Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP. Đồng Nai
Lâm Ngọc Nhẫn
Giảng viên, Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Lạc Hồng; Email: ngocnhan@lhu.edu.vn
Trần Ngọc Mỹ
Sinh viên, Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Lạc Hồng; Email: [email protected]
Đinh Thị Xuân Trang (Tác giả liên hệ)
Sinh viên, Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Lạc Hồng; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP. Đồng Nai. Kết quả cho thấy, 8 yếu tố đều tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh, gồm: Năng lực quản lý của lãnh đạo, Chất lượng nguồn nhân lực, Năng lực tài chính, Năng lực quản trị chuỗi cung ứng, Định hướng thị trường, Chất lượng hạ tầng khu công nghiệp, Năng lực chuyển đổi số và chính sách, Môi trường hỗ trợ. Kết quả là cơ sở đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và cơ quan quản lý tại Đồng Nai.
Từ khóa: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, FDI, hiệu quả hoạt động kinh doanh, TP. Đồng Nai
Abstract
This study aims to identify and measure the factors affecting the business performance of foreign direct investment (FDI) enterprises in Dong Nai City. The results indicate that all eight factors have positive and statistically significant effects on business performance: leadership management capability, human resource quality, financial capacity, supply chain management capability, market orientation, industrial park infrastructure quality, digital transformation capability and policies, and the support environment. These findings provide a basis for proposing managerial and policy implications for FDI enterprises and management authorities in Dong Nai.
Keywords: Foreign direct investment enterprises, FDI, business performance, Dong Nai City
GIỚI THIỆU
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vai trò quan trọng đối với sản xuất, xuất khẩu và hội nhập kinh tế của Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký đạt 34,65 tỷ USD và vốn thực hiện đạt 13,03 tỷ USD (Cục Đầu tư nước ngoài, 2026). Tại Đồng Nai, hệ thống khu công nghiệp tạo nền tảng cho hoạt động sản xuất của khu vực FDI, nhưng doanh nghiệp đồng thời phải đối mặt với áp lực về chi phí lao động, chất lượng nhân lực, đổi mới công nghệ, biến động thị trường và yêu cầu kiểm soát chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh đó, hiệu quả kinh doanh phụ thuộc đồng thời vào nguồn lực bên trong và điều kiện môi trường bên ngoài. Các nghiên cứu trước đã xem xét riêng lẻ hoặc theo từng nhóm yếu tố như quản lý, nhân lực, tài chính, công nghệ, thị trường và chính sách; tuy nhiên, bằng chứng về tác động đồng thời của các nhóm yếu tố này đối với doanh nghiệp FDI trong bối cảnh địa phương còn hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu tập trung xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của tám nhóm yếu tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI tại TP. Đồng Nai, qua đó đề xuất hàm ý quản trị và chính sách phù hợp.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Doanh nghiệp FDI và bối cảnh hoạt động tại khu công nghiệp
Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài và hoạt động trong môi trường chịu tác động đồng thời của chiến lược doanh nghiệp, điều kiện thị trường và môi trường đầu tư tại địa phương. Tại các khu công nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI gắn với khả năng tổ chức nguồn lực, tiếp cận hạ tầng, phối hợp chuỗi cung ứng, ứng dụng công nghệ và tận dụng các cơ chế hỗ trợ. Vì vậy, phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp FDI cần xem xét cả năng lực nội tại và các điều kiện bên ngoài doanh nghiệp.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động kinh doanh phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng nguồn lực để tạo ra kết quả trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong nghiên cứu này, hiệu quả hoạt động kinh doanh được tiếp cận theo góc độ kết quả tổng hợp, thể hiện khả năng duy trì và cải thiện kết quả kinh doanh thông qua việc sử dụng nguồn lực, thích ứng với thị trường và khai thác các điều kiện hỗ trợ. Cách tiếp cận này phù hợp với mục tiêu đánh giá đồng thời tác động của các yếu tố quản trị, nhân lực, tài chính, chuỗi cung ứng, thị trường, hạ tầng, công nghệ và chính sách.
Các lý thuyết nền tảng
Cách tiếp cận dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV) cho rằng, lợi thế và kết quả của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn lực có giá trị và khó thay thế (Barney, 1991). Quan điểm năng lực động bổ sung rằng doanh nghiệp cần khả năng tích hợp và tái cấu hình nguồn lực để thích ứng với thay đổi của môi trường (Teece và cộng sự, 1997). Hai cách tiếp cận này cung cấp nền tảng giải thích vai trò của năng lực quản lý, nguồn nhân lực, năng lực tài chính và chuyển đổi số đối với hiệu quả kinh doanh.
Bên cạnh đó, định hướng thị trường giúp doanh nghiệp nhận biết và phản ứng với nhu cầu thị trường (Narver và Slater, 1990), trong khi tích hợp chuỗi cung ứng hỗ trợ phối hợp dòng hàng, thông tin và quan hệ giữa các đối tác (Flynn và cộng sự, 2010). Năng lực công nghệ có thể tạo điều kiện hình thành năng lực động và cải thiện thành quả cạnh tranh (Mikalef và Pateli, 2017). Đối với doanh nghiệp FDI, chất lượng hạ tầng và môi trường chính sách còn tạo ra các điều kiện nền tảng cho hoạt động sản xuất, logistics và tiếp cận nguồn lực.
Tổng quan nghiên cứu
Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, hiệu quả hoạt động kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhóm yếu tố. Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) ghi nhận vai trò của trình độ quản lý, chính sách hỗ trợ và quy mô doanh nghiệp. Theo Nguyễn Nam Hải (2018), khả năng thanh toán, tăng trưởng, thủ tục hành chính, tiếp cận tín dụng và trình độ lao động có liên quan đến hiệu quả doanh nghiệp. Nghiên cứu của Đỗ Tuấn Vũ (2023) tiếp tục xác định vai trò của nhân lực, tài chính, công nghệ, marketing, chuyển đổi số, chính sách hỗ trợ và năng lực lãnh đạo; Phạm Quang Huy và cộng sự (2024) nhấn mạnh, tác động của chuỗi cung ứng, công nghệ và nguồn nhân lực.
Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở các lý thuyết nền tảng và kết quả lược khảo, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
Năng lực tài chính (NLTC) phản ánh khả năng bảo đảm và phân bổ nguồn lực cho hoạt động sản xuất, đầu tư và ứng phó biến động; các nghiên cứu trong nước cũng ghi nhận vai trò của tài chính và tiếp cận vốn đối với hiệu quả doanh nghiệp (Nguyễn Nam Hải, 2018; Đỗ Tuấn Vũ, 2023). Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H1: Năng lực tài chính tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
Chất lượng nguồn nhân lực (NNL) thể hiện trình độ, kỹ năng và khả năng đáp ứng yêu cầu công việc; nguồn nhân lực có chất lượng hỗ trợ năng suất và khả năng thích ứng của doanh nghiệp (Đỗ Tuấn Vũ, 2023; Phạm Quang Huy và cộng sự, 2024). Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H2: Chất lượng nguồn nhân lực tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI
Năng lực quản lý của lãnh đạo (NLQL) phản ánh khả năng hoạch định, tổ chức và ra quyết định; năng lực quản lý tốt giúp doanh nghiệp sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn (Đỗ Tuấn Vũ, 2023). Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H3: Năng lực quản lý của lãnh đạo tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
Năng lực chuyển đổi số (CDS) thể hiện khả năng ứng dụng công nghệ số vào quản trị và vận hành, qua đó hỗ trợ tái cấu hình nguồn lực và nâng cao thành quả cạnh tranh (Mikalef và Pateli, 2017). Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H4: Năng lực chuyển đổi số tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
Năng lực quản trị chuỗi cung ứng (NLCU) phản ánh khả năng phối hợp dòng hàng, thông tin và quan hệ với đối tác; mức độ tích hợp tốt có thể cải thiện kết quả hoạt động (Flynn và cộng sự, 2010; Phạm Quang Huy và cộng sự, 2024). Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H5: Năng lực quản trị chuỗi cung ứng tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
Chất lượng hạ tầng khu công nghiệp (HTKCN) thể hiện mức độ đáp ứng của giao thông, điện, nước, viễn thông và dịch vụ phục vụ sản xuất; hạ tầng thuận lợi giúp giảm gián đoạn và hỗ trợ hoạt động ổn định. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H6: Chất lượng hạ tầng khu công nghiệp tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
Chính sách và môi trường hỗ trợ (CSHT) phản ánh mức độ thuận lợi của thủ tục và cơ chế hỗ trợ; các nghiên cứu trước ghi nhận chính sách hỗ trợ có liên quan tích cực đến kết quả doanh nghiệp (Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam, 2011; Đỗ Tuấn Vũ, 2023). Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H7: Chính sách và môi trường hỗ trợ tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
Định hướng thị trường (DHTT) phản ánh khả năng nhận biết và phản ứng trước nhu cầu khách hàng và đối thủ; định hướng thị trường có liên hệ với kết quả kinh doanh tốt hơn (Narver và Slater, 1990). Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H8: Định hướng thị trường tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng. Bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức. Đối tượng khảo sát là những cá nhân am hiểu tình hình hoạt động của doanh nghiệp, gồm Ban Giám đốc, nhân viên kế toán, tài chính, cán bộ quản lý và các vị trí có hiểu biết phù hợp về hoạt động của đơn vị.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Với 45 biến quan sát và nguyên tắc tối thiểu 5 quan sát cho một biến (Hair và cộng sự, 2019), cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 225 quan sát. Khảo sát được thực hiện trong khoảng thời gian tháng 5 và tháng 6/2026 bằng 2 hình thức: khảo sát trực tiếp tại doanh nghiệp và khảo sát trực tuyến thông qua biểu mẫu điện tử gửi đến các đối tượng phù hợp tại doanh nghiệp FDI trên địa bàn nghiên cứu. Tổng cộng thu về 320 phiếu khảo sát; sau khi kiểm tra và sàng lọc, 284 phiếu hợp lệ được sử dụng cho phân tích, tương ứng 88,75% số phiếu thu thập. Dữ liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả thống kê mô tả
Trong 284 doanh nghiệp FDI được khảo sát, doanh nghiệp tập trung nhiều nhất tại KCN Nhơn Trạch (29,23%), tiếp đến là Biên Hòa II (22,54%), Long Thành (22,18%), Amata (15,85%) và Lộc An - Bình Sơn (10,21%). Xét theo thời gian hoạt động, nhóm doanh nghiệp hoạt động từ 5 đến dưới 10 năm chiếm tỷ trọng cao nhất (33,80%); về quy mô lao động, nhóm từ 300 đến dưới 500 người chiếm 40,49%. Theo ngành nghề, doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở điện tử, công nghệ (20,42%); thực phẩm, đồ uống (20,07%), hóa chất, nhựa, cao su (17,25%), dệt may, da giày (16,55%) và logistics, dịch vụ hỗ trợ (15,14%). Nhìn chung, mẫu khảo sát có sự phân bố tương đối đa dạng, phù hợp với phạm vi nghiên cứu các doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP. Đồng Nai.
Kết quả kiểm định thang đo
Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha
| Nhân tố | Thang đo | Hệ số tương quan biến-tổng | Cronbach’s Alpha nếu loại biến | Cronbach’s Alpha |
|---|---|---|---|---|
| Năng lực tài chính (NLTC) | NLTC1 | 0,605 | 0,707 | 0,775 |
| NLTC2 | 0,573 | 0,724 | ||
| NLTC3 | 0,576 | 0,722 | ||
| NLTC4 | 0,560 | 0,731 | ||
| Chất lượng nguồn nhân lực (NNL) | NNL1 | 0,692 | 0,821 | 0,857 |
| NNL2 | 0,685 | 0,823 | ||
| NNL3 | 0,696 | 0,820 | ||
| NNL4 | 0,622 | 0,839 | ||
| NNL5 | 0,660 | 0,830 | ||
| Năng lực quản lý của lãnh đạo (NLQL) | NLQL1 | 0,663 | 0,825 | 0,854 |
| NLQL2 | 0,663 | 0,825 | ||
| NLQL3 | 0,630 | 0,834 | ||
| NLQL4 | 0,687 | 0,819 | ||
| NLQL5 | 0,692 | 0,818 | ||
| Năng lực chuyển đổi số (CDS) | CDS1 | 0,609 | 0,821 | 0,844 |
| CDS2 | 0,664 | 0,810 | ||
| CDS3 | 0,637 | 0,815 | ||
| CDS4 | 0,629 | 0,817 | ||
| CDS5 | 0,648 | 0,813 | ||
| CDS6 | 0,553 | 0,831 | ||
| Năng lực quản trị chuỗi cung ứng (NLCU) | NLCU1 | 0,668 | 0,788 | 0,832 |
| NLCU2 | 0,610 | 0,804 | ||
| NLCU3 | 0,605 | 0,806 | ||
| NLCU4 | 0,604 | 0,806 | ||
| NLCU5 | 0,671 | 0,788 | ||
| Chất lượng hạ tầng khu công nghiệp (HTKCN) | HTKCN1 | 0,675 | 0,788 | 0,833 |
| HTKCN2 | 0,583 | 0,813 | ||
| HTKCN3 | 0,639 | 0,798 | ||
| HTKCN4 | 0,642 | 0,797 | ||
| HTKCN5 | 0,625 | 0,802 | ||
| Chính sách và môi trường hỗ trợ (CSHT) | CSHT1 | 0,694 | 0,804 | 0,846 |
| CSHT2 | 0,634 | 0,821 | ||
| CSHT3 | 0,629 | 0,822 | ||
| CSHT4 | 0,652 | 0,816 | ||
| CSHT5 | 0,663 | 0,813 | ||
| Định hướng thị trường (DHTT) | DHTT1 | 0,641 | 0,806 | 0,838 |
| DHTT2 | 0,616 | 0,813 | ||
| DHTT3 | 0,661 | 0,800 | ||
| DHTT4 | 0,646 | 0,805 | ||
| DHTT5 | 0,641 | 0,806 | ||
| Hiệu quả hoạt động kinh doanh (HQKD) | HQKD1 | 0,632 | 0,826 | 0,849 |
| HQKD2 | 0,687 | 0,811 | ||
| HQKD3 | 0,678 | 0,813 | ||
| HQKD4 | 0,624 | 0,828 | ||
| HQKD5 | 0,676 | 0,814 |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy cả chín thang đo đều đạt độ tin cậy. Hệ số Cronbach’s Alpha dao động từ 0,775 đến 0,857; hệ số tương quan biến tổng của 45 biến quan sát dao động từ 0,553 đến 0,696, đều lớn hơn 0,3. Đồng thời, hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại biến đều thấp hơn hệ số Alpha tổng của thang đo tương ứng. Do đó, toàn bộ 45 biến quan sát được giữ lại để tiếp tục phân tích nhân tố khám phá (EFA).
Phân tích nhân tố khám phá
Kết quả phân tích EFA đối với 40 biến quan sát thuộc 8 biến độc lập cho thấy, hệ số KMO đạt 0,807 và kiểm định Bartlett’s Test có Sig. = 0,000 < 0,05, chứng tỏ dữ liệu phù hợp để thực hiện phân tích nhân tố khám phá. Phân tích được thực hiện bằng phương pháp trích Principal Component Analysis và phép xoay Varimax. Kết quả rút trích 8 nhân tố có Eigenvalue > 1, với tổng phương sai trích đạt 61,811%, cho thấy các nhân tố giải thích được 61,811% sự biến thiên của dữ liệu. Hệ số tải nhân tố của các biến quan sát dao động từ 0,683 đến 0,826, đều lớn hơn 0,5; các biến hội tụ đúng vào các nhân tố theo mô hình đề xuất và không có biến nào bị loại.
Đối với biến phụ thuộc Hiệu quả hoạt động kinh doanh, hệ số KMO đạt 0,867 và Bartlett’s Test có Sig. = 0,000. EFA rút trích một nhân tố duy nhất với Eigenvalue = 3,123 và tổng phương sai trích đạt 62,451%; các biến quan sát cùng hội tụ vào một nhân tố. Như vậy, kết quả EFA xác nhận cấu trúc các thang đo phù hợp và đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính đa biến.
Kết quả tương quan và hồi quy
Phân tích tương quan Pearson được thực hiện trước hồi quy nhằm xem xét mối liên hệ giữa các biến trong mô hình. Kết quả cho thấy, các biến độc lập có mối liên hệ cùng chiều với Hiệu quả hoạt động kinh doanh và được đưa vào mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Bảng 2: Kết quả hồi quy tuyến tính đa biến
| Mô hình | Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa | Hệ số hồi quy chuẩn hóa | t | Sig. | Đa cộng tuyến | |||
| B | Std. Error | Beta | Tolerance | VIF | ||||
| 1 | (Hằng số) | -2,801 | 0,254 |
| -11,039 | 0,000 |
|
|
| NLTC | 0,246 | 0,030 | 0,264 | 8,259 | 0,000 | 0,917 | 1,090 | |
| NNL | 0,262 | 0,027 | 0,319 | 9,787 | 0,000 | 0,880 | 1,136 | |
| NLQL | 0,312 | 0,027 | 0,371 | 11,615 | 0,000 | 0,918 | 1,089 | |
| CDS | 0,163 | 0,030 | 0,170 | 5,409 | 0,000 | 0,946 | 1,057 | |
| NLCU | 0,200 | 0,028 | 0,227 | 7,211 | 0,000 | 0,944 | 1,059 | |
| HTKCN | 0,156 | 0,028 | 0,176 | 5,527 | 0,000 | 0,923 | 1,083 | |
| CSHT | 0,110 | 0,029 | 0,126 | 3,809 | 0,000 | 0,856 | 1,168 | |
| DHTT | 0,182 | 0,028 | 0,205 | 6,545 | 0,000 | 0,955 | 1,047 | |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả
Kết quả hồi quy cho thấy, R² = 0,742 và R² hiệu chỉnh = 0,735; theo R² hiệu chỉnh, mô hình giải thích khoảng 73,5% sự biến thiên của hiệu quả hoạt động kinh doanh. Hệ số Durbin-Watson = 2,188, cho thấy không có dấu hiệu tự tương quan đáng kể của phần dư. Kiểm định ANOVA cho F = 99,078 với Sig. = 0,000 < 0,05, chứng tỏ mô hình hồi quy phù hợp với dữ liệu nghiên cứu và có ý nghĩa thống kê. Các biến độc lập đều có VIF < 2 và Tolerance > 0,5, cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến đáng kể. Kết quả hồi quy cho thấy, cả 8 yếu tố đều tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ở mức ý nghĩa 5%; vì vậy H1-H8 đều được chấp nhận. Phương trình hồi quy chuẩn hóa được viết như sau:
HQKD = 0,371NLQL + 0,319NNL + 0,264NLTC + 0,227NLCU + 0,205DHTT + 0,176HTKCN + 0,170CDS + 0,126CSHT
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI chịu ảnh hưởng đồng thời của các nguồn lực nội tại, năng lực thích ứng và điều kiện môi trường bên ngoài. Trong đó, Năng lực quản lý của lãnh đạo có mức tác động mạnh nhất (β = 0,371). Kết quả này cho thấy, khả năng hoạch định, ra quyết định, điều phối nguồn lực và xử lý thay đổi của lãnh đạo giữ vai trò nổi bật đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp FDI. Phát hiện này tương đồng với Chittithaworn và cộng sự (2011) và Đỗ Tuấn Vũ (2023).
Chất lượng nguồn nhân lực đứng thứ hai (β = 0,319), phản ánh vai trò của kiến thức chuyên môn, kỹ năng, khả năng thích ứng và phối hợp của người lao động trong môi trường doanh nghiệp FDI. Kết quả này phù hợp với Chittithaworn và cộng sự (2011), Sitharam và Hoque (2016) cũng như các nghiên cứu trong nước về nguồn nhân lực và hiệu quả doanh nghiệp.
Năng lực tài chính (β = 0,264) và Năng lực quản trị chuỗi cung ứng (β = 0,227) tiếp tục có ảnh hưởng tích cực. Điều này cho thấy, doanh nghiệp có khả năng huy động, phân bổ nguồn lực tài chính và phối hợp hiệu quả với nhà cung cấp, khách hàng, các bộ phận nội bộ sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để duy trì hoạt động và cải thiện kết quả kinh doanh. Phát hiện về chuỗi cung ứng phù hợp với Li và cộng sự (2006), Flynn và cộng sự (2010) và Phạm Quang Huy và cộng sự (2024).
Định hướng thị trường có tác động tích cực với β = 0,205, cho thấy việc theo dõi nhu cầu khách hàng, đối thủ cạnh tranh và chia sẻ thông tin thị trường giữa các bộ phận góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Kết quả này phù hợp với lập luận của Narver và Slater (1990).
Ba yếu tố còn lại gồm: Chất lượng hạ tầng khu công nghiệp (β = 0,176), Năng lực chuyển đổi số (β = 0,170) và Chính sách, môi trường hỗ trợ (β = 0,126) đều tác động cùng chiều. Mặc dù mức tác động thấp hơn các yếu tố nội tại, kết quả cho thấy điều kiện hạ tầng, khả năng ứng dụng công nghệ số và môi trường thể chế vẫn có vai trò hỗ trợ đáng kể đối với hoạt động của doanh nghiệp FDI. Đặc biệt, kết quả về chuyển đổi số phù hợp với cách tiếp cận năng lực động của Teece và cộng sự (1997), trong khi vai trò của môi trường hỗ trợ phù hợp với lý thuyết thể chế.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp FDI không chỉ phụ thuộc vào một nhóm nguồn lực riêng lẻ mà được hình thành từ sự kết hợp giữa năng lực nội tại, khả năng thích ứng và điều kiện môi trường bên ngoài. Đây cũng là điểm phù hợp với cách xây dựng mô hình nghiên cứu tích hợp ba nhóm yếu tố của đề tài.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Nghiên cứu sử dụng 284 quan sát hợp lệ để xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI tại TP. Đồng Nai. Kết quả cho thấy có 8 yếu tố có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến Hiệu quả hoạt động kinh doanh, gồm: Năng lực quản lý của lãnh đạo, Chất lượng nguồn nhân lực, Năng lực tài chính, Năng lực quản trị chuỗi cung ứng, Định hướng thị trường, Chất lượng hạ tầng khu công nghiệp, Năng lực chuyển đổi số và chính sách, Môi trường hỗ trợ. Trong đó, Năng lực quản lý của lãnh đạo, Chất lượng nguồn nhân lực và Năng lực tài chính là ba yếu tố có mức tác động cao nhất.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp FDI cần ưu tiên nâng cao năng lực quản lý của lãnh đạo, nhất là năng lực hoạch định, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định, vì đây là yếu tố có mức tác động mạnh nhất trong mô hình.
Thứ hai, doanh nghiệp cần phát triển chất lượng nguồn nhân lực và củng cố năng lực tài chính thông qua nâng cao kỹ năng, khả năng phối hợp, quản trị dòng tiền, cơ cấu vốn và bảo đảm nguồn lực cho hoạt động sản xuất, đầu tư.
Thứ ba, cần tăng cường quản trị chuỗi cung ứng, định hướng thị trường và chuyển đổi số bằng cách cải thiện chia sẻ thông tin với đối tác, theo dõi chuỗi, phản ứng nhanh với nhu cầu thị trường và ứng dụng dữ liệu vào vận hành.
Thứ tư, cơ quan quản lý và ban quản lý khu công nghiệp cần tiếp tục cải thiện hạ tầng kết nối, đơn giản hóa thủ tục, nâng chất lượng dịch vụ hỗ trợ và tăng cường phối hợp với doanh nghiệp nhằm giảm chi phí tuân thủ và hạn chế gián đoạn.
Tuy nhiên, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện và tập trung tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn Đồng Nai nên khả năng khái quát cho các địa phương khác còn hạn chế. Dữ liệu cắt ngang cũng chưa phản ánh được sự thay đổi của các yếu tố theo thời gian. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi khảo sát, áp dụng phương pháp chọn mẫu có tính đại diện cao hơn, bổ sung biến kiểm soát theo quy mô hoặc ngành nghề và sử dụng SEM để kiểm định đồng thời các quan hệ trong mô hình.
Tài liệu tham khảo:
1. Barney, J. (1991). Firm Resources and Sustained Competitive Advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.
2. Cục Đầu tư nước ngoài (2026). Báo cáo tình hình thu hút vốn FDI thực hiện 6 tháng đầu năm 2026.
3. Chittithaworn, C., Islam, M. A., Keawchana, T., and Yusuf, D. H. M. (2011). Factors affecting business success of small and medium enterprises (SMEs) in Thailand. Asian Social Science, 7(5), 180-190.
4. Đỗ Tuấn Vũ (2023). Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 310, 73-82.
5. Flynn, B. B., Huo, B., and Zhao, X. (2010). The Impact of Supply Chain Integration on Performance: A Contingency and Configuration Approach. Journal of Operations Management, 28(1), 58-71.
6. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., and Anderson, R. E. (2019). Multivariate Data Analysis, 8th Edition. Cengage Learning, Hampshire, UK.
7. Li, S., Ragu-Nathan, B., Ragu-Nathan, T. S., and Rao, S. S. (2006). The impact of supply chain management practices on competitive advantage and organizational performance. Omega, 34(2), 107-124.
8. Mikalef, P., and Pateli, A. (2017). Information Technology-Enabled Dynamic Capabilities and Their Indirect Effect on Competitive Performance: Findings from PLS-SEM and fsQCA. Journal of Business Research, 70, 1-16.
9. Narver, J. C., and Slater, S. F. (1990). The Effect of a Market Orientation on Business Profitability. Journal of Marketing, 54(4), 20-35.
10. Nguyễn Nam Hải (2018). Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân tại tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Khoa học - Đại học Đồng Nai, số 10, 84-95.
11. Nguyễn Quốc Nghi, Mai Văn Nam (2011). Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Số 19b, 122-129.
12. Phạm Quang Huy, Mai Thị Hoàng Minh, Phan Thị Thúy Quỳnh (2024). Nghiên cứu ảnh hưởng nhóm nhân tố nội tại đến hiệu quả hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, số 2.
13. Sitharam, S., and Hoque, M. (2016). Factors affecting the performance of small and medium enterprises in KwaZulu-Natal, South Africa. Problems and Perspectives in Management, 14(2-2), 277-288.
14. Teece, D. J., Pisano, G., and Shuen, A. (1997). Dynamic Capabilities and Strategic Management. Strategic Management Journal, 18(7), 509-533.
| Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/10/2026; Ngày duyệt đăng: 27/10/2026 |
Các tin khác
Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai
Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Lãnh đạo chuyển đổi và cam kết chất lượng dịch vụ: Vai trò trung gian của cam kết tình cảm với thay đổi tại các khách sạn Việt Nam
Góc nhìn lý thuyết về động cơ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của nhà quản lý
Tác động của ứng dụng IoT đến hiệu quả vận hành kho xanh: Vai trò trung gian của năng lực khai thác dữ liệu IoT
