​​​​​​​Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm thực phẩm và đồ uống xanh: Vai trò điều tiết của sự hoài nghi người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 10:33 | 10/12/2025
Trong bối cảnh thị trường thực phẩm và đồ uống xanh tại TP.HCM đang phát triển, người tiêu dùng ngày càng đối mặt với nghịch lý: nhu cầu tiêu dùng bền vững tăng cao nhưng sự hoài nghi cũng gia tăng do nạn "tẩy xanh" (Greenwashing).

ThS. Trương Đức Thịnh (Tác giả liên hệ)

Email: tdthinh@cofer.edu.vn

ThS. Nguyễn Nho Minh Quang, ThS. Nguyễn Thái Hưng,

ThS. Đào Duy Tân, ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo, ThS. Nguyễn Quang Huy

Khoa Quản trị Kinh doanh, Cao đẳng Kinh tế đối ngoại

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích cơ chế tác động của hình ảnh thương hiệu xanh, giá trị cảm nhận xanh và sự hoài nghi xanh đến hành vi mua xanh của người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống tại TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên dữ liệu khảo sát trực tuyến từ 381 người tiêu dùng và kỹ thuật phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM), kết quả khẳng định Hình ảnh Thương hiệu Xanh đóng vai trò là tín hiệu chất lượng cốt lõi, tác động tích cực mạnh mẽ đến Giá trị Cảm nhận trong khi tác động tiêu cực đến Sự hoài nghi. Nghiên cứu cũng xác nhận vai trò trung gian quan trọng của Niềm tin Xanh trong việc thúc đẩy hành vi mua hàng. Đặc biệt, Sự hoài nghi Xanh đóng vai trò trung gian một phần, cho thấy việc giảm thiểu sự hoài nghi là con đường chiến lược để doanh nghiệp củng cố niềm tin và gia tăng quyết định mua sắm bền vững. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị thiết thực giúp doanh nghiệp xây dựng niềm tin và vượt qua rào cản tâm lý của người tiêu dùng trong bối cảnh thị trường còn nhiều thông tin bất cân xứng.

Từ khóa: Hình ảnh thương hiệu xanh, Sự hoài nghi xanh, Niềm tin xanh, Hành vi mua xanh, PLS-SEM

Summary

The study analyzes the impact mechanism of Green Brand Image, Green Perceived Value, and Green Skepticism on consumers’ Green Purchase Behavior in the food and beverage sector in Ho Chi Minh City. Based on an online survey of 381 consumers and data analysis using Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM), the findings indicate that Green Brand Image serves as a core quality signal, exerting a strong positive effect on Green Perceived Value while negatively influencing Green Skepticism. The study also confirms the key mediating role of Green Trust in promoting green purchasing behavior. Specifically, Green Skepticism is proven to act as a partial mediator, indicating that mitigating skepticism is a strategic pathway for businesses to reinforce trust and enhance sustainable purchasing decisions. Accordingly, the study proposes managerial implications that assist firms in building trust and overcoming psychological barriers among consumers in a market context characterized by substantial information asymmetry.

Keywords: Green Brand Image, Green Skepticism, Green Trust, Green Purchase Behavior, PLS-SEM

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh thị trường thực phẩm và đồ uống xanh tại TP.HCM đang phát triển, người tiêu dùng ngày càng đối mặt với nghịch lý: nhu cầu tiêu dùng bền vững tăng cao nhưng sự hoài nghi cũng gia tăng do nạn "tẩy xanh" (Greenwashing). Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực xây dựng hình ảnh thương hiệu xanh, nhưng cơ chế để yếu tố này hóa giải sự hoài nghi nhằm củng cố niềm tin đối với người tiêu dùng vẫn là một khoảng trống cần được làm rõ.

Để giải quyết vấn đề này, nghiên cứu vận dụng Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) (Spence, 1973) làm nền tảng gốc. Trong môi trường bất cân xứng thông tin, hình ảnh thương hiệu xanh được xem là một tín hiệu chất lượng quan trọng. Nghiên cứu lập luận rằng hình ảnh thương hiệu xanh không chỉ giúp gia tăng giá trị cảm nhận xanh (tín hiệu tích cực) mà còn đóng vai trò giảm thiểu sự bất định và hoài nghi (giảm nhiễu thông tin).

Thông qua mô hình cấu trúc, bài viết tập trung phân tích tác động của Hình ảnh Thương hiệu xanh đến Hành vi mua xanh; đồng thời kiểm định vai trò trung gian kép của Giá trị cảm nhận và Sự hoài nghi trong quá trình hình thành Niềm tin xanh - yếu tố then chốt quyết định hành vi tiêu dùng bền vững tại Việt Nam hiện nay.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Trong thị trường thực phẩm và đồ uống xanh, người mua thường gặp khó khăn trong việc kiểm chứng chất lượng "xanh" của sản phẩm trước khi mua. Lý thuyết tín hiệu (Spence, 1973) cho rằng, để giải quyết vấn đề này, doanh nghiệp phải phát ra các tín hiệu về chất lượng. Hình ảnh thương hiệu xanh được xem là một tín hiệu giúp khách hàng định hình giá trị cảm nhận, giảm thiểu sự hoài nghi và xây dựng niềm tin, từ đó dẫn đến quyết định mua hàng.

Tác động của hình ảnh thương hiệu xanh đến giá trị cảm nhận và sự hoài nghi hình ảnh thương hiệu xanh là tập hợp các nhận thức của người tiêu dùng về cam kết môi trường của thương hiệu. Theo Lý thuyết tín hiệu, một hình ảnh thương hiệu mạnh mẽ hoạt động như một lời cam kết về chất lượng vượt trội. Khi người tiêu dùng nhận thấy một thương hiệu đầu tư nghiêm túc vào hình ảnh xanh, họ có xu hướng suy luận rằng sản phẩm đó mang lại giá trị cảm nhận xanh cao hơn, bao gồm cả những lợi ích khác như an toàn sức khỏe và cảm xúc. Đồng thời, sự nhất quán trong hình ảnh thương hiệu giúp giảm bớt sự mơ hồ của thông tin. Khi tín hiệu phát ra đủ mạnh và đáng tin, nó sẽ trực tiếp làm giảm sự hoài nghi - trạng thái nghi ngờ về động cơ "tẩy xanh" của doanh nghiệp.

Niềm tin là sự sẵn lòng dựa vào đối tác dựa trên kỳ vọng về năng lực và sự tử tế. Niềm tin xanh chịu tác động từ 3 nguồn: (1) Từ giá trị cảm nhận: Khi người tiêu dùng cảm nhận được lợi ích thực tế (giá trị) từ sản phẩm, họ có cơ sở để tin tưởng vào năng lực của thương hiệu; (2) Từ sự hoài nghi: Mức độ hoài nghi càng cao, người tiêu dùng càng cho rằng doanh nghiệp không trung thực, dẫn đến sự sụt giảm trực tiếp của niềm tin; (3) Hình ảnh thương hiệu: Bản thân một hình ảnh thương hiệu uy tín đã là một tài sản đảm bảo, tạo ra niềm tin ban đầu ngay cả khi khách hàng chưa trải nghiệm sản phẩm.

Trong bối cảnh thị trường thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh, nơi lo ngại về an toàn vệ sinh thực phẩm và hàng giả còn cao, người tiêu dùng chỉ chuyển sang hành vi mua xanh khi họ đã thiết lập được niềm tin đủ lớn vào các tuyên bố xanh của thương hiệu. Niềm tin đóng vai trò là cầu nối cuối cùng chuyển hóa các nỗ lực marketing thành hành động thực tế.

MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Dựa trên Lý thuyết Tín hiệu (Spence, 1973), nghiên cứu đề xuất mô hình cấu trúc tuyến tính, trong đó: Hình ảnh Thương hiệu Xanh (GBI) đóng vai trò là tín hiệu chất lượng đầu vào. Giá trị Cảm nhận Xanh (GPV) và Sự hoài nghi Xanh (GS) phản ánh quá trình giải mã tín hiệu (cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro); còn Niềm tin Xanh (GT) đại diện cho hiệu lực của tín hiệu, trực tiếp thúc đẩy Hành vi mua xanh (GPI). Từ đó, mô hình nghiên cứu được đề xuất như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H1: Hình ảnh Thương hiệu Xanh có tác động tích cực đến Giá trị Cảm nhận Xanh.

H2: Giá trị Cảm nhận Xanh có tác động tích cực đến Niềm tin Xanh.

H3: Hình ảnh Thương hiệu Xanh có tác động tiêu cực đến Sự hoài nghi Xanh.

H4: Sự hoài nghi Xanh có tác động tiêu cực đến Niềm tin Xanh.

H5: Hình ảnh Thương hiệu Xanh có tác động tích cực đến Niềm tin Xanh.

H6: Niềm tin Xanh có tác động tích cực đến Hành vi mua Xanh.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp. Giai đoạn định tính phỏng vấn chuyên gia để hiệu chỉnh thang đo. Giai đoạn định lượng sử dụng khảo sát trực tuyến với người tiêu dùng tại TP.HCM. Các thang đo được kế thừa từ những nghiên cứu uy tín của Chen (2010), Chen và Chang (2012), Mohr và cộng sự (1998), Paul và cộng sự (2016). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SmartPLS 4.0. Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Mô tả mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp khảo sát trực tuyến, thu thập dữ liệu từ tháng 9-10/2025. Sau quá trình sàng lọc dữ liệu, tổng cộng có 381 bảng câu hỏi hợp lệ được đưa vào phân tích cuối cùng.

Bảng 1: Kết quả đánh giá Độ tin cậy và Giá trị hội tụ

Biến tiềm ẩn

Cronbach's

Alpha (α)

Độ tin cậy

tổng hợp (CR)

Phương sai trích

(AVE)

Đánh giá

Hình ảnh Thương hiệu Xanh

GBI

882

915

685

Tốt

Giá trị Cảm nhận Xanh

GPV

895

922

705

Tốt

Sự hoài nghi Xanh

GS

870

903

652

Tốt

Niềm tin Xanh

GT

908

931

728

Xuất sắc

Hành vi Mua Xanh

GPI

912

935

742

Xuất sắc

Tiêu chuẩn

> 0.70

> 0.70

> 0.50

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

Theo kết quả kiểm định tại Bảng 1 tất cả các hệ số Cronbach's Alpha và Độ tin cậy tổng hợp (CR) đều vượt xa ngưỡng khuyến nghị 0.70 (thấp nhất là 0.870), cho thấy sự nhất quán nội tại vững chắc của dữ liệu. Giá trị hội tụ tốt thì chỉ số Phương sai trích (AVE) của mọi biến đều lớn hơn 0.50 (dao động từ 0.652 đến 0.742), chứng tỏ các biến quan sát phản ánh chính xác khái niệm cần đo.

Bảng 2: Kết quả đánh giá Giá trị phân biệt (HTMT)

Biến tiềm ẩn

GBI

GPV

GS

GT

GPI

Hình ảnh Thương hiệu (GBI)

Giá trị Cảm nhận (GPV)

645

Sự hoài nghi (GS)

582

515

Niềm tin (GT)

688

712

625

Hành vi Mua (GPI)

650

695

540

755

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

Kết quả tại Bảng 2 khẳng định các khái niệm nghiên cứu đạt giá trị phân biệt rất tốt. Tất cả các chỉ số HTMT giữa các cặp biến đều thấp hơn ngưỡng khắt khe 0.85 (giá trị cao nhất là 0.755 giữa GT và GPI). Và sự tách biệt rõ ràng chứng minh rằng 5 biến tiềm ẩn trong mô hình (GBI, GPV, GS, GT, GPI) hoàn toàn khác biệt nhau về mặt thống kê. Người trả lời phân biệt rạch ròi các khái niệm này, đảm bảo không xảy ra hiện tượng chồng chéo hay đa cộng tuyến giữa các biến.

Kiểm định vai trò trung gian của Sự hoài nghi Xanh

Để kiểm định vai trò trung gian của Sự hoài nghi Xanh (GS), nghiên cứu sử dụng kỹ thuật Bootstrapping (với 5.000 mẫu lặp lại). Tác động trung gian được xác nhận nếu khoảng tin cậy hiệu chỉnh thiên lệch 95% (Bias-Corrected 95% Confidence Interval - BCa CI) của hệ số tác động gián tiếp không chứa giá trị 0.

Bảng 3: Kết quả kiểm định vai trò trung gian của Sự hoài nghi Xanh

Lộ trình Gián tiếp

(Indirect Path)

Hệ số tác động (β)

T-value

P-value

Khoảng tin cậy 95%

(Bias-Corrected CI)

Kết luận

GBI → GS → GT

0.144

4.125

0

[0.082; 0.215]

Có trung gian

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

Kết quả phân tích cho thấy Sự hoài nghi Xanh (GS) đóng vai trò trung gian có ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ giữa Hình ảnh Thương hiệu Xanh (GBI) và Niềm tin Xanh (GT). Lộ trình gián tiếp (GBI → GS → GT) có hệ số tác động β = 0.144 với mức ý nghĩa rất cao (P-value = 0.000). Khoảng tin cậy 95% dao động từ 0.082 đến 0.215 và hoàn toàn không chứa giá trị 0, khẳng định chắc chắn sự tồn tại của cơ chế trung gian này.

Kiểm định mô hình cấu trúc và giả thuyết

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SmartPLS 4 thông qua kỹ thuật PLS-SEM. Để đảm bảo độ tin cậy của các ước lượng, nghiên cứu sử dụng thuật toán PLS (PLS Algorithm) để tính toán các hệ số đường dẫn (β), mức độ tác động (f2) và hệ số phóng đại phương sai (VIF). Đồng thời, kỹ thuật Bootstrapping với 5.000 mẫu lặp được thực hiện để kiểm định mức ý nghĩa thống kê của các giả thuyết.

Bảng 4: Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc và giả thuyết

Giả thuyết

Mối quan hệ

Hệ số (β)

T-value

P-value

Mức độ tác động (f2)

VIF

Kết luận

H1

GBI → GPV

0.615

12.450

0

0.608 (Lớn)

1.00

Ủng hộ

H2

GPV → GT

0.385

6.520

0

0.185 (Trung bình)

1.75

Ủng hộ

H3

GBI → GS

-0.542

9.850

0

0.415 (Lớn)

1.00

Ủng hộ

H4

GS → GT

-0.265

4.125

0

0.105 (Nhỏ)

1.52

Ủng hộ

H5

GBI → GT

0.285

4.890

0

0.112 (Nhỏ)

1.95

Ủng hộ

H6

GT → GPI

0.655

14.210

0

0.752 (Lớn)

1.00

Ủng hộ

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

Kết quả tại Bảng 4 cho thấy mô hình cấu trúc có độ phù hợp cao với dữ liệu thực tế.

Tất cả 6 giả thuyết đề xuất (H1 đến H6) đều được ủng hộ với mức ý nghĩa thống kê rất cao (p < 0.001; t > 1.96).

Các chỉ số VIF của biến độc lập đều nhỏ hơn 2.0 (dao động từ 1.00 đến 1.95), thấp hơn nhiều so với ngưỡng cảnh báo là 3.0, khẳng định không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình.

Niềm tin Xanh (GT) đóng vai trò là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy Hành vi mua (GPI) (H6: β = 0.655).

Hình ảnh Thương hiệu Xanh (GBI) thể hiện vai trò kép quan trọng: vừa tác động tích cực mạnh nhất đến Giá trị cảm nhận (H1: β = 0.615), vừa tác động tiêu cực đáng kể làm giảm Sự hoài nghi (H3: β = -0.542).

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Kết quả nghiên cứu khẳng định Hình ảnh Thương hiệu Xanh (GBI) là tín hiệu chất lượng cốt lõi giúp gia tăng giá trị cảm nhận và giảm thiểu Sự hoài nghi (GS) đối với thực phẩm xanh tại TP.HCM. Đóng góp quan trọng nhất là việc xác thực vai trò trung gian then chốt của Niềm tin Xanh (GT) và cơ chế trung gian một phần của Sự hoài nghi. Điều này chứng minh rằng, để thúc đẩy Hành vi mua (GPI) trong bối cảnh thông tin bất cân xứng, doanh nghiệp bắt buộc phải minh bạch hóa thông tin để triệt tiêu sự hoài nghi, coi đây là tiền đề tiên quyết để xây dựng lòng tin và quyết định mua sắm bền vững.

Hàm ý quản trị

Một là, doanh nghiệp cần ưu tiên chiến lược minh bạch hóa thông tin để triệt tiêu sự hoài nghi. Thay vì các khẩu hiệu chung chung, các công cụ xác thực như mã QR truy xuất nguồn gốc và các chứng nhận uy tín (VietGAP, Organic) cần được hiển thị rõ ràng tại mọi điểm chạm. Đây là bằng chứng khách quan giúp khách hàng tự kiểm chứng, từ đó xóa bỏ tâm lý nghi ngờ.

Hai là, hình ảnh thương hiệu xanh cần được xây dựng dựa trên giá trị thực chất, kết hợp hài hòa giữa lợi ích môi trường và lợi ích sức khỏe cá nhân. Trong bối cảnh thực phẩm, thông điệp truyền thông nên nhấn mạnh vào sự an toàn và dinh dưỡng để gia tăng giá trị cảm nhận cho người mua, coi đây là đòn bẩy chính để nâng cao niềm tin. Doanh nghiệp cần tuyệt đối tránh các hành vi "tẩy xanh" hoặc phóng đại thành tích, vì sự nhất quán và trung thực mới là chìa khóa giữ chân khách hàng lâu dài.

Ba là, để chuyển hóa niềm tin thành hành động mua hàng, doanh nghiệp cần quản trị rủi ro cảm nhận thông qua các cam kết mạnh mẽ. Việc thiết lập các chính sách "bảo hành niềm tin" minh bạch như cam kết bồi thường, đổi trả hoặc hợp tác với các tổ chức kiểm định độc lập. Điều này giúp khách hàng gạt bỏ e ngại về mức giá cao và cảm thấy an tâm tuyệt đối khi ra quyết định tiêu dùng bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Chen, Y. S. (2010). The drivers of green brand equity: Green brand image, green satisfaction, and green trust. Journal of Business Ethics, 93(2), 307-319.

2. Chen, Y. S., & Chang, C. H. (2012). Enhance green purchase intentions: The roles of green perceived value, green perceived risk, and green trust. Management Decision, 50(3), 502-520.

3. Hoang, D. V., & Le, T. T. (2024). Relationship Between Environmental Concern, Green Perceived Value and Green Purchase Behaviour: The Moderating Role of Price Consciousness. Organizations and Markets in Emerging Economies, 15(2), 248-266.

4. Mohr, L. A., Eroğlu, D., & Ellen, P. S. (1998). The development and testing of a measure of skepticism toward environmental claims in marketers' communications. Journal of Consumer Affairs, 32(1), 30-55.

5. Paul, J., Modi, A., & Patel, J. (2016). Predicting green purchase intention: A study of perceived environmental responsibility and perceived green value. Journal of Retailing and Consumer Services, 30, 123-132.

6. Spence, M. (1973). Job market signaling. The Quarterly Journal of Economics, 87(3), 355-374.

7. Watson, A., Perrigot, R., & Dada, O. L. (2024). The effects of green brand image on brand loyalty: The case of mainstream fast food brands. Business Strategy and the Environment, 33(2), 806-819.

Ngày nhận bài: 22/10/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/12/2025; Ngày duyệt đăng: 9/12/2025

Các tin khác

Tiếp cận nông thôn đa chức năng trong phát triển du lịch làng nghề nông nghiệp Việt Nam

Tiếp cận nông thôn đa chức năng trong phát triển du lịch làng nghề nông nghiệp Việt Nam

Trong số các hướng chuyển đổi hiện nay, du lịch làng nghề được xem là một lựa chọn có nhiều tiềm năng, bởi nó đồng thời mở ra khả năng đa dạng hóa sinh kế, gia tăng giá trị sản phẩm địa phương, bảo tồn tri thức nghề và tái tạo bản sắc cộng đồng.
Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và hàm ý chính sách

Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và hàm ý chính sách

Xuất khẩu hàng hóa đã khẳng định vị thế là trụ cột then chốt, đóng vai trò "động lực tăng trưởng" có tính lan tỏa cao, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy GDP và duy trì sự ổn định vĩ mô.
Độ tin cậy trong định giá doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm về mô hình lý thuyết và tín hiệu thị trường

Độ tin cậy trong định giá doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm về mô hình lý thuyết và tín hiệu thị trường

Việc xác định chính xác giá trị nội tại của doanh nghiệp ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư, chiến lược quản lý và đánh giá tín dụng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch Đồng Tháp của du khách

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch Đồng Tháp của du khách

Trong xu thế cạnh tranh gay gắt giữa các điểm đến du lịch hiên nay, việc duy trì và phát triển điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng và là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà hoạch định.
Tác động của quản trị đổi mới sáng tạo xanh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua vai trò trung gian của thực thi ESG: Nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam

Tác động của quản trị đổi mới sáng tạo xanh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua vai trò trung gian của thực thi ESG: Nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và áp lực từ các cam kết giảm phát thải quốc tế (tiêu chuẩn Net Zero, rào cản thuế carbon CBAM của EU), chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu sống còn đối với các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm thời trang thể thao của Gen Z tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm thời trang thể thao của Gen Z tại Việt Nam

Sự phát triển của chuyển đổi số, thương mại điện tử và mạng xã hội đang làm thay đổi hành vi mua sắm của Gen Z. Trong đó, nhóm sản phẩm thời trang thể thao ngày càng được quan tâm nhờ xu hướng sống năng động, chú trọng sức khỏe và khả năng tiếp cận thông tin trực tuyến nhanh chóng.
Tác động của GenAI đến hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng: Hàm ý quản trị thương hiệu đối với doanh nghiệp

Tác động của GenAI đến hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng: Hàm ý quản trị thương hiệu đối với doanh nghiệp

Nghiên cứu này phân tích tác động của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) đối với hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng và rút ra các hàm ý đối với quản trị thương hiệu cho doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam.
Hiệu quả công việc của nhân sự kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số tại các doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh và những các yếu tố tác động

Hiệu quả công việc của nhân sự kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số tại các doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh và những các yếu tố tác động

Chuyển đổi số đang làm thay đổi hoạt động kế toán, đặt ra yêu cầu đánh giá các yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của nhân sự kế toán tại doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh.
Phát triển kinh tế tuần hoàn dưới góc nhìn lý luận tái sản xuất của C. Mác

Phát triển kinh tế tuần hoàn dưới góc nhìn lý luận tái sản xuất của C. Mác

Mặc dù khái niệm kinh tế tuần hoàn xuất hiện trong bối cảnh hiện đại, song có thể bắt gặp tư tưởng sản xuất tuần hoàn, liên tục trong lý luận tái sản xuất xã hội của C. Mác.
Đề xuất Khung lý thuyết nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của các vấn đề toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Đề xuất Khung lý thuyết nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của các vấn đề toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Kết quả là, sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu không còn chỉ được quyết định bởi hiệu quả chi phí, lợi thế lao động hay năng lực sản xuất, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng thích ứng của các doanh nghiệp với những áp lực toàn cầu mới nổi liên quan đến tính bền vững, khả năng phục hồi, tính minh bạch và năng lực số.