Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam - Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nghiên cứu - Trao đổi 21:10 | 28/12/2025
Bài viết phân tích toàn diện thực trạng chuyển đổi số trong lĩnh vực logistics Việt Nam dựa trên các nguồn dữ liệu thứ cấp và hệ thống chính sách quốc gia, đặc biệt là Chiến lược phát triển dịch vụ logistics ban hành theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ.

Nguyễn Thị Nhung

NCS. Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích toàn diện thực trạng chuyển đổi số trong lĩnh vực logistics Việt Nam dựa trên các nguồn dữ liệu thứ cấp và hệ thống chính sách quốc gia, đặc biệt là Chiến lược phát triển dịch vụ logistics ban hành theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Nghiên cứu làm rõ mức độ trưởng thành số của các phân khúc cảng biển, kho bãi, vận tải và giao hàng chặng cuối; đồng thời nhận diện những hạn chế cốt lõi như hạ tầng số chưa đồng bộ, năng lực liên thông dữ liệu còn thấp, khoảng cách số giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa, chất lượng nhân lực số chưa đáp ứng yêu cầu mới. Trên cơ sở đối chiếu với yêu cầu nâng cấp năng lực theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg, bài viết đề xuất nhóm giải pháp về nền tảng dữ liệu quốc gia, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, phát triển nhân lực và hoàn thiện cơ chế điều phối, nhằm thúc đẩy chuyển đổi số hài hòa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới hệ sinh thái logistics hiện đại, bền vững.

Từ khóa: Logistics, chuyển đổi số, chiến lược quốc gia, Quyết định số 2229 QĐ-TTg

Summary

This article provides a comprehensive analysis of the current state of digital transformation in Viet Nam’s logistics sector based on secondary data sources and the national policy framework, with particular emphasis on the Logistics Service Development Strategy issued under Decision No. 2229/QD-TTg dated November 9, 2025, by the Prime Minister. The study clarifies the level of digital maturity across key segments, including seaports, warehousing, transportation, and last-mile delivery, while identifying core constraints such as fragmented digital infrastructure, limited data interoperability capacity, the digital divide between large enterprises and small and medium-sized enterprises, and the inadequacy of digital human resources to meet emerging requirements. By benchmarking the current situation against the capacity-upgrading objectives outlined in Decision No. 2229/QD-TTg, the article proposes a set of policy implications that focus on developing a national data platform, implementing enterprise support policies, enhancing digital workforce development, and improving coordination mechanisms. These solutions aim to promote a balanced digital transformation process, enhance competitiveness, and move toward a modern and sustainable logistics ecosystem.

Keywords: Logistics, digital transformation, national strategy, Decision No. 2229/QD-TTg

MỞ ĐẦU

Chuyển đổi số trong logistics được hiểu là quá trình ứng dụng công nghệ số vào toàn bộ chuỗi hoạt động logistics, từ vận tải, kho bãi, giao nhận, hải quan đến phân phối và quản trị chuỗi cung ứng. Không chỉ dừng ở tin học hóa nghiệp vụ, chuyển đổi số còn bao gồm chuyển đổi mô hình vận hành, tối ưu dữ liệu và đổi mới mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số.

Chuyển đổi số đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, đưa logistics trở thành yếu tố then chốt trong năng lực cạnh tranh quốc gia, đặc biệt đối với các nền kinh tế định hướng xuất khẩu như Việt Nam. Trên phương diện chính sách, tư duy của Chính phủ về chuyển đổi số logistics đã phát triển qua 3 văn bản quan trọng: Quyết định số 200/QĐ-TTg (2017), Quyết định số 221/QĐ-TTg (2021) và Quyết định số 2229/QĐ-TTg ban hành ngày 9/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 (gọi tắt là Chiến lược 2229/QĐ-TTg). Hai văn bản đầu chủ yếu tập trung giải quyết điểm nghẽn truyền thống, trong khi Quyết định số 2229/QĐ-TTg đánh dấu bước chuyển sang mô hình “hệ sinh thái logistics số” và xác định chuyển đổi số là trụ cột chiến lược. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm cho thấy mức độ trưởng thành số của doanh nghiệp (DN) logistics còn thấp và không đồng đều giữa các phân nhóm; có khoảng cách đáng kể so với yêu cầu của Chiến lược. Bài viết phân tích thực trạng và làm rõ các yêu cầu mới của Chiến lược, đề xuất hàm ý nhằm nâng cao năng lực số và tăng cường sức cạnh tranh logistics quốc gia.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên tổng quan tài liệu và phân tích chính sách nhằm đánh giá thực trạng chuyển đổi số logistics tại Việt Nam. Trước hết, nghiên cứu tiến hành tổng quan hệ thống các tài liệu học thuật và báo cáo quốc tế về logistics 4.0 và mô hình trưởng thành số (DML). Tiếp theo, áp dụng phân tích nội dung đối với 3 văn bản chính sách: Quyết định số 200/QĐ-TTg (2017), Quyết định số 221/QĐ-TTg (2021) và Quyết định số 2229/QĐ-TTg (2025) để nhận diện sự phát triển tư duy chuyển đổi số. Đồng thời, dữ liệu thứ cấp từ USAID (2024) và Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê - Bộ Tài chính) được sử dụng để mô tả mức độ trưởng thành số của các phân nhóm dịch vụ logistics.

Khung nghiên cứu gồm 3 bước: (1) Xác định cơ sở lý luận về chuyển đổi số và DML; (2) Phân tích chính sách và dữ liệu thực nghiệm; (3) Đối chiếu năng lực hiện tại của DN với yêu cầu của Chiến lược 2229/QĐ-TTg để rút ra hàm ý và kiến nghị.

Mức độ trưởng thành số (Digital Maturity Level - DML)

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu thay đổi nhanh chóng, chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics Việt Nam. Các khảo sát, đặc biệt từ USAID (2024), cho thấy việc triển khai công nghệ số mang lại nhiều lợi ích rõ rệt: (i) giảm chi phí vận hành thông qua WMS, TMS và phân tích dữ liệu, phù hợp mục tiêu giảm chi phí logistics xuống 12-15% GDP theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg; (ii) rút ngắn thời gian giao hàng nhờ theo dõi thời gian thực và tự động hóa; (iii) tăng minh bạch và truy xuất nguồn gốc với Internet vạn vật (IoT), RFID và chuỗi khối (Blockchain); (iv) nâng cao năng suất lao động nhờ tự động hóa; và (v) cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng. Đồng thời, chuyển đổi số giúp DN Việt Nam kết nối sâu hơn vào mạng lưới logistics khu vực và toàn cầu, đáp ứng yêu cầu hội nhập mới.

Thứ nhất, công nghệ cốt lõi của logistics 4.0 được thúc đẩy bởi một nhóm công nghệ nền tảng, giữ vai trò xương sống trong quá trình chuyển đổi số của DN: (1) IoT cho phép giám sát trạng thái hàng hóa, phương tiện và điều kiện vận chuyển theo thời gian thực; (2) Trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (ML): hỗ trợ dự báo nhu cầu, tối ưu tuyến vận tải, tự động hóa phân loại hàng và ra quyết định nhanh hơn; (3) Dữ liệu lớn (Big Data): tạo nền tảng phân tích dữ liệu đa nguồn để dự báo, tối ưu vận hành và nhận diện rủi ro; (4) Blockchain: tăng cường minh bạch, an toàn và xác thực thông tin trong quản lý chuỗi cung ứng; (5) Điện toán đám mây (Cloud Computing): giúp giảm chi phí hạ tầng CNTT, tăng khả năng truy cập và mở rộng của hệ thống; (6) RFID và cảm biến thông minh: nâng cao khả năng gắn mã, định danh và theo dõi hàng hóa; (7) Robot tự động (AGVs, AMRs): hỗ trợ hoạt động trong kho bãi, giảm chi phí nhân công và tăng hiệu quả xử lý hàng hóa; (8) Hệ thống WMS, TMS, OMS: đóng vai trò nền tảng trong quản lý kho, vận tải và đơn hàng, đồng thời kết nối và liên thông giữa các bộ phận. Những công nghệ này đang được các DN có mức trưởng thành số cao như Vinafco hay U&I Logistics triển khai nhằm tối ưu hiệu quả vận hành. Quyết định số 2229/QĐ-TTg cũng xác định AI, IoT, cloud và dữ liệu lớn là các trụ cột công nghệ để hình thành “hệ sinh thái nền tảng số logistics”.

Thứ hai, mức độ trưởng thành số (Digital Maturity Level - DML) phản ánh khả năng của DN trong việc chuyển đổi từ mô hình vận hành truyền thống sang mô hình dựa trên dữ liệu, kết nối và tự động hóa. Đây là chỉ báo quan trọng để đánh giá mức độ sẵn sàng của DN trong việc thực thi các nhiệm vụ chuyển đổi số được xác định trong Chiến lược 2229/QĐ-TTg. DML được cấu thành bởi một số chiều năng lực cốt lõi, bao gồm năng lực vận hành dựa trên dữ liệu; khả năng tích hợp và liên thông hệ thống; mức độ tự động hóa quy trình; khả năng làm chủ và phát triển công nghệ cùng năng lực đổi mới mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Theo thông lệ quốc tế, mức độ trưởng thành số thường được phân chia thành 5 cấp độ. Ở cấp Initial, DN vẫn vận hành thủ công với hệ thống rời rạc. Cấp Digitized thể hiện việc tin học hóa cơ bản nhưng dữ liệu còn phân tán. Cấp Connected đánh dấu sự kết nối giữa các hệ thống nội bộ. Cấp Integrated cho phép chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực với khách hàng, nhà cung cấp hoặc cơ quan quản lý. Cao nhất là cấp Autonomous, khi DN có thể vận hành tối ưu dựa trên AI, robot và phân tích dự báo.

Tại Việt Nam, mức độ trưởng thành số giữa các nhóm DN logistics còn rất khác biệt. Báo cáo USAID (2024) cho thấy DN kho đạt mức 2.5-3, nhóm giao hàng chặng cuối đạt 3-4, trong khi DN vận tải và cảng biển chỉ dừng ở mức 1.5-2. Khoảng cách này tạo ra thách thức đáng kể, bởi Quyết định số 2229/QĐ-TTg đặt yêu cầu DN phải đạt mức độ kết nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu thời gian thực để tham gia hệ sinh thái logistics số quốc gia. Do đó, DML không chỉ phản ánh mức độ ứng dụng công nghệ mà còn quyết định khả năng thực thi các nhiệm vụ chuyển đổi số trong chiến lược phát triển logistics giai đoạn mới.

THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS TẠI VIỆT NAM

Bức tranh tổng quan

Các khảo sát gần đây cho thấy, đa số DN logistics Việt Nam đã nhận thức rõ vai trò then chốt của chuyển đổi số đối với năng lực cạnh tranh và hiệu quả vận hành. Tuy nhiên, nhận thức tích cực này chưa được chuyển hóa tương xứng thành hành động và đầu tư thực chất. Báo cáo USAID (2024) nhấn mạnh rằng phần lớn DN mới ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi số, chủ yếu dừng lại ở việc tin học hóa đơn lẻ và chưa xây dựng được chiến lược số hóa bài bản. Điều này phản ánh sự thiếu hụt về năng lực công nghệ, hạ tầng số và nguồn nhân lực chuyên môn.

Hình 1: Vai trò của chuyển đổi số với doanh nghiệp logistics

Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam - Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nguồn: USAID (2024)

Khoảng cách giữa ý chí chuyển đổi và năng lực thực thi cho thấy DN hiện chưa đáp ứng được yêu cầu của Chiến lược phát triển dịch vụ logistics quốc gia tại Quyết định 2229/QĐ-TTg, trong đó chuyển đổi số được xác định là một trụ cột chiến lược. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao mức độ trưởng thành số của DN nhằm thu hẹp khoảng cách với mục tiêu quốc gia giai đoạn 2025-2035.

Nhóm thứ nhất - Nhóm dịch vụ kho: mức độ trưởng thành số ở mức trung bình khá. Nhóm DN cung cấp dịch vụ kho bãi được đánh giá là một trong những phân khúc có mức độ trưởng thành số cao nhất trong ngành logistics Việt Nam. Theo báo cáo USAID (2024), phần lớn các DN trong nhóm này đã bước đầu hình thành nền tảng số tương đối đồng bộ, thể hiện qua việc triển khai các phần mềm quản lý và khả năng kết nối dữ liệu nội bộ ở mức khá. Một tỷ lệ đáng kể DN đã thực hiện số hóa hạ tầng, cho phép truy cập và vận hành từ xa, phản ánh sự chủ động trong ứng dụng công nghệ để tối ưu hóa quy trình.

Hình 2: Vai trò của chuyển đổi số với doanh nghiệp nhóm kho

Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam - Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nguồn: USAID (2024)

Tuy vậy, mức độ tự động hóa và năng lực bảo mật thông tin vẫn còn hạn chế, cho thấy DN mới dừng lại ở các bước số hóa cơ bản và chưa đạt đến mức vận hành thông minh dựa trên dữ liệu thời gian thực. Trên cơ sở các chỉ dấu này, mức độ trưởng thành số của nhóm dịch vụ kho có thể được xếp vào mức trung bình khá, tương ứng khoảng Level 2.5-3 trên thang 5 cấp độ trưởng thành số. Đây vẫn là nhóm có vị trí tương đối tốt so với các phân khúc khác trong thị trường logistics Việt Nam, nhưng để đáp ứng được yêu cầu của Chiến lược 2229/QĐ-TTg, các DN cần tiếp tục nâng cấp năng lực tự động hóa và quản trị dữ liệu.

Nhóm thứ hai - Nhóm cảng biển: mức độ trưởng thành số thấp và chịu nhiều rào cản. Trong số các phân nhóm dịch vụ logistics, cảng biển được đánh giá là nhóm có mức độ trưởng thành số thấp nhất, cho thấy các DN cảng đang đối mặt đồng thời với nhiều rào cản then chốt, bao gồm năng lực an ninh mạng yếu, tốc độ thay đổi công nghệ quá nhanh so với khả năng thích ứng, thiếu hụt nhân lực chuyên gia công nghệ, hạn chế về nguồn vốn đầu tư và sự thiếu sẵn sàng của khách hàng trong việc sử dụng các hệ thống công nghệ thông tin.

Hình 3: Số liệu hàng hóa thông qua cảng biển từ 2015-2023

Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam   Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Tổng cục Thống kê

Những yếu tố này khiến quá trình chuyển đổi số của DN cảng diễn ra chậm và thiếu đồng bộ, phản ánh mức trưởng thành số chỉ ở Level 2 - tức mới dừng lại ở giai đoạn tin học hóa cơ bản. Trong bối cảnh Quyết định 2229/QĐ-TTg đặt ra yêu cầu cao về tích hợp dữ liệu, liên thông hệ thống và triển khai hạ tầng số quy mô quốc gia, nhóm cảng biển sẽ là đối tượng chịu tác động lớn nhất nếu không có những bước chuyển đổi mạnh mẽ nhằm nâng cấp năng lực công nghệ trong thời gian tới.

Nhóm thứ ba - Nhóm vận tải: mức trưởng thành số thấp nhất trong các phân khúc. DN vận tải được đánh giá là nhóm có mức độ chuyển đổi số thấp nhất trong toàn bộ chuỗi dịch vụ logistics. Theo USAID (2024), phần lớn DN trong nhóm này mới chỉ ứng dụng các giải pháp công nghệ cơ bản như hệ thống định vị GPS hoặc phần mềm quản lý phương tiện ở mức tối thiểu, trong khi các công cụ phân tích dữ liệu, tối ưu hóa hành trình hay tích hợp thông tin với khách hàng hầu như chưa được triển khai.

Hình 4: Tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ kho bãi và các hoạt động hỗ trợ cho vận tải giai đoạn 2010-2024 (%)

Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam - Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê (2024)

Bên cạnh đó, các hạn chế cố hữu về nguồn vốn đầu tư và sự thiếu hụt nhân lực công nghệ thông tin khiến khả năng nâng cấp hạ tầng số của DN vận tải còn rất hạn chế. Trên nền những điểm yếu này, mức độ trưởng thành số của nhóm vận tải chỉ đạt Level 1.5-2, tức mới dừng ở giai đoạn tin học hóa rời rạc. Với vai trò là mắt xích trung tâm trong chuỗi cung ứng, mức trưởng thành số thấp của nhóm vận tải đang tạo ra nhiều “điểm nghẽn số hóa”, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, tính minh bạch và khả năng kết nối của toàn bộ hệ thống logistics quốc gia.

Nhóm thứ tư - Nhóm giao hàng chặng cuối: mức độ số hóa cao nhờ áp lực thị trường. Trong các phân nhóm dịch vụ logistics, giao hàng chặng cuối được xem là nhóm có mức độ chuyển đổi số nổi bật nhất. Theo USAID (2024), sự bùng nổ mạnh mẽ của thương mại điện tử đã tạo áp lực buộc các DN trong lĩnh vực này phải nhanh chóng ứng dụng công nghệ để đáp ứng kỳ vọng giao hàng nhanh, linh hoạt và minh bạch. Nhờ đó, nhiều DN đã triển khai tương đối toàn diện các giải pháp số như hệ thống theo dõi dữ liệu thời gian thực, nền tảng kết nối đa hệ sinh thái và quy trình tự động hóa trong quản lý đơn hàng.

Hình 5: Tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ bưu chính và chuyển phát giai đoạn 2010-2024(%)

Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam - Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê (2024)

Mức độ ứng dụng công nghệ sâu rộng này giúp nhóm giao hàng chặng cuối đạt mức trưởng thành số khá cao, tương ứng Level 3-4, vượt trội so với các phân nhóm logistics truyền thống. Tuy nhiên, khả năng tích hợp dữ liệu với các phân khúc khác trong chuỗi cung ứng vẫn là thách thức nếu hệ thống logistics quốc gia muốn vận hành đồng bộ theo yêu cầu của Chiến lược 2229/QĐ-TTg.

Có thể thấy, chuyển đổi số đang mang lại những tác động kinh tế trực tiếp và rõ rệt đối với DN logistics. Có tới 58% DN ghi nhận chi phí vận hành giảm, đồng thời 58% DN cho biết doanh thu tăng sau khi áp dụng các giải pháp số trong quản lý kho, vận tải và xử lý đơn hàng.

Hình 6: Mức độ chuyển đổi số - Nhóm dịch vụ cảng

Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam - Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nguồn: USAID (2024)

Những minh chứng thực nghiệm này khẳng định chuyển đổi số không chỉ là định hướng mang tính chính sách mà đã trở thành một động lực kinh tế thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng cho DN đáp ứng yêu cầu của Chiến lược 2229/QĐ-TTg.

Những rào cản

Mặc dù nhận thức về chuyển đổi số đã được cải thiện, quá trình triển khai trong DN logistics vẫn gặp nhiều trở ngại cấu trúc. Báo cáo USAID (2024) cho thấy tồn tại 6 nhóm rào cản chủ yếu: (i) hạn chế về khung pháp lý và các quy định hỗ trợ; (ii) thiếu hụt đội ngũ chuyên gia công nghệ có năng lực; (iii) khách hàng và đối tác chưa sẵn sàng sử dụng các nền tảng số; (iv) năng lực số của nhân viên còn yếu; (v) tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ khiến DN khó bắt kịp; và (vi) rủi ro an ninh mạng gia tăng trong môi trường vận hành số.

Hình 7: Rào cản khi thực hiện chuyển đổi số - Nhóm cảng

Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam - Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nguồn: USAID (2024)

Những rào cản này không chỉ làm chậm quá trình số hóa của DN mà còn tạo ra sự phân mảnh trong toàn hệ thống logistics. Vì vậy, việc nhận diện và giải quyết các hạn chế trên là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số đã được Chính phủ đặt ra trong Chiến lược phát triển dịch vụ logistics tại Quyết định số 2229/QĐ-TTg.

Hình 8: Rào cản thực hiện chuyển đổi số - doanh nghiệp nhóm kho

Chuyển đổi số trong logistics Việt Nam - Từ thực trạng đến yêu cầu nâng cấp năng lực theo chiến lược quốc gia

Nguồn: USAID (2024)

SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHÍNH SÁCH VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ LOGISTICS

Chính sách về chuyển đổi số trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam không diễn ra đột ngột mà theo một lộ trình có tính tiến hóa rõ rệt. Ba Quyết định của Thủ tướng Chính phủ - số 200/QĐ-TTg (2017), số 221/QĐ-TTg (2021) và số 2229/QĐ-TTg (2025) - phản ánh sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận của Nhà nước đối với vai trò của công nghệ trong phát triển ngành logistics.

Giai đoạn nền tảng - Quyết định số 200/QĐ-TTg (2017). Tại thời điểm năm 2017, chuyển đổi số chưa được xem như một yêu cầu chiến lược của ngành. Quyết định số 200/QĐ-TTg tập trung vào các vấn đề nền tảng như cải thiện hạ tầng, giảm chi phí logistics và cải cách thủ tục hành chính. Công nghệ thông tin được đề cập chủ yếu như công cụ hỗ trợ cải tiến quy trình, chứ chưa được xem là động lực tái cấu trúc toàn bộ hệ thống logistics. Điều này phản ánh thực tế ngành logistics Việt Nam khi đó vẫn ở giai đoạn “tiền số hóa”, với mức độ ứng dụng công nghệ còn manh mún, không đồng bộ.

Giai đoạn chuyển tiếp - Quyết định số 221/QĐ-TTg (2021). Đến năm 2021, tư duy quản lý nhà nước bắt đầu có sự dịch chuyển đáng kể. Quyết định số 221/QĐ-TTg bổ sung nội dung ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa vào nhóm giải pháp phát triển logistics, đánh dấu bước tiến từ cách tiếp cận “công nghệ thông tin hỗ trợ vận hành” sang nhận thức ban đầu về vai trò thiết yếu của chuyển đổi số. Tuy nhiên, chính sách giai đoạn này vẫn thiên về khuyến khích hơn là ràng buộc; thiếu một kiến trúc tổng thể về hệ thống số, dẫn tới việc DN triển khai số hóa theo hướng tự phát, phân tán. Dù vậy, Quyết định này đóng vai trò bản lề, tạo tiền đề cho một chiến lược chuyển đổi số toàn diện hơn sau này.

Giai đoạn nhảy vọt chiến lược - Quyết định số 2229/QĐ-TTg (2025). Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt trong tư duy chính sách logistics khi Chính phủ ban hành Quyết định số 2229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn 2050. Văn bản này đưa chuyển đổi số lên vị trí trụ cột của Chiến lược, ngang hàng với phát triển hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện thể chế. Không chỉ dừng ở việc khuyến khích ứng dụng công nghệ, Quyết định số 2229/QĐ-TTg định hình một mô hình vận hành logistics dựa trên hệ sinh thái số, thể hiện qua một số nội dung cốt lõi:

- Xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ chiến lược, gắn với mục tiêu hình thành chuỗi cung ứng thông minh và kết nối toàn diện.

- Lần đầu tiên đề xuất xây dựng hệ sinh thái nền tảng số logistics, thay vì số hóa rời rạc ở cấp DN.

- Yêu cầu phát triển cơ sở dữ liệu logistics quốc gia, bản đồ số hạ tầng logistics và cơ chế liên thông dữ liệu giữa DN - cơ quan quản lý - đối tác.

- Triển khai logistics đô thị, hải quan số, liên thông dữ liệu xuất nhập khẩu, nhằm nâng cao tính minh bạch và tối ưu chi phí.

- Hướng tới mô hình quản trị số toàn ngành, trong đó dữ liệu trở thành tài sản chiến lược và nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Quyết định số 2229/QĐ-TTg không chỉ mở rộng phạm vi chính sách mà còn đánh dấu sự thay đổi về chiều sâu, chuyển trọng tâm từ “ứng dụng công nghệ” sang “kiến tạo hệ sinh thái logistics số quốc gia”. Điều này đồng nghĩa DN muốn tham gia chuỗi giá trị mới buộc phải nâng cấp mức độ trưởng thành số (Digital Maturity), tăng cường khả năng tích hợp hệ thống và liên thông dữ liệu theo thời gian thực.

So sánh 3 giai đoạn cho thấy, tư duy chính sách về chuyển đổi số logistics đã tiến triển theo đường cong nâng cao dần về mức độ chiến lược và hệ thống. Có thể nhận diện 5 điểm mới nổi bật của Quyết định số 2229/QĐ-TTg: Một là, chuyển dịch tư duy từ “Công nghệ hỗ trợ” sang “Công nghệ định hình chiến lược”. Nếu Quyết định số 200/QĐ-TTg xem công nghệ thông tin như công cụ, Quyết định số 221/QĐ-TTg bắt đầu khuyến khích số hóa, thì Quyết định số 2229/QĐ-TTg đặt chuyển đổi số ở vị trí trụ cột, phản ánh sự trưởng thành của tư duy điều hành trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Hai là, định hình hệ sinh thái nền tảng số logistics, không còn tiếp cận theo từng DN riêng lẻ. Đây là thay đổi mang tính cấu trúc, mở đường cho tích hợp chuỗi cung ứng quốc gia. Ba là, xây dựng Cơ sở dữ liệu logistics quốc gia như điều kiện bắt buộc. Nội dung này trực tiếp giải quyết tình trạng phân mảnh dữ liệu - rào cản lớn nhất mà báo cáo USAID (2024) đã chỉ ra. Bốn là, mở rộng phạm vi chính sách sang lĩnh vực logistics đô thị và chuyển đổi xanh, phù hợp xu hướng quốc tế và nhu cầu phát triển bền vững. Năm là, đưa ra khái niệm thị trường công nghệ logistics, tiệm cận mô hình của các quốc gia đi trước như Đức, Hàn Quốc, Singapore, qua đó tạo động lực đổi mới sáng tạo và tăng cường cạnh tranh công nghệ.

Quyết định số 2229/QĐ-TTg không chỉ kế thừa 2 văn bản trước mà còn kiến tạo một khuôn khổ chính sách hoàn toàn mới, hướng tới hệ sinh thái logistics số thống nhất, tích hợp và bền vững. Đây là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh logistics quốc gia, đồng thời tạo động lực cho DN chuyển đổi số sâu rộng, đáp ứng yêu cầu phát triển của giai đoạn 2025-2035.

KẾT LUẬN

Chuyển đổi số đang trở thành động lực trọng yếu của ngành logistics Việt Nam. Thực trạng theo báo cáo USAID (2024) cho thấy mức độ trưởng thành số của DN logistics Việt Nam còn thấp và không đồng đều giữa các nhóm dịch vụ. Trong khi đó, Quyết định 2229/QĐ-TTg đã đưa ra một tầm nhìn chiến lược vượt trội, đặt chuyển đổi số ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển ngành logistics giai đoạn 2025-2035. Việc đối chiếu 3 văn bản cho thấy rõ sự phát triển mạnh mẽ trong tư duy chính sách: từ “công nghệ thông tin hỗ trợ” (2017), sang “khuyến khích số hóa” (2021) và tiến tới “chuyển đổi số toàn diện và hệ sinh thái số quốc gia” (2025). Sự thay đổi này phù hợp với xu hướng quốc tế và là điều kiện bắt buộc để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu trong bối cảnh mới.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa thực trạng và yêu cầu vẫn còn lớn. Để hiện thực hóa Chiến lược 2229/QĐ-TTg, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước - DN - hiệp hội trong việc xây dựng năng lực số, chuẩn hóa dữ liệu, đầu tư công nghệ và đổi mới mô hình vận hành. Chỉ khi đó, ngành logistics Việt Nam mới có thể chuyển mình mạnh mẽ, vươn lên trở thành một trụ cột của nền kinh tế số, đóng góp hiệu quả vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2017). Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/2/2017 phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025.

2. Chính phủ (2021). Quyết định số 221/QĐ-TTg ngày 22/02/2021 sửa đổi, bổ sung Quyết định 200/QĐ-TTg về phát triển dịch vụ logistics Việt Nam.

3. Chính phủ (2025). Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn 2050.

4. Hofmann, E., & Rüsch, M. (2017). Industry 4.0 and the current status as well as future prospects on logistics. Computers in Industry, 89, 23-34.

5. OECD (2022). Digital transformation in logistics and supply chain management. OECD Publishing.

6. Schumacher, A., Erol, S., & Sihn, W. (2019). A maturity model for assessing Industry 4.0 readiness and maturity of manufacturing enterprises. Procedia CIRP, 52, 161-166.

7. Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám Thống kê 2024. Nxb Thống kê.

8. USAID (2024). Digital Transformation in Vietnam’s Logistics Sector: Assessment Report 2024. United States Agency for International Development.

9. World Bank (2023). Connecting to Compete: The Logistics Performance Index 2023. World Bank Publications.

10. Zhong, R. Y., Huang, G. Q., Lan, S., Dai, Q., & Zhang, T. (2015). A big data approach for logistics trajectory discovery from RFID-enabled production data. International Journal of Production Economics, 165, 260-272.

Ngày nhận bài: 20/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/12/2025; Ngày duyệt đăng: 28/12/2025

Các tin khác

Quản trị chi phí đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực: Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Sao Đỏ

Quản trị chi phí đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực: Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Sao Đỏ

Quản trị chi phí đào tạo theo hoạt động giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, kiểm soát biến động chi phí và hỗ trợ phân bổ nguồn lực hợp lý.
Công nghệ thông tin y tế và minh bạch viện phí: Khoảng cách giữa nhân viên và người bệnh

Công nghệ thông tin y tế và minh bạch viện phí: Khoảng cách giữa nhân viên và người bệnh

Từ khi Nghị định số 60/2021/NĐ-CP có hiệu lực, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập chuyển mạnh sang cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên. Nguồn thu từ dịch vụ khám chữa bệnh, gồm viện phí do người bệnh chi trả và phần do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán, trở thành nguồn tài chính chủ yếu bảo đảm hoạt động của bệnh viện.
Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ

Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ

Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, FDI tiếp tục là nguồn lực quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh bổ sung vốn, FDI mang lại công nghệ, kỹ năng quản trị và cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội

Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội

Trải nghiệm đã trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng trong du lịch và khách sạn, phản ánh sự chuyển dịch từ việc chỉ xem xét sản phẩm hoặc chất lượng dịch vụ sang cách tiếp cận rộng hơn về những gì du khách cảm nhận, suy nghĩ và thực hiện trong quá trình tương tác với điểm đến.
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại  Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Trong bối cảnh kinh tế số và thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, thẻ tín dụng ngày càng trở thành sản phẩm quan trọng của ngân hàng bán lẻ nhờ khả năng hỗ trợ thanh toán, chi tiêu ngắn hạn, miễn lãi, trả góp, hoàn tiền và tích điểm.
Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) đang làm thay đổi hoạt động marketing, đặc biệt thông qua nội dung tiếp thị do AI tạo ra giúp doanh nghiệp sáng tạo nội dung nhanh hơn, tiết kiệm chi phí và nâng cao mức độ cá nhân hóa
Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) được Nhà nước giao phó trọng trách quản lý một quỹ đất có quy mô khổng lồ, trải dài qua hàng chục tỉnh, thành phố và gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển hàng thế kỷ của ngành đường sắt.
​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

Các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo đã chuyển dần từ cách tiếp cận coi đổi mới là kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển bên trong doanh nghiệp sang quan điểm hệ thống, trong đó đổi mới được hình thành thông qua tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường thể chế, các tổ chức tri thức và các mạng lưới kinh tế.
Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z không chỉ giải mã tâm lý sử dụng của nhóm đối tượng này, mà còn góp phần hỗ trợ cơ quan và doanh nghiệp địa phương triển khai các giải pháp, chính sách khắc phục ô nhiễm môi trường.
Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm cho giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh đó, vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng.