Liên kết “4 nhà” trong bối cảnh mới: Khoảng trống cơ chế và yêu cầu tái cấu trúc ở Đồng bằng sông Cửu Long
TS. Nguyễn Văn Sỹ
Học viện Chính trị khu vực IV; Email: [email protected]
Trần Thuỳ Dương
Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị thành phố Cần Thơ; Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong tiến trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, liên kết “4 nhà” giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân không chỉ là một mô hình phối hợp, mà là cấu trúc nền tảng quyết định hiệu quả vận hành của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, sự liên kết này còn nhiều bất cập, thiếu cơ chế ràng buộc và dẫn dắt đủ mạnh, làm cho tri thức khoa học chưa được chuyển hóa kịp thời thành giá trị phát triển. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung làm rõ bản chất, nhận diện những điểm nghẽn mang tính cấu trúc trong liên kết “4 nhà”, đồng thời đề xuất định hướng tái cấu trúc cơ chế vận hành theo hướng thực chất, hiệu quả, gắn với yêu cầu phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh kỷ ngyên mới.
Từ khóa: Liên kết, 4 nhà, đổi mới, sáng tạo, vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Abstract
In the transition toward a growth model driven by science, technology, and innovation, the “four-party linkage” among the State, businesses, scientists, and citizens is not merely a mechanism for coordination but a foundational structure that determines the effectiveness of the innovation ecosystem. In practice, however, this linkage remains constrained by various shortcomings and lacks sufficiently robust mechanisms for institutional enforcement and strategic guidance, thereby hindering the timely translation of scientific knowledge into developmental value. Accordingly, the study aims to clarify the nature of the “four-party linkage,” identify its structural bottlenecks, and propose directions for restructuring its operational mechanisms to enhance the substantive nature and effectiveness of collaboration, in line with the development requirements of the Mekong Delta region in the context of a new era.
Keywords: Linkage, four-party linkage, innovation, creativity, Mekong Delta region
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quyết định trong mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, coi đây là động lực chính của tăng trưởng kinh tế”. Đồng thời, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số như một xu thế tất yếu của thời đại. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vấn đề không nằm ở sự thiếu hụt các chủ thể, mà ở sự thiếu vắng cơ chế liên kết hiệu quả giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Điều này dẫn đến tình trạng tri thức khoa học chưa được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị kinh tế - xã hội. Vấn đề cốt lõi là khoảng trống nằm ở năng lực tổ chức và vận hành liên kết, chứ không phải ở sự hiện diện của các chủ thể.
Liên kết “4 nhà” được xem là một dạng mở rộng của mô hình hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó các chủ thể tương tác thông qua dòng tri thức, nguồn lực tài chính và cơ chế về thể chế. Về bản chất, liên kết này không chỉ là sự phối hợp hành chính, mà là cơ chế chia sẻ lợi ích, rủi ro và trách nhiệm giữa các chủ thể trong quá trình tạo lập và ứng dụng tri thức. Vì vậy, việc phân tích liên kết “4 nhà” trong bối cảnh mới và yêu cầu tái cấu trúc ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là cần thiết.
THỰC TRẠNG LIÊN KẾT “4 NHÀ” Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Nhà nước: Vai trò kiến tạo chưa hoàn chỉnh
Trong hệ sinh thái liên kết 4 nhà (Nhà nước - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp - nhà nông), Nhà nước đóng vai trò là chủ thể kiến tạo, chịu trách nhiệm thiết lập hành lang pháp lý, quy hoạch định hướng và cung cấp “vốn mồi” thông qua các chính sách tài khóa. Mặc dù hệ thống chính sách về khoa học và công nghệ (KH&CN) đã được ban hành tương đối toàn diện, cơ chế vận hành trên thực tế tại vùng ĐBSCL vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống, khiến năng lực kiến tạo chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng.
Thứ nhất, về phân bổ ngân sách và rào cản từ cơ chế tài chính
Động lực cốt lõi để duy trì vai trò kiến tạo của Nhà nước nằm ở tiềm lực đầu tư công cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Tuy nhiên, theo dữ liệu công bố từ Bộ Khoa học và Công nghệ, tổng chi cho KH&CN của Việt Nam hiện nay chỉ dao động trong khoảng 0,5% đến 0,6% GDP. Sự sụt giảm và phân bổ ngân sách hạn hẹp này bộc lộ rõ nét nhất ở quy mô cấp địa phương vùng ĐBSCL qua 3 rào cản tài chính điển hình:
Tỷ lệ chi ngân sách thấp và phân mảnh: Dù Luật KH&CN năm 2013 đặt mục tiêu chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước, thực tế chi sự nghiệp KH&CN tại phần lớn các tỉnh, thành ĐBSCL chỉ chiếm 0,2%-0,5% tổng chi ngân sách địa phương. Nguồn vốn hạn hẹp này tiếp tục bị chia nhỏ cho các đề tài ngắn hạn (1-2 năm), dẫn đến thiếu kinh phí trung và dài hạn cho các chương trình liên kết vùng trọng điểm (như lai tạo giống chống chịu hạn mặn sâu, chế biến sâu nông - thủy sản).
Rào cản thanh quyết toán và cơ chế khoán: Dù Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC và Thông tư số 03/2023/TT-BTC đã mở đường cho cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, việc thực hiện mới dừng ở thù lao chuyên gia. Các chi phí vật tư, khảo nghiệm thực địa và chế biến mẫu vẫn bị ràng buộc bởi hóa đơn, chứng từ hành chính và định mức đấu thầu cứng nhắc. Do tài chính công chưa chấp nhận rủi ro khoa học trước thiên tai, dịch bệnh, nhiều nhà khoa học tại các viện, trường lớn (như Đại học Cần Thơ, Viện Lúa ĐBSCL) gặp ách tắc trong giải ngân theo niên độ tài chính.
Vướng mắc từ các quỹ phát triển KH&CN: Quỹ KH&CN cấp tỉnh có quy mô vốn điều lệ hạn chế và vận hành theo cơ chế hành chính thay vì đầu tư mạo hiểm. Ở khối doanh nghiệp, việc trích lập Quỹ phát triển KH&CN (theo Thông tư số 67/2022/TT-BTC, ngày 7/11/2022 của Bộ Tài chính hướng dẫn về nghĩa vụ thuế khi doanh nghiệp trích lập và sử dụng Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp) còn rất thấp do vướng thủ tục thẩm định, ranh giới hạch toán chi phí chưa thông thoáng và tâm lý e ngại rủi ro truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp, làm triệt tiêu động lực đồng tài trợ nghiên cứu cùng viện, trường.
Thứ hai, bất cập trong cơ chế đặt hàng nghiên cứu gắn với chuỗi giá trị
Đứt gãy cung - cầu nghiên cứu: Dù ĐBSCL đóng góp trên 50% sản lượng lúa gạo, 65% thủy sản và 70% trái cây cả nước, cơ chế đặt hàng KH&CN vẫn vận hành theo kiểu hành chính “từ trên xuống” hoặc đề xuất hàn lâm từ viện, trường. Khảo sát của Bộ KH&CN chỉ ra dưới 20% doanh nghiệp hợp tác hoặc đặt hàng nghiên cứu với các trường đại học, viện nghiên cứu. Hậu quả là khoảng 80% đề tài sau nghiệm thu chỉ dừng lại ở báo cáo lưu trữ, tạo nên nghịch lý “tri thức treo” (Bộ khoa học và công nghệ, 2020).
Lệch pha chuỗi giá trị và lãng phí sau thu hoạch: Nguồn lực đặt hàng chủ yếu dồn vào khâu giống và năng suất đầu vào, bỏ trống bài toán chế biến sâu và logistics bảo quản lạnh. Hệ quả là tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch tại ĐBSCL ở mức rất cao: 10%-12% đối với lúa gạo (mất khoảng 3.000 - 3.500 tỷ đồng/năm) và 20%-25% đối với rau quả, trái cây (Viện Nghiên cứu rau quả, 2018).
Doanh nghiệp “tự bơi”, phụ thuộc ngoại nhập: Do viện, trường thiếu vắng các giải pháp công nghệ quy mô công nghiệp, các doanh nghiệp chế biến lớn tại Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp buộc phải tự bỏ ra hàng triệu USD để nhập khẩu dây chuyền sấy, cấp đông nhanh và đóng gói từ nước ngoài. Cơ chế tài chính chưa có quy định cho phép Nhà nước và doanh nghiệp cùng góp vốn đối ứng đặt hàng nghiên cứu, khiến năng lực chuyên gia vùng chưa thể giải quyết trực tiếp “nỗi đau” công nghệ của chuỗi giá trị.
Thứ ba, thiếu hụt các định chế trung gian và bảo hiểm rủi ro công nghệ
Mạng lưới trung gian lệch pha: Cả nước có hơn 800 tổ chức trung gian và trên 20 sàn giao dịch công nghệ nhưng tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (Hoàng Giang, 2022); ĐBSCL gần như thiếu vắng sàn giao dịch vận hành theo chuẩn thị trường. Hệ quả là hơn 80% doanh nghiệp chế biến nông - thủy sản trong vùng phải tự mày mò tìm công nghệ qua các kênh phi chính thức thay vì tiếp cận trực tiếp sáng chế từ các viện, trường (VCCI, 2022).
Bế tắc định giá và rào cản tín dụng (0%): Vùng ĐBSCL khuyết thiếu các đơn vị định giá tài sản trí tuệ độc lập. Do không xác định được giá trị thương mại bằng tiền, tỷ lệ ngân hàng thương mại chấp nhận thế chấp bằng văn bằng sáng chế hay giải pháp công nghệ gần như bằng 0%, chặn đứng dòng vốn vay thử nghiệm quy mô công nghiệp (pilot) của các nhà khoa học và doanh nghiệp AgriTech.
“Vùng trắng” bảo hiểm rủi ro công nghệ: Doanh thu bảo hiểm nông nghiệp chỉ chiếm dưới 1% toàn ngành, trong khi các khung chính sách hiện hành (như Nghị định số 58/2018/NĐ-CP) mới hỗ trợ rủi ro thiên tai cơ bản, hoàn toàn bỏ ngỏ bảo hiểm rủi ro chuyển giao kỹ thuật mới. Khi thử nghiệm thất bại do biến cố môi trường, 100% thiệt hại do doanh nghiệp và nông dân tự chịu, triệt tiêu động lực dám ứng dụng cái mới.
Chậm trễ thiết chế hạt nhân điều phối: Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ĐBSCL tại Cần Thơ (theo Nghị quyết số 45/2022/QH15, ngày 11/01/2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Cần Thơ) được kỳ vọng là “nhạc trưởng” điều phối chuỗi giá trị và công nghệ toàn vùng nhưng vẫn chưa đi vào vận hành thực tế, khiến mắt xích trung gian kết nối “4 nhà” tiếp tục bị đứt đoạn.
Nhà khoa học: Khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng
Tỷ lệ thương mại hóa thấp (5%-7%): Toàn vùng ĐBSCL tập trung các cơ sở đào tạo, nghiên cứu nông nghiệp trọng điểm như: Đại học Cần Thơ, Viện Lúa ĐBSCL, Viện Cây ăn quả miền Nam. Tuy nhiên, theo thống kê từ cơ quan quản lý và các viện chiến lược, tỷ lệ đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước được thương mại hóa hoặc chuyển giao ứng dụng vào thực tế sản xuất chỉ đạt khiêm tốn từ 5% đến 7% (Khánh Trình, 2026). Tức là có tới 93%-95% công trình khoa học sau khi nghiệm thu chỉ dừng lại ở dạng báo cáo lưu trữ trong kho dữ liệu thư viện hoặc cất trong tủ kính (Bộ Khoa học và Công nghệ (2024).
Lệch pha động lực: Chạy theo KPI bài báo ISI/Scopus hơn là giải quyết bài toán thực địa: Hệ thống tiêu chí đánh giá thi đua, phong học hàm và xếp hạng tại các trường đại học lớn hiện nay đặt nặng chỉ số công bố quốc tế chuẩn ISI/Scopus (World Bank, 2020). Áp lực này buộc các nhà khoa học dồn toàn lực vào viết bài lý thuyết để tích lũy điểm học thuật thay vì dấn thân vào các dự án thực nghiệm dài hơi, đối mặt với rủi ro ngoài đồng ruộng. Hệ quả là dù các công bố khoa học tăng trưởng, nhưng những vấn đề cấp thiết của ĐBSCL như công nghệ tuần hoàn bùn thải ao tôm công nghiệp, công nghệ bảo quản sầu riêng tươi kéo dài, hay giải pháp chống chịu xâm nhập mặn quy mô lớn, vẫn thiếu vắng các gói kỹ thuật chuyển giao đồng bộ.
Thiếu vắng doanh nghiệp KH&CN và mô hình Spin-off trong trường đại học: Tại vùng ĐBSCL, tỷ lệ các trường đại học hay viện nghiên cứu thành lập được doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ (Spin-off) hoặc công ty KH&CN trực thuộc để tự thương mại hóa sáng chế gần như bằng 0%. Toàn Vùng chiếm chưa tới 5% tổng số doanh nghiệp KH&CN của cả nước. Việc thiếu hụt các tổ chức định giá tài sản trí tuệ và định chế trung gian này đã cô lập các viện nghiên cứu thành những “tháp ngà đơn độc”, dẫn tới nghịch lý “tri thức treo” - nhà khoa học giữ sáng chế nhưng không có chức năng kinh doanh, còn doanh nghiệp và nông dân vùng ĐBSCL thì thiếu công nghệ ứng dụng phù hợp (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024).
Qua phân tích cho thấy, nhà khoa học giữ vai trò cung ứng tri thức, nhưng hoạt động nghiên cứu hiện nay đang rơi vào tình trạng “vị khoa học”, nặng tính hàn lâm và chưa gắn nhiều với thực tiễn. Từ đó tạo ra nghịch lý “tri thức treo”, gây lãng phí lớn nguồn lực quốc gia và làm chậm tiến trình đổi mới công nghệ vùng ĐBSCL.
Doanh nghiệp: Vai trò trung tâm chưa rõ nét
Trong liên kết “4 nhà” tại vùng ĐBSCL, doanh nghiệp được định vị là lực lượng trung tâm dẫn dắt thị trường (World Bank, 2020). Tuy nhiên, năng lực hấp thụ và thúc đẩy đổi mới công nghệ của khối này thể hiện rất mờ nhạt và còn rất hạn chế.
Cơ cấu quy mô doanh nghiệp “siêu nhỏ” (hơn 95%): Theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam và số liệu của Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê), khu vực ĐBSCL có trên 60.000 doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng có tới hơn 95% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Nguồn vốn mỏng, tích lũy tài chính thấp khiến các doanh nghiệp này gần như không đủ tiềm lực tài chính để trích lập quỹ R&D hay đầu tư mạo hiểm cho các dây chuyền công nghệ cao.
Tỷ lệ chi tiêu cho R&D cực thấp (dưới 0,5% doanh thu): Khảo sát đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp của Bộ KH&CN và World Bank chỉ rõ, chi tiêu cho R&D của khối doanh nghiệp Việt Nam bình quân chỉ đạt dưới 0,5% tổng doanh thu (trong khi ở các nước như Hàn Quốc, tỷ lệ này vượt 3%-4%). Tại ĐBSCL, tỷ lệ này còn thấp hơn, đa phần doanh nghiệp chỉ tập trung chi cho vốn lưu động mùa vụ thay vì đầu tư cho nghiên cứu quy trình công nghệ mới.
Tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo dừng ở mức 30%-35%: Phần lớn các hoạt động này chỉ dừng lại ở mức cải tiến quy trình nhỏ mang tính sự vụ, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp chủ động hợp tác, đặt hàng nghiên cứu với các viện, trường vẫn duy trì ở mức dưới 20% (Bộ khoa học và công nghệ, 2020).
Khoảng 80% doanh nghiệp chế biến kẹt trong gia công thô: Báo cáo thường niên của VCCI và các nghiên cứu ngành hàng nông nghiệp chỉ ra khoảng 80% doanh nghiệp chế biến nông - thủy sản vùng ĐBSCL vẫn kẹt trong tư duy gia công thô và sử dụng công nghệ lạc hậu (VCCI, 2022). Do đó, nông sản chủ yếu xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu hoặc sơ chế cấp thấp (như gạo thô, cá tra phi lê đông lạnh cơ bản), đánh mất phần giá trị gia tăng lớn nhất từ các sản phẩm tinh chế và chiết xuất phụ phẩm.
Người dân: Chưa trở thành chủ thể đổi mới
Tỷ lệ lao động qua đào tạo thuộc diện “vùng trũng” cả nước (14,6%): Tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ tại ĐBSCL hiện chỉ đạt khoảng 14,6%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân chung của cả nước (khoảng 26%-27%) (Tổng cục Thống kê, 2024). Trình độ học vấn và kỹ năng số hạn chế tạo nên rào cản lớn khi người dân tiếp cận các công nghệ lõi như cảm biến IoT giám sát độ mặn, hệ thống tưới tự động hay phần mềm truy xuất nguồn gốc bằng mã QR.
Sản xuất manh mún, kinh tế hộ áp đảo (trên 85%): ĐBSCL có hơn 2,4 triệu hộ sản xuất nông nghiệp, nhưng có tới trên 85% diện tích canh tác thuộc quy mô nông hộ nhỏ lẻ, bình quân chỉ từ 0,5 đến dưới 1,5 ha/hộ. Tỷ lệ nông dân tham gia vào các Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới chỉ dao động ở mức khoảng 10%-12%. Quy mô ruộng đất manh mún khiến chi phí đầu tư công nghệ số hóa trên từng đơn vị diện tích quá cao, triệt tiêu động lực chuyển đổi số tự thân của người nông dân.
Đảo ngược vị thế: 100% ở thế “thụ hưởng bị động” khâu thiết kế: Dù Văn kiện Đại hội XIII khẳng định phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và nhấn mạnh vai trò trung tâm của nhân dân, nhưng tại ĐBSCL, trật tự này đang bị đảo lộn. Gần như 100% các đề tài nghiên cứu nông nghiệp không có sự tham gia của nông dân ở khâu “bàn” (đề xuất bài toán và thiết kế giải pháp). Người dân chỉ xuất hiện ở khâu cuối cùng là “thụ hưởng” hoặc làm đối tượng nhận bàn giao mô hình kỹ thuật đóng gói sẵn từ nhà khoa học và doanh nghiệp (Nguyễn Ngọc Hà, 2022).
MỘT SỐ NHẬN XÉT
Nhìn một cách hệ thống, mối quan hệ hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân tại vùng ĐBSCL thời gian qua vẫn tồn tại những rào cản mang tính cấu trúc. Việc phân tích toàn diện làm nổi rõ lên sự liên kết “4 nhà” còn mang tính phân tán, hình thức thiếu cơ chế tích hợp và điều phối hiệu quả, dẫn đến sự lệch pha trong chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo. Thực trạng này được minh chứng cụ thể qua 3 khía cạnh cốt lõi sau:
Một là, sự rời rạc trong mục tiêu chiến lược
Mỗi chủ thể hiện nay vẫn vận hành theo những hệ mục tiêu độc lập. Nhà khoa học chịu áp lực bởi bộ chỉ số tiêu, thi đua công bố các công trình nghiên cứu mang tính hàn lâm; Doanh nghiệp tối ưu hóa lợi nhuận với thời gian ngắn qua thương mại và gia công thô; trong khi đó, Người dân canh tác theo quy mô hộ gia đình manh mún, nhỏ lẻ, rời rạc.
Hai là, thiếu hụt tổ chức điều phối trung gian
Một trong những bất cập làm suy giảm hiệu quả của liên kết “4 nhà” cốt lõi là sự thiếu vắng của các tổ chức trung gian trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo Luật KH&CN, các tổ chức trung gian (bao gồm sàn giao dịch công nghệ, trung tâm xúc tiến chuyển giao, tổ chức định giá tài sản trí tuệ và mạng lưới các quỹ đầu tư mạo hiểm) giữ vai trò là “chất xúc tác” kết nối cung - cầu, minh bạch hóa thông tin và giảm thiểu rủi ro giao dịch. Tuy nhiên, tại khu vực ĐBSCL hệ thống này đang bộc lộ những khoảng trống lớn, như:
(i) Tình trạng bất đối xứng thông tin thị trường do thiếu các sàn giao dịch công nghệ hoạt động theo cơ chế thị trường thực chất, các doanh nghiệp chế biến nông - thủy sản tại Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp hoàn toàn mơ hồ về các phát minh, sáng chế mới của các viện, trường trong vùng. Ngược lại, các nhà khoa học lại nghiên cứu dựa trên năng lực sẵn có, chứ không theo đơn đặt hàng hay yêu cầu thực tế của thị trường;
(ii) Điểm nghẽn trong định giá tài sản trí tuệ thể hiện ở chỗ thiếu các tổ chức giám định và định giá công nghệ độc lập, uy tín khiến cả doanh nghiệp và viện nghiên cứu không thể tìm được tiếng nói chung về giá trị kinh tế của công trình khoa học. Ngân hàng thương mại từ chối nhận thế chấp bằng văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ, nên kết quả nghiên cứu dù có tiềm năng thương mại hóa cao vẫn rơi vào tình trạng “tri thức bị tồn đọng” trong kho lưu trữ, không có nguồn tài chính để sản xuất thử nghiệm quy mô công nghiệp.
(iii) Hệ lụy trực tiếp đến thực tiễn sản xuất trong vùng là không liên kết với khâu trung gian, buộc nông dân và doanh nghiệp phải tự mày mò, thử nghiệm công nghệ một cách manh mún, đối mặt với tỷ lệ thất bại cao. Khi các kết quả khoa học công nghệ tiên tiến thích ứng biến đổi khí hậu (như hệ thống tự động hóa kiểm soát xâm nhập mặn, công nghệ bảo quản nông sản sau thu hoạch) không thể “dịch chuyển thuận lợi” qua kênh trung gian để đến tay người dân.
Ba là, suy giảm năng lực cạnh tranh toàn vùng
Hệ quả nghiêm trọng nhất của tình trạng phân tán và khuyết mạch kết nối trong liên kết “4 nhà” chính là sự suy giảm năng lực cạnh tranh cốt lõi của vùng ĐBSCL trên bản đồ nông sản toàn cầu. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các tiêu chuẩn xanh và bền vững, tình trạng liên kết như hiện nay làm chậm tiến trình chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang kinh tế nông nghiệp bền vững, khiến toàn hệ sinh thái ở thế bị động trước bối cảnh dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, biểu hiện như:
- Việc thiếu tiếng nói chung giữa “4 nhà” khiến toàn vùng bị kẹt trong tư duy sản xuất truyền thống, thâm dụng tài nguyên và chạy theo sản lượng. Từ đó, chuyển dịch sang kinh tế nông nghiệp giá trị cao, có nhãn sinh thái làm sụt giảm biên lợi nhuận và có nguy cơ bị loại khỏi các thị trường cao cấp (EU, Mỹ).
- Do thiếu vốn mồi của Nhà nước và chuỗi bao tiêu của doanh nghiệp, các mô hình canh tác thông minh chỉ dừng lại ở mức thí điểm nên nông dân rơi vào vòng xoáy “được mùa mất giá”, phải ứng phó hạn mặn, sạt lở bằng kinh nghiệm vốn có.
- Sự liên kết lỏng lẻo làm triệt tiêu tính tuần hoàn khép kín, khiến vùng ĐBSCL vắng bóng các thương hiệu nông sản mạnh mang tầm vóc quốc tế và làm giảm sức chống chịu trước các cú sốc kép của thời tiết lẫn thị trường.
ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG HÓA GIẢI PHÁP MÔ HÌNH “LIÊN KẾT 4 NHÀ THẾ HỆ MỚI”
Từ những bất cập nêu trên, nghiên cứu đề xuất mô hình liên kết “4 nhà” tại vùng ĐBSCL được mô tả như Hình. Mô hình hướng tới việc dịch chuyển phương thức vận hành từ “Cung cấp hành chính, thụ hưởng thụ động” sang “Cộng hưởng giá trị, phát huy vai trò chủ thể”, thông qua 4 nhóm giải pháp đồng bộ sau:
Thứ nhất, Nhà nước sớm hoàn thiện vai trò kiến tạo, khơi thông nguồn lực tài chính
Thực hiện nghiêm túc các quy định tài chính hiện hành, chuyển đổi phương thức quyết toán hành chính sang cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Ưu tiên nâng tổng chi ngân sách cho hoạt động R&D vùng ĐBSCL lên mức tối thiểu 1% GRDP thông qua các Quỹ phát triển KH&CN địa phương. Nghiên cứu thành lập Quỹ bảo hiểm rủi ro chuyển giao công nghệ nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dưới sự bảo lãnh của Ngân hàng Nhà nước, nhằm chia sẻ rủi ro tài chính với doanh nghiệp và nhà khoa học trong quá trình thử nghiệm kỹ thuật mới.
Thứ hai, doanh nghiệp khẳng định vai trò trung tâm, dẫn dắt chuỗi giá trị
Các doanh nghiệp xuất khẩu chủ chốt tại ĐBSCL cần tối ưu hóa việc trích lập quỹ KH&CN của doanh nghiệp (tối thiểu 10% lợi nhuận trước thuế) để đặt hàng các viện, trường giải quyết bài toán chế biến sâu và kéo dài chuỗi giá trị nông sản. Phát huy vai trò doanh nghiệp hạt nhân thông qua việc ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn với các Hợp tác xã, cung cấp vật tư đầu vào chuẩn hóa và định hướng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ ba, nhà khoa học tăng cường tính ứng dụng, kéo gần khoảng cách thực tiễn
Các viện nghiên cứu, trường đại học trọng điểm cần điều chỉnh quy chế thi đua theo hướng giảm tỷ trọng tiêu chí công bố hàn lâm thuần túy, tăng trọng số điểm đối với các văn bằng sáng chế được thương mại hóa hoặc các giải pháp kỹ thuật được chuyển giao thực tế đến doang nghiệp và người dân. Tạo điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý để khuyến khích hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ngay trong lòng các cơ sở giáo dục đại học nhằm trực tiếp thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Thứ tư, người dân sớm chuyển tư duy, xác lập vị thế chủ thể hành động
Người nông dân cần thay đổi phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang thế chủ động liên kết tham gia vào các Hợp tác xã kiểu mới nhằm tích tụ ruộng đất, tạo quy mô sản xuất hàng hóa lớn, đưa cơ giới hóa và chuyển đổi số vào sản xuất và kinh doanh. Chủ động nâng cao kỹ năng số, làm chủ các quy trình kỹ thuật mới. Đồng thời, chủ động tích hợp “tri thức bản địa” vào quá trình thực thi để cùng nhà khoa học xây dựng các mô hình canh tác phù hợp.
Hình: Mô hình liên kết “4 nhà thế hệ mới”
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ khoa học và công nghệ (2020). Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2020. Nxb khoa học và kỹ thuật.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Báo cáo thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ tại các trường đại học, viện nghiên cứu Việt Nam. Nxb Khoa học và Kỹ thuật.
3. Hoàng Giang (2022). Tiếp thêm động lực cho thị trường khoa học và công nghệ. https://baochinhphu.vn/tiep-them-dong-luc-cho-thi-truong-khoa-hoc-va-cong-nghe-102220922095207175
4. Khánh Trình (2026). Phát huy tính ứng dụng của nghiên cứu khoa học vào thực tiễn. https://nhandan.vn/phat-huy-tinh-ung-dung-cua-nghien-cuu-khoa-hoc-vao-thuc-tien-post948928.html
5. Nguyễn Ngọc Hà (2022). Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/vai-tro-chu-the-vi-tri-trung-tam-cua-nhan-dan-trong-chien-luoc-phat-trien-dat-nuoc-va-qua-trinh-xay-dung-bao-ve-to-quoc-theo-tinh-than-dai-hoi-xiii-cu
6. Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2023 - Khảo sát lao động việc làm vùng ĐBSCL. Nxb Thống kê.
7. VCCI (2022). Báo cáo kinh tế thường niên đồng bằng sông Cửu Long 2022. Nxb Đại học Cần Thơ.
8. Viện Nghiên cứu rau quả (2018). Thất thoát nông sản sau thu hoạch: Điểm nghẽn lớn của nông nghiệp. https://www.favri.org.vn/index.php/vi/tin-tuc/tin-tuc-cap-nhat/721-tha-t-thoa-t-na-ng-sa-n-sau-thu-hoa-ch-ia-m-ngha-n-la-n-ca-a-na-ng-nghia-p
9. World Bank (2020). Vibrant Vietnam: Forging the Path to a High-Income Economy. World Bank Group.
| Ngày nhận bài: 21/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/10/2026; Ngày duyệt đăng: 26/10/2026 |
Các tin khác
Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn
Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á
Thực trạng ý định ứng dụng logistics xanh trong các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam
Định kiến giới và cơ hội thăng tiến được cảm nhận của lao động nữ trong ngành khách sạn: Vai trò trung gian của nguồn lực từ mạng lưới nghề nghiệp
Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai
Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam
