành như bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu và công nghệ cao, những yếu tố này ngày càng quan trọng không kém đất công nghiệp.

Ba là, lấy doanh nghiệp trong nước và mạng lưới nhà cung cấp vùng làm trọng tâm của liên kết FDI. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung cấp chung của vùng, phân loại theo sản phẩm, năng lực công nghệ, chứng nhận và công suất. Các tập đoàn FDI cần được khuyến khích công bố nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và kế hoạch nội địa hóa. Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp cần chuyển từ đào tạo đại trà sang nâng cấp theo nhu cầu chuỗi, tập trung vào công nghệ, kiểm định, tiêu chuẩn, tài chính và quản trị. Mạng lưới nhà cung cấp cũng cần mở rộng sang phần mềm, thiết kế, sở hữu trí tuệ, tài chính, logistics, ESG và R&D.

Bốn là, tổ chức nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo và chính sách ưu đãi FDI theo quy mô vùng. Cần xây dựng bản đồ kỹ năng vùng Đông Nam Bộ, dự báo nhu cầu nhân lực theo từng cụm ngành trong 5-10 năm và phân công tương đối giữa các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm đào tạo. Trong đó, doanh nghiệp FDI cần tham gia trực tiếp vào quá trình xác định kỹ năng, xây dựng chương trình đào tạo, thực hành và tuyển dụng. Chính sách ưu đãi cũng cần chuyển từ ưu đãi dựa trên thu nhập sang hỗ trợ R&D, đào tạo nhân lực và công nghệ xanh, đồng thời gắn ưu đãi với các kết quả đo lường được như chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp.

Năm là, nâng cấp thể chế điều phối từ phối hợp hành chính sang quản trị kết quả phát triển vùng. Hội đồng điều phối vùng cần được hỗ trợ bởi một cơ chế chuyên môn thường trực về đầu tư và chuỗi giá trị, thực hiện các nhiệm vụ như xây dựng dữ liệu đầu tư vùng, danh mục dự án chiến lược, cơ sở dữ liệu nhà cung cấp, bản đồ kỹ năng, theo dõi chỉ số logistics và đánh giá tác động lan tỏa của FDI. Đồng thời, cần đổi mới hệ thống đánh giá hiệu quả FDI. Bên cạnh tổng vốn đăng ký và số dự án, cần bổ sung các chỉ tiêu về vốn thực hiện, giá trị gia tăng, tỷ lệ nội địa hóa, số doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung cấp, R&D, lao động kỹ năng cao, mức độ sử dụng dịch vụ nội vùng, thời gian logistics và hiệu quả sử dụng đất, năng lượng. Có thể từng bước nghiên cứu chỉ tiêu “giá trị FDI giữ lại trong vùng”, phản ánh phần giá trị được chuyển hóa thành tiền lương, thuế, R&D, lợi nhuận của doanh nghiệp cung ứng, dịch vụ và năng lực công nghệ. Khi thước đo chuyển từ “bao nhiêu vốn được đăng ký tại địa phương” sang “bao nhiêu giá trị được tạo ra cho vùng”, động lực chính sách sẽ chuyển từ cạnh tranh giành dự án sang hợp tác nâng cao giá trị của dự án.

Tài liệu tham khảo:

1. Anh Đức (2026). Đông Nam Bộ: Khơi thông động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. https://baochinhphu.vn/dong-nam-bo-khoi-thong-dong-luc-cho-muc-tieu-tang-truong-hai-con-so-102260718 075338907.htm

2. Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế TP. Đồng Nai (2026). Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026. https://dnieza.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx? CatId=100&NewsId=5036&utm

3. Bộ Tài chính (2025). Báo cáo tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài 12 tháng năm 2025.

4. OECD (2026). FDI Qualities Review of Viet Nam: Powering the Next Growth Phase. OECD Publishing, Paris

5. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 615/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

6. World Bank (2024). Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World - Pathways to a High-Income Future. Washington, D.C.

Ngày nhận bài: 6/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/10/2026; Ngày duyệt đăng: 26/10/2026

Các tin khác

Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn

Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn

Độ trễ và sự bất định tại biên giới làm gia tăng chi phí giao dịch, qua đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa. Hiệu quả cải cách cửa khẩu vì thế cần được đánh giá bằng thời gian xử lý và độ ổn định của toàn bộ quá trình vận chuyển, giao nhận, thay vì chỉ dựa vào số lượng thiết bị được đầu tư.
Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á

Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, chính sách tài khóa của một quốc gia không chỉ tạo ra tác động trong phạm vi nội địa mà còn có khả năng ảnh hưởng đến các nền kinh tế khác
Thực trạng ý định ứng dụng logistics xanh trong các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam

Thực trạng ý định ứng dụng logistics xanh trong các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng các cam kết cắt giảm phát thải tại COP26 đã đặt ngành logistics toàn cầu, trong đó có Việt Nam, trước yêu cầu chuyển đổi theo hướng xanh hóa.
Định kiến giới và cơ hội thăng tiến được cảm nhận của lao động nữ trong ngành khách sạn: Vai trò trung gian của nguồn lực từ mạng lưới nghề nghiệp

Định kiến giới và cơ hội thăng tiến được cảm nhận của lao động nữ trong ngành khách sạn: Vai trò trung gian của nguồn lực từ mạng lưới nghề nghiệp

Bài viết xây dựng khung lý thuyết nhằm giải thích mối quan hệ giữa định kiến giới tại nơi làm việc và cơ hội thăng tiến lên vị trí quản lý được cảm nhận của lao động nữ trong ngành khách sạn, đồng thời xem xét khả năng tiếp cận nguồn lực từ mạng lưới nghề nghiệp như một cơ chế trung gian.
Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số

Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số

Sự bùng nổ của tự động hóa, học máy và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình bộ phận kế toán từ vận hành thủ công sang chiến lược số hóa.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post

Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post

Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp logistics trong bối cảnh khối lượng giao dịch gia tăng, chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và yêu cầu về tốc độ, độ chính xác của dịch vụ ngày càng cao.
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa

Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa

Trong kinh tế du lịch, các quần thể di sản văn hóa vừa là tài sản cần bảo tồn, vừa là nguồn lực tạo doanh thu và giá trị cho điểm đến.
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai

Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai

Thực hành Kế toán doanh nghiệp đóng vai trò cốt lõi trong việc trang bị năng lực nghề nghiệp, bao gồm các hợp phần: Tin học, soạn thảo văn bản, Excel, khai báo thuế, phần mềm kế toán và chuỗi chứng từ - sổ - báo cáo.
Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam

Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp xanh và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, quản lý sản xuất giống cây trồng là nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng của ngành trồng trọt.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường đã tạo ra áp lực mạnh mẽ, buộc xu hướng tiêu dùng phải chuyển dịch từ thời trang nhanh sang tiêu dùng xanh và phát triển bền vững nhằm bảo vệ môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG.