Chuyển đổi số hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Nghiên cứu - Trao đổi 10:15 | 30/05/2026
Sau hơn ba thập kỷ Đổi mới, Việt Nam đã vươn mình từ một quốc gia thu nhập thấp lên nhóm thu nhập trung bình thấp với vị thế quốc tế ngày càng cao. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng cũ dựa vào nhân công giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang dần chạm ngưỡng giới hạn.

Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Hoàng An Khang, Trần Thị Khánh Ninh

Nguyễn Thị Xuân Mai, Trần Thị Ngọc Ánh, Phạm Hoàng Trúc Minh

Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích thực trạng phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2022-2025 gắn với Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số. Dựa trên dữ liệu Báo cáo Phát triển bền vững và số liệu kinh tế vĩ mô, bài viết làm rõ vai trò của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong công nghiệp qua mô hình chuyển đổi kép. Đồng thời nhận diện các điểm nghẽn trong chuyển đổi số hướng đến phát triển bền vững tại các doanh nghiệp Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số hướng đến phát triển bền vững tại các doanh nghiệp Việt Nam.

Từ khóa: Phát triển bền vững, chuyển đổi số, Việt Nam

Abstract

This article analyzes the current state of sustainable development in Viet Nam during the period 2022-2025, in the context of the Fourth Industrial Revolution and digital transformation. Based on Sustainable Development Reports and macroeconomic data, the study clarifies the role of digital transformation and artificial intelligence in industry through the dual transformation model. At the same time, it identifies major bottlenecks in digital transformation toward sustainable development among Vietnamese enterprises. On that basis, the article proposes several solutions to promote digital transformation in support of sustainable development in Vietnamese enterprises.

Keywords: Sustainable development, digital transformation, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Sau hơn ba thập kỷ Đổi mới, Việt Nam đã vươn mình từ một quốc gia thu nhập thấp lên nhóm thu nhập trung bình thấp với vị thế quốc tế ngày càng cao. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng cũ dựa vào nhân công giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang dần chạm ngưỡng giới hạn, đặt ra thách thức về “bẫy thu nhập trung bình”. Trong bối cảnh đó, Cách mạng công nghiệp 4.0 và trí tuệ nhân tạo (AI) được xác định là đòn bẩy chiến lược để hiện thực hóa tầm nhìn “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Chuyển đổi số tại Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc áp dụng công nghệ mà còn hướng tới năng lực tự chủ và phát triển bền vững. Sự giao thoa giữa chiến lược số hóa và cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 đòi hỏi một lộ trình “nâng cao năng suất có trách nhiệm”, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Năm 2025 ghi nhận đà phục hồi vững chắc với mức tăng trưởng GDP đạt 8,02%, cải thiện rõ rệt so với mức 7,09% của năm 2024, vượt qua biến động của kinh tế toàn cầu. Động lực chính đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là ngành chế biến, chế tạo với tốc độ tăng trưởng ấn tượng và ổn định qua các quý. Ngành xây dựng cũng khởi sắc nhờ đẩy mạnh đầu tư công và sự hồi phục của thị trường bất động sản.

Với vai trò dẫn dắt nổi bật của ngành chế biến, chế tạo trong năm 2025, bài viết này tập trung đánh giá thực trạng phát triển bền vững thông qua chỉ số tổng hợp phát triển bền vững (SDG), đi sâu vào 2 mục tiêu cốt lõi: Việc làm bền vững và tăng trưởng kinh tế (SDG8) cùng Công nghiệp, đổi mới sáng tạo và hạ tầng (SDG9) trong giai đoạn 2022-2025. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các hàm ý chính sách nhằm chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành động lực tăng trưởng bao trùm, phù hợp với định hướng dài hạn của quốc gia.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG KỶ NGUYÊN CÔNG NGHỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2022-2025

Bức tranh phát triển bền vững Việt Nam

Bảng 1: Điểm phát triển bền vững qua SDG và thứ hạng của Việt Nam trong giai đoạn 2022-2025

2022

2023

2024

2025

Điểm SDG

72,8

73,3

73,3

73,4

Hạng

55

55

54

61

Nguồn: Báo cáo phát triển bền vững của Liên hợp quốc

Số liệu (Bảng 1) cho thấy, chỉ số SDG của Việt Nam có xu hướng tăng song mức cải thiện còn nhỏ và có dấu hiệu chậm lại. Cụ thể, chỉ số này tăng từ 72,8 lên 73,3 trong năm 2023 (tăng +0,5 điểm) - đây là mức tiến bộ lớn nhất trong chuỗi thời gian. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến năm 2024, điểm số giữ nguyên ở 73,3, hàm ý tiến trình thực hiện SDGs có thể đang chậm lại hoặc các nỗ lực mới chưa đủ lớn để tạo đột phá trên thang đo tổng hợp. Sang năm 2025, chỉ số cải thiện nhẹ lên mức 73,4 (+0,1 so với năm trước). Tổng giai đoạn 2022-2025, mức tăng lũy kế chỉ đạt +0,6 điểm (trung bình khoảng +0,2 điểm/năm), phản ánh nhu cầu cấp thiết phải nỗ lực mạnh mẽ hơn cho phát triển bền vững. Về thứ hạng quốc tế, Việt Nam duy trì vị trí 55 trong 2 năm (2022-2023), tiến nhẹ lên hạng 54 vào 2024, nhưng lại tụt xuống hạng 61 vào năm 2025 (giảm 7 bậc). Điều đáng lưu ý là thứ hạng sụt giảm dù điểm SDG vẫn tăng nhẹ, cho thấy tốc độ cải thiện của Việt Nam đang chậm hơn so với mặt bằng chung của nhiều quốc gia, khiến vị trí tương đối bị thu hẹp.

Hình 1: Mức độ đạt được các mục tiêu SDG của Việt Nam năm 2025

Chuyển đổi số hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Nguồn: Báo cáo phát triển bền vững 2025

Theo Hình 1, bức tranh phát triển bền vững của Việt Nam thể hiện cả những tiến bộ đáng ghi nhận lẫn các “nút thắt” cấu trúc cần được ưu tiên tháo gỡ trong giai đoạn sắp tới. Về mức hoàn thành, Việt Nam chỉ hoàn thành đầy đủ SDG4 (Giáo dục chất lượng - biểu thị màu xanh), tuy nhiên xu hướng của chỉ tiêu này lại cho thấy trạng thái chững lại (biểu tượng mũi tên ngang), ngụ ý rằng các thành quả hiện có cần được củng cố thông qua nâng cao chất lượng, thu hẹp khoảng cách tiếp cận và cải thiện đầu ra giáo dục để không rơi vào tình trạng “bẫy duy trì”. Kết quả đánh giá cũng nêu bật một số thách thức trọng yếu: SDG10 (Giảm bất bình đẳng) đang ở mức thách thức đáng kể và có chiều hướng xấu đi, cảnh báo về nguy cơ thu hẹp tính bao trùm của tăng trưởng. Đáng chú ý, các mục tiêu thuộc nhóm thách thức lớn như SDG11 (Đô thị bền vững), SDG14 (Tài nguyên biển), SDG15 (Hệ sinh thái đất liền) đều duy trì xu hướng trì trệ, phản ánh những vấn đề dai dẳng trong quản lý đô thị hóa, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Ở chiều tích cực, SDG1 (Xóa nghèo) tuy thuộc nhóm “còn thách thức” nhưng có xu hướng cải thiện rõ rệt (biểu tượng mũi tên xanh hướng lên), phản ánh tiến bộ trong xóa đói giảm nghèo và an sinh cơ bản; dù vậy, các rủi ro tái nghèo, phân hóa vùng miền và khoảng cách đối với nhóm yếu thế vẫn còn hiện hữu. Bên cạnh đó, các mục tiêu SDG2, SDG3, SDG6, SDG7, SDG8, SDG9 và SDG17 đều thể hiện xu hướng cải thiện ở mức vừa phải, cho thấy Việt Nam đang tiến bộ trên nhiều trụ cột nhưng tốc độ chưa đủ nhanh so với yêu cầu để hoàn thành mục tiêu vào năm 2030.

Vai trò của công nghệ trong phát triển bền vững của Việt Nam

Chuyển đổi số trong một số ngành công nghiệp

Điện tử và bán dẫn: Việt Nam ngày càng củng cố vị thế là một trung tâm sản xuất điện tử hàng đầu khu vực, với tổng giá trị xuất khẩu điện tử vượt ngưỡng 165 tỷ USD trong năm 2025, chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu quốc gia (Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương, 2025). Quá trình số hóa trong ngành đang chuyển dịch từ hoạt động lắp ráp đơn giản sang các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, nhất là lĩnh vực bán dẫn - được xem là “nền tảng xương sống” của nền kinh tế số. Quyết định số 1018/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, tầm nhìn 2050, đã bước đầu ghi nhận kết quả tích cực, điển hình là thu hút được vốn đầu tư từ các tập đoàn công nghệ lớn. Chiến lược dựa trên 3 trụ cột chính: đào tạo nhân lực (phối hợp với các đại học quốc tế nhằm đạt 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030), thu hút FDI (vốn đầu tư nước ngoài vào bán dẫn tăng 30% so với năm trước) và từng bước làm chủ công nghệ trong thiết kế, đóng gói - kiểm định và sản xuất.

Sản xuất chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì vai trò động lực tăng trưởng hàng đầu, đóng góp lớn vào chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP). Trong nhóm ngành này, quá trình số hóa diễn ra nhanh hơn ở các doanh nghiệp quy mô lớn, nơi triển khai rộng rãi các giải pháp như hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP/MES), internet vạn vật công nghiệp (IIoT), tự động hóa bằng robot, thị giác máy tính phục vụ kiểm soát chất lượng, và bảo trì dự báo dựa trên phân tích dữ liệu lớn. Tiêu biểu, các cơ sở lắp ráp điện tử (Foxconn, Pegatron) và nhà máy sản xuất ô tô (VinFast) đã áp dụng mô hình sản xuất thông minh, nhờ đó giảm thời gian ngừng máy lên tới 40% và nâng cao đáng kể năng suất lao động (Bảng 2).

Bảng 2: Phân tích các điển hình Chuyển đổi kép trong công nghiệp Việt Nam (2022-2025)

Doanh nghiệp

Lĩnh vực

Công nghệ Áp dụng

Hiệu quả Bền vững (Môi trường & Kinh tế)

Vinamilk

Thực phẩm và Đồ uống

- Robot tự hành (LGV/AGV) trong kho vận.

- Hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001.

- Công nghệ thu hồi nhiệt và nước.

- Giảm 70% năng lượng tại các kho thông minh.

- Tái sử dụng gần 5% nước, thu hồi nhiệt dư.

- Đạt chứng nhận trung hòa carbon (PAS 2060) cho một số nhà máy.

Hòa Phát

Luyện kim (Thép)

- Công nghệ thu hồi nhiệt dư luyện cốc phát điện.

- Dây chuyền sản xuất tuần hoàn khép kín.

- Tự động hóa quy trình nạp liệu.

- Tự chủ 90% điện sản xuất tại khu liên hợp Dung Quất.

- Tiết kiệm ~3.500 tỷ đồng chi phí điện/năm.

- Giảm hàng triệu tấn CO2 phát thải gián tiếp.

VinFast

Ô tô điện

- Cánh tay robot tự động hóa cao (hàn, sơn, lắp ráp).

- Hệ thống quản lý tòa nhà (BMS) thông minh.

- Tái chế chất thải quy mô lớn.

- Tiết kiệm 2,7 triệu kWh điện (2024).

- Tỷ lệ tái chế chất thải đạt 89,2%.

- Tiên phong trong sản phẩm xanh (EV) bằng quy trình xanh.

Viettel IDC

Hạ tầng số

- Công nghệ làm mát đoạn nhiệt (Adiabatic Cooling).

- Sử dụng năng lượng tái tạo cho Data Center.

- Quản lý DCIM tích hợp AI.

- Giảm các chỉ số về sử dụng năng lượng.

- Đạt các chứng chỉ xanh quốc tế.

- Xây dựng hạ tầng bền vững cho nền kinh tế số.

Nguồn: Tổng hợp thông tin của tác giả

Dữ liệu (Bảng 2) minh chứng rằng, công nghệ không chỉ đơn thuần thúc đẩy năng suất mà còn là công cụ trực tiếp giải quyết bài toán năng lượng và sinh thái. Trường hợp tiêu biểu của Hòa Phát cho thấy, việc ứng dụng công nghệ thu hồi nhiệt không chỉ giúp “xanh hóa” ngành thép - vốn được xếp vào nhóm ngành gây ô nhiễm nặng mà còn mang lại lợi thế cạnh tranh vượt trội nhờ tự chủ nguồn năng lượng, tạo nên hình mẫu kinh tế tuần hoàn được hiện thực hóa thông qua ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ tại Việt Nam còn khiêm tốn, nhất là ở khối doanh nghiệp nhỏ và vừa với tỷ lệ áp dụng công nghệ hiện đại chỉ đạt 15%-20% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2024). Nguyên nhân chính bao gồm chi phí đầu tư lớn, thiếu hụt kỹ năng số và hạ tầng kết nối chưa đồng đều. Bên cạnh lợi thế dân số trẻ, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực chuyên sâu, khoảng cách giữa chương trình đào tạo đại học và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn còn lớn. Nguy cơ “chảy máu chất xám” khi nhân tài công nghệ di cư ra nước ngoài hoặc làm việc cho doanh nghiệp FDI nhưng không chuyển giao được tri thức cho khu vực kinh tế nội địa là vấn đề cần được quan tâm.

Logistics và hạ tầng số cho thương mại. Sự bùng nổ thương mại điện tử và kinh tế số đã thúc đẩy làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ trong lĩnh vực logistics, với quy mô kinh tế số Việt Nam đạt 30 tỷ USD năm 2025, duy trì tốc độ tăng trưởng 2 chữ số (Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương, 2025). Sự dịch chuyển này thay đổi căn bản cấu trúc nhu cầu, từ vận tải truyền thống sang các nền tảng số hóa tích hợp - tối ưu tuyến đường bằng AI, dự báo nhu cầu thông qua machine learning, quản lý tồn kho thông minh, qua đó tiết giảm 10%-15% chi phí logistics và giảm thiểu phát thải carbon. Các đơn vị như Viettel Post và GHTK đã tích cực đầu tư vào drone giao hàng, hệ thống giám sát thời gian thực, tận dụng tỷ lệ phổ cập smartphone (trên 80% dân số) và sự gia tăng thanh toán số (tăng 50% so với 2023). Song, hạ tầng số vẫn là nút thắt quan trọng: mức phủ sóng 5G chỉ đạt 60% tại các đô thị, gây ảnh hưởng đến hiệu quả chuỗi cung ứng; đồng thời, thiếu tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất tạo rào cản cho tích hợp xuyên biên giới.

Ứng dụng AI trong doanh nghiệp

Giai đoạn 2023-2025 chứng kiến sự thâm nhập ngày càng sâu rộng của AI, đặc biệt AI Tạo Sinh (Generative AI), vào hoạt động cốt lõi của nền kinh tế. Bước chuyển mình này không chỉ cải thiện hiệu quả vận hành mà còn mở ra triển vọng tái cấu trúc toàn diện các lĩnh vực sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng bền vững gắn với đổi mới sáng tạo.

Việt Nam đang nổi lên như một điểm sáng trên bản đồ AI toàn cầu. Theo Chỉ số Sẵn Sàng AI Chính Phủ 2024 của Oxford Insights, quốc gia xếp hạng 59/193 và đứng thứ 5 khu vực ASEAN, với đà thăng hạng ổn định qua các năm (Oxford Insights, 2024). Trong Chỉ số AI Thế giới 2025 (WIN), Việt Nam xếp thứ 6/40 với 59,2 điểm, nổi bật ở vị trí thứ 3 toàn cầu về mức độ tin tưởng AI (65,6 điểm) và thứ 5 về mức độ chấp nhận AI (WIN MR, 2025). Đáng chú ý, 81% người dùng Việt Nam tương tác với AI hàng ngày - vượt trội so với mức trung bình toàn cầu, cho thấy một thị trường nội địa sẵn sàng tiếp nhận và thử nghiệm công nghệ mới (Google, Temasek & Bain & Company, 2025). Hệ sinh thái đổi mới nhờ đó được nuôi dưỡng, tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của AI trong bối cảnh kinh tế số

AI nói chung và AI tạo sinh (GenAI) nói riêng đang dần chuyển từ vai trò hỗ trợ sang trở thành nguồn “tạo giá trị kinh doanh thực thụ”. Theo dữ liệu của Amazon Web Services (AWS), đến cuối năm 2024, khoảng 170.000 doanh nghiệp - tương đương 18% tổng số doanh nghiệp Việt Nam đã triển khai các giải pháp AI, với tốc độ tăng trưởng 39% so với năm trước. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, GenAI không còn giới hạn ở các ứng dụng phụ trợ (viết mã, tiếp thị) mà đang tái định hình sâu sắc quy trình vận hành: (1) Nghiên cứu và phát triển sản phẩm: Các doanh nghiệp cơ khí và chế tạo sử dụng Generative Design để tối ưu thiết kế, tiết giảm nguyên vật liệu trong khi vẫn đảm bảo chất lượng, từ đó rút ngắn đáng kể chu kỳ đưa sản phẩm ra thị trường; (2) Bảo trì dự đoán: Phối hợp IoT với AI để phân tích dữ liệu vận hành thiết bị theo thời gian thực, dự báo sự cố trước khi xảy ra. GenAI còn tạo dữ liệu mô phỏng cho các trường hợp lỗi hiếm gặp, bổ khuyết cho hạn chế dữ liệu thực tế và nâng cao độ tin cậy của mô hình; (3) Tối ưu chuỗi cung ứng: AI xử lý hàng triệu điểm dữ liệu để dự báo nhu cầu một cách tinh vi, cắt giảm tồn kho dư thừa, hạn chế lãng phí, qua đó đóng góp trực tiếp vào các mục tiêu phát triển bền vững.

Tuy vậy, khoảng cách số hóa giữa các nhóm doanh nghiệp vẫn là vấn đề đáng quan ngại. Trong khi 35% startup đang ứng dụng AI để phát triển sản phẩm hoàn toàn mới, chỉ 11% doanh nghiệp lớn làm được điều tương tự. Sự khác biệt bắt nguồn từ việc startup sẵn sàng áp dụng AI tiên tiến (43% sử dụng công cụ phức tạp), trong khi doanh nghiệp lớn thiên về tự động hóa cơ bản (AWS & Strand Partners, 2025). Phần lớn các tập đoàn vẫn đang vật lộn với giai đoạn số hóa nền tảng hoặc mới chỉ ứng dụng AI cho các tác vụ văn phòng đơn giản, chưa thực sự tích hợp vào cốt lõi quy trình sản xuất.

Đánh giá chung về thực trạng phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2022-2025

Nhìn tổng thể giai đoạn 2022-2025, Việt Nam ghi nhận sự cải thiện nhất định nhưng chưa tạo được bước đột phá trong phát triển bền vững. Thành tựu tăng trưởng kinh tế nổi bật phần lớn nhờ vào quyết tâm chính trị về đổi mới công nghệ, kiến tạo khung chiến lược đồng bộ từ định hướng vĩ mô đến triển khai vi mô tại doanh nghiệp. Dấu ấn của công nghệ trong ngành công nghiệp ngày càng rõ nét: chuyển đổi số và tự động hóa lan tỏa trong điện tử, bán dẫn, chế biến,chế tạo, logistics; triển khai rộng rãi ERP/MES, IIoT, robot, thị giác máy tính; cùng sự thâm nhập sâu của AI/GenAI hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (R&D), bảo trì dự đoán và tối ưu chuỗi cung ứng, qua đó thúc đẩy năng suất và sử dụng nguồn lực hiệu quả.

Tuy nhiên, phân tích cũng chỉ ra rằng, Việt Nam chưa khai thác hết tiềm năng phát triển bền vững, thể hiện qua sự sụt giảm thứ hạng SDG trên bảng xếp hạng quốc tế. Điểm nghẽn cốt yếu nằm ở sự lan tỏa công nghệ thiếu đồng đều, nhất là tại nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chi phí đầu tư cao, thiếu hụt kỹ năng số, hạ tầng kết nối hạn chế, cùng khoảng cách trong triển khai AI “sâu” trong sản xuất là những rào cản chính; bên cạnh đó, hạ tầng số logistics và tiêu chuẩn dữ liệu liên thông chưa hoàn thiện cũng làm giảm tác động bền vững trên diện rộng. Một thách thức quan trọng khác ít được nhắc tới là nhu cầu năng lượng khổng lồ từ hạ tầng công nghệ số. Các trung tâm dữ liệu và mô hình AI tiêu thụ lượng điện rất lớn, trong khi lưới điện quốc gia vốn đã gặp áp lực cung ứng vào mùa cao điểm. Nếu bài toán “điện xanh” cho hạ tầng số không được giải quyết, Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong thu hút các tập đoàn công nghệ lớn đầu tư hạ tầng quy mô.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2026–2030

Để biến tầm nhìn phát triển đến năm 2045 thành hiện thực, Việt Nam cần kiến tạo một hệ thống chính sách đồng bộ và toàn diện, tập trung vào khắc phục các điểm nghẽn đồng thời phát huy tối đa các động lực tăng trưởng đã nhận diện. Bốn nhóm chính sách trọng tâm bao gồm: (1) Hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ, tạo môi trường đầu tư an toàn, minh bạch và bảo vệ dữ liệu; (2) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số; (3) Hỗ trợ chuyển đổi công nghệ cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa; (4) Đầu tư hạ tầng kép (số và xanh) làm nền tảng vật chất cho tăng trưởng bền vững. Cụ thể:

Về khung pháp lý, cần triển khai hiệu quả Luật Trí tuệ nhân tạo (được thông qua tháng 12/2025 có hiệu lực từ tháng 3/2026) và Nghị định số 142/2026/NĐ-CP ngày 30/4/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ và lưu thông dữ liệu, coi dữ liệu là tài sản chiến lược quốc gia. Các quy định rõ ràng về quyền sở hữu, định giá và giao dịch dữ liệu sẽ góp phần xây dựng thị trường dữ liệu minh bạch (data marketplace), kết hợp thực thi nghiêm Luật Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân nhằm tạo dựng niềm tin số cho cả người dân và doanh nghiệp.

Về nguồn nhân lực, cần đổi mới giáo dục đại học theo hướng gắn kết chặt chẽ với thực tiễn sản xuất. Các cơ sở đào tạo nên được khuyến khích hợp tác trực tiếp với tập đoàn công nghệ - theo mô hình Đại học FPT hay các chương trình đào tạo của Samsung để sinh viên tiếp xúc công nghệ tiên tiến ngay từ giảng đường, thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành. Ngoài ra, cần xây dựng chính sách thu hút nhân tài toàn cầu, gồm chương trình visa chuyên biệt (Tech Visa) và các ưu đãi thuế thu nhập, nhằm khuyến khích chuyên gia AI, bán dẫn người Việt ở nước ngoài cùng chuyên gia quốc tế đến Việt Nam cống hiến, qua đó thúc đẩy chuyển giao tri thức và nâng tầm năng lực cạnh tranh quốc gia.

Về hỗ trợ chuyển đổi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), cần thiết kế các gói tài chính xanh - số với sự phối hợp của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, bao gồm tín dụng ưu đãi cho dự án chuyển đổi. Đặc biệt, việc chấp nhận tài sản vô hình (phần mềm, dữ liệu, sở hữu trí tuệ) làm tài sản bảo đảm sẽ hạ thấp rào cản tài chính, khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Bên cạnh đó, cần nhân rộng mô hình nhà máy mẫu (model factories) - những điển hình thành công về chuyển đổi số và xanh trong từng ngành để doanh nghiệp có thể tham quan, học tập trực tiếp. Phương pháp “học qua quan sát thực tế” này hiệu quả hơn nhiều so với tiếp cận lý thuyết thuần túy trong việc thay đổi tư duy quản trị và lan tỏa chuyển đổi trên diện rộng.

Về hạ tầng kép (số hóa và xanh), cần quy hoạch nguồn điện cho trung tâm dữ liệu thông qua cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), cho phép các trung tâm tiếp cận trực tiếp nguồn năng lượng tái tạo từ nhà sản xuất. Giải pháp này vừa đáp ứng nhu cầu năng lượng lớn của hạ tầng số, vừa đảm bảo tuân thủ tiêu chuẩn xanh và hỗ trợ mục tiêu bền vững. Nhà nước nên đầu tư hoặc huy động hợp tác công-tư xây dựng hạ tầng tính toán quốc gia hiệu năng cao, cung cấp năng lực tính toán AI dùng chung cho viện nghiên cứu, trường đại học và startup, giúp các tổ chức này vượt qua rào cản tài chính mà không cần đầu tư hạ tầng riêng lẻ. Mô hình chia sẻ hạ tầng sẽ tối ưu hóa nguồn lực, thúc đẩy hợp tác và nâng cao hiệu quả tổng thể của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Việt Nam đang ở thời điểm mang tính bước ngoặt, nơi sự hội tụ giữa khát vọng quốc gia, năng lực công nghệ và xu thế thời đại kiến tạo một nền tảng vững chắc cho phát triển. Giai đoạn 2022-2025 đã ghi dấu nhiều bước đi chiến lược đúng đắn: từ xác lập khung pháp lý với Luật AI, định hình chiến lược bán dẫn, đến sự chuyển mình mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp trong mô hình “Chuyển đổi kép”. Song, hành trình đến năm 2045 không trải thảm nhung. Các thách thức về nhân lực, năng lượng và năng lực thực thi chính sách đều là những rào cản cần vượt qua. Thành công của Việt Nam sẽ phụ thuộc lớn vào khả năng làm chủ công nghệ, sáng tạo và ứng dụng nó vào giải quyết các bài toán phát triển bền vững mang tính đặc thù của quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

1. Amazon Web Services (AWS) (2025). New AWS research shows strong AI adoption momentum in Vietnam.

2. AWS & Strand Partners. (2025). Unlocking Vietnam’s AI Potential. Amazon Web Services.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Báo cáo thường niên Chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 2024.

4. Chính phủ Việt Nam (2024). Quyết định số 1018/QĐ-TTg ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050.

5. Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương (2025). Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2025.

6. Google, Temasek & Bain & Company (2025). e-Conomy SEA 2025: Vietnam Report.

7. FPT (2024). Báo cáo ESG.

8. Hòa Phát Group (2024). Báo cáo thường niên.

9. Liên hợp quốc (2022, 2023, 2024, 2025). Báo cáo Phát triển bền vững.

10. Oxford Insights. (2024). Government AI Readiness Index 2024.

11. Vinamilk. (2024). Báo cáo Phát triển bền vững.

12. Viettel IDC (2024). Báo cáo Phát triển bền vững.

13. Vingroup (2025). Báo cáo Phát triển bền vững.

14. WIN MR. (2025). WIN World AI Index 2025. Worldwide Independent Network of Market Research and Opinion Poll.

Ngày nhận bài: 21/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 24/5/2026; Ngày duyệt bài: 29/5/2026

Các tin khác

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi theo hướng phát thải thấp nhằm đồng thời thực hiện cam kết đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050 và đáp ứng những tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn.
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Dệt may là ngành xuất khẩu và tạo việc làm quan trọng của Việt Nam, nhưng lợi thế dựa vào lao động dồi dào, gia công và chi phí thấp đang chịu sức ép từ tăng tiền lương, giao hàng nhanh, truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh và tự động hóa.
Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam

Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam

Trên thế giới, công nghệ này đã được ứng dụng trong các nền tảng truy xuất thực phẩm. Tại Việt Nam, blockchain cũng ngày càng được quan tâm trong quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam

Khác với các làn sóng tự động hóa trước đây vốn tập trung vào các nhiệm vụ thủ công, lặp lại, GenAI có khả năng hỗ trợ hoặc thay thế các nhiệm vụ nhận thức và xử lý thông tin, vốn là nhóm nhiệm vụ gắn liền với lao động văn phòng và trình độ cao.