Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp trong các trường đại học công lập tại Việt Nam
ThS. Nguyễn Trọng Tuyến
NCS.ThS. Đỗ Thị Hằng
PGS.TS. Đỗ Hữu Hải (Tác giả liên hệ)
Email: [email protected]
Trường Đại học Công nghiệp Việt-Hung
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp trong các trường đại học công lập tại Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa các lý thuyết về hành vi khởi nghiệp, thể chế và nguồn lực, nghiên cứu xem xét tác động của 6 nhóm nhân tố bao gồm: Môi trường kinh tế, Môi trường chính sách, Nền tảng khoa học - công nghệ của trường đại học, Nguồn lực của trường đại học, Tinh thần kinh doanh của nhà khoa học và Quyết tâm của lãnh đạo trường đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 6 nhân tố đều có tác động tích cực đến Ý định thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp trong các trường đại học công lập tại Việt Nam, trong đó Môi trường chính sách là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất.
Từ khóa: Doanh nghiệp, thành lập doanh nghiệp, ý định, khởi nghiệp, đại học, công lập
Summary
This study aims to analyze the factors influencing the intention to establish startup enterprises within public universities in Viet Nam. Drawing on theories of entrepreneurial behavior, institutional theory, and resource-based perspectives, the study examines the effects of six groups of factors, including the economic environment, policy environment, universities’ science and technology infrastructure, university resources, scientists’ entrepreneurial spirit, and the commitment of university leadership. The findings indicate that all six factors have a positive impact on the intention to establish startup enterprises in public universities in Viet Nam, with the policy environment exerting the strongest influence.
Keywords: Enterprises, enterprise establishment, intention, entrepreneurship, universities, public universities
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo ngày càng phát triển, các trường đại học không chỉ đóng vai trò đào tạo nguồn nhân lực chất lượng mà còn là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Một trong những mô hình nổi bật giúp thương mại hóa kết quả nghiên cứu và ứng dụng tri thức vào thực tế là mô hình doanh nghiệp (DN) spin-off. DN spin-off là DN được hình thành từ các ý tưởng, kết quả nghiên cứu hoặc công nghệ có nguồn gốc từ trường đại học, thường được các giảng viên, nhà khoa học sáng lập để đưa các sản phẩm nghiên cứu vào ứng dụng thực tế. Mô hình này không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn giúp kết nối chặt chẽ hơn giữa học thuật và DN.
Ở Việt Nam, việc khởi nghiệp học thuật thông qua DN spin-off có thể trở thành một giải pháp hữu hiệu để các trường đại học công lập tăng cường tự chủ tài chính, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra giá trị thực tiễn từ nghiên cứu học thuật. Chính vì vậy, nghiên cứu này tìm hiểu các yếu tố tác động đến ý định thành lập DN spin-off tại các trường đại học công lập ở Việt Nam, nhằm giúp các trường xây dựng mô hình hỗ trợ khởi nghiệp hiệu quả hơn.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Phát triển doanh nghiệp trong các trường đại học
Tại Việt Nam, Đinh Văn Toàn và cộng sự (2019) đã chỉ ra rằng phát triển DN trong đại học thường gắn liền với hoạt động chia sẻ tri thức và chuyển giao công nghệ ở 2 chiều hướng: (i) rút ngắn khoảng cách giữa các nhà khoa học với các đối tượng sử dụng sản phẩm tri thức, thông qua các hoạt động như cấp phép sử dụng bằng sáng chế, hợp tác sản xuất thử nghiệm, đầu tư sản phẩm mới; (ii) tái cấu trúc mô hình vận hành theo hướng lấy kết quả làm trung tâm, áp dụng hệ thống quản trị linh hoạt, hiệu quả để nâng cao tính tự chủ và năng lực cạnh tranh.
Theo Pattnaik và Pandey (2014), DN spin-off không chỉ được xem là phương thức chuyển giao công nghệ hiệu quả từ trường đại học ra thị trường, mà còn là công cụ chiến lược giúp hiện thực hóa và lan tỏa các giá trị học thuật. Các công trình của Fini và cộng sự (2016), Nlemvo Ndonzuau và cộng sự (2002) đã làm rõ hơn cơ chế hình thành spin-off; đồng thời chỉ ra rằng các yếu tố mang tính thể chế, hệ sinh thái hỗ trợ và khuôn khổ pháp lý giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của mô hình DN này.
Các nhân tố ảnh hưởng đến thành lập và phát triển doanh nghiệp trong trường đại học
Clark (1998) cho rằng 5 yếu tố thành công cốt lõi của việc chuyển đổi từ đại học truyền thống sang mô hình đại học DN bao gồm củng cố nền tảng học thuật và quản trị, mở rộng ảnh hưởng xã hội - học thuật, huy động và quản lý hiệu quả nguồn tài chính, xây dựng môi trường khuyến khích đổi mới và tích hợp tinh thần doanh nhân vào chiến lược vận hành của nhà trường.
Markuerkiaga và cộng sự (2014) đã lý giải các nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của trường đại học khởi nghiệp, trong đó các yếu tố được phân loại thành 3 nhóm: nhóm yếu tố ngoại sinh như chính sách, thị trường và công nghệ; nhóm yếu tố nội sinh bao gồm nguồn lực, văn hóa tổ chức và chiến lược nội bộ; và nhóm yếu tố mang tính định hướng chiến lược liên quan đến tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu phát triển.
Bezanilla (2020) thực hiện khảo sát 84 trưởng khoa tại các trường đại học Tây Ban Nha và cho thấy kết quả: mặc dù yếu tố bối cảnh bên ngoài có ảnh hưởng nhất định, nhưng chính các nguồn lực nội tại như chiến lược phát triển, quy trình tổ chức, sự hỗ trợ của lãnh đạo và thiết kế cơ cấu tổ chức mới là các yếu tố có liên hệ mật thiết với kết quả phát triển DN trong đại học.
Nghiên cứu về ý định thành lập doanh nghiệp spin-off
Helm và Mauroner (2007) tổng hợp các nghiên cứu trước để xây dựng một khung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành spin-off, bao gồm đặc điểm người sáng lập, môi trường và đặc điểm DN, từ đó làm cơ sở cho việc thiết kế chính sách và chương trình đào tạo nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp trong trường đại học.
Thông qua khảo sát 533 nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học sự sống tại Đức và Thụy Sĩ, Houweling và Wolf (2020) cho thấy môi trường văn hóa đại học cùng mức độ uy tín và thành công khởi nghiệp của đồng nghiệp có ảnh hưởng rõ rệt đến xu hướng khởi nghiệp của cá nhân. Kết quả này nhấn mạnh vai trò của ảnh hưởng xã hội như một yếu tố then chốt cần được xem xét trong việc xây dựng các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp tại trường đại học.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Ý định khởi nghiệp trong môi trường đại học là một quá trình tâm lý phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân, tổ chức và xã hội. Trong nghiên cứu khởi nghiệp, tiếp cận dựa trên ý định đã trở thành phương pháp chính thống, cung cấp cơ sở lý thuyết để giải thích động cơ, thái độ và quyết định của giảng viên, nhà nghiên cứu. Các lý thuyết thường áp dụng bao gồm: Lý thuyết hành vi có kế hoạch, Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp, Lý thuyết động cơ tự thân, Lý thuyết thể chế, Lý thuyết nguồn lực và Lý thuyết các bên liên quan.
Trên cơ sở Lý thuyết hành vi có kế hoạch, Lý thuyết thể chế và tiếp cận nguồn lực, nghiên cứu đề xuất mô hình tích hợp gồm 3 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định thành lập DN spin-off trong các trường đại học công lập, bao gồm:
(i) Nhóm nhân tố môi trường bên ngoài: môi trường kinh tế, môi trường chính sách;
(ii) Nhóm nhân tố tổ chức: nền tảng khoa học - công nghệ và nguồn lực của trường đại học;
(iii) Nhóm nhân tố cá nhân - lãnh đạo: tinh thần kinh doanh của nhà khoa học và quyết tâm của lãnh đạo trường đại học.
Từ đó đưa ra giả thuyết nghiên cứu về mô hình nghiên cứu tích hợp các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thành lập DN spin-off trong các trường đại học công lập tại Việt Nam:
Nhóm môi trường bên ngoài (H1): Môi trường kinh tế sẽ cung cấp bối cảnh về sự ổn định, tiềm năng thị trường, khả năng tiếp cận vốn đầu tư… trong khi môi trường chính sách sẽ tạo ra các điều kiện pháp lý và các cơ chế hỗ trợ cho DN spin-off.
Nhóm tổ chức (H2): Nền tảng khoa học công nghệ của trường đại học chính là nguồn tri thức, nghiên cứu khoa học, trong khi nguồn lực của trường đại học bao gồm tài chính, cơ sở vật chất và đội ngũ hỗ trợ cho việc thành lập và phát triển các DN spin-off.
Nhóm cá nhân - lãnh đạo (H3): Tinh thần kinh doanh của nhà khoa học thể hiện qua sự sáng tạo và mong muốn ứng dụng nghiên cứu vào thực tế, còn quyết tâm của lãnh đạo trường đại học đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các chính sách và chiến lược hỗ trợ phù hợp để các dự án spin-off có thể thành công.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính nhằm đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thành lập DN trong các trường đại học công lập, xây dựng bảng hỏi cho thang đo Likert đối với thang đo đã được sàng lọc điều chỉnh và bổ sung trong bảng hỏi chính thức. Nghiên cứu định lượng sử dụng phần mềm thống kê SPSS để phân tích các kết quả nghiên cứu: độ tin cậy thang đo, EFA, ma trận tương quan, phân tích hồi quy... để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Mẫu nghiên cứu bài viết sử dụng là dữ liệu sơ cấp thu thập từ khảo sát bảng hỏi qua Google Form do tác giả thiết kế, gửi tới 20 trường đại học công lập trên cả nước từ tháng 6-11/2025.
Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu
Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Các thang đo đều đạt đô tin cậy cao như Môi trường bên ngoài (MT): 0.881; Tổ chức (TC): 0.91; Cá nhân - lãnh đạo (CNLD): 0.887; Ý định thành lập DN spin-off trong các trường đại học công lập tại Việt Nam (YD): 0.824.
Kiểm định ANOVA
Bảng 1: Kiểm định ANOVA
|
Mô hình |
Tổng bình phương |
Bậc tự do (df) |
Trung bình bình phương |
F |
Sig. |
|
|
1 |
Hồi quy |
70.826 |
3 |
23.609 |
618.737 |
.000b |
|
Phần dư |
9.158 |
240 |
.038 |
|
|
|
|
Tổng |
79.984 |
243 |
|
|
|
|
|
a. Biến phụ thuộc: YD |
||||||
|
b. Các biến dự báo: (Hằng số), CNLD, MT, TC |
||||||
Nguồn: Kết quả phân tích
Kết quả Bảng 1 cho Sig. = 0.00 < 0.05. Điều này có ý nghĩa là các biến độc lập trong mô hình có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc, tức là sự kết hợp của các biến độc lập có thể giải thích được sự thay đổi của biến phụ thuộc. Mô hình hồi quy tuyến tính thu được rất phù hợp với dữ liệu và có thể sử dụng được.
Bảng 2: Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
|
Mô hình |
R |
Hệ số (R) |
R² hiệu chỉnh |
Sai số chuẩn ước lượng |
F Change |
|
1 |
.941a |
.886 |
.884 |
.19534 |
618.737 |
a. Predictors: (Constant), CNLD, MT, TC
Nguồn: Kết quả phân tích
Kết quả cho thấy mô hình nghiên cứu có hệ số R2 là 0.886 và hệ số R2 hiệu chỉnh là 0.884 (kiểm định F, Sig. = 0.00 < 0.05). Kết quả chứng tỏ 88.6% tác động của các nhân tố tác động đến biến phụ thuộc được giải thích bởi mô hình hồi quy, 11.4% còn lại là do sai số và các nhân tố khác.
Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính
Bảng 3: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính
|
Mô hình |
Hệ số chưa chuẩn hóa |
Hệ số chuẩn hóa |
t |
Sig. |
Thống kê đa cộng tuyến |
|||
|
B |
Sai số chuẩn |
Beta |
|
|
Độ chấp nhận |
VIF |
||
|
1 |
(Hằng số) |
.501 |
.078 |
|
6.412 |
.000 |
|
|
|
MT |
.175 |
.025 |
.216 |
7.108 |
.000 |
.515 |
1.943 |
|
|
TC |
.318 |
.024 |
.406 |
13.228 |
.000 |
.506 |
1.977 |
|
|
CNLD |
.384 |
.027 |
.449 |
14.308 |
.000 |
.484 |
2.066 |
|
|
a. Biến phụ thuộc: YD |
||||||||
Nguồn: Kết quả phân tích
Với giá trị Sig. < 0.005 như vậy, cả 3 giả thuyết đều được chấp nhận.
Kết quả hồi quy cho thấy mô hình nghiên cứu có mức độ giải thích tương đối cao, với hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0.884. Điều này cho thấy các nhóm nhân tố được đưa vào mô hình có vai trò quan trọng trong việc lý giải ý định thành lập DN spin-off trong bối cảnh các trường đại học công lập tại Việt Nam; đồng thời gợi mở sự tồn tại của các yếu tố khác chưa được xem xét trong nghiên cứu.
Trong số các nhân tố được xem xét, Cá nhân - lãnh đạo (CNLD) có tác động mạnh nhất đến Ý định thành lập DN spin-off, tiếp theo là Tổ chức (TC) với nền tảng khoa học - công nghệ, tinh thần kinh doanh của nhà khoa học, nguồn lực của trường đại học và quyết tâm của lãnh đạo trường đại học. Ngược lại, Môi trường bên ngoài mặc dù có tác động cùng chiều nhưng mức độ ảnh hưởng thấp nhất trong mô hình.
Thảo luận
Kết quả kiểm định đã cung cấp bằng chứng khoa học về tác động của các yếu tố môi trường, tổ chức và cá nhân đối với ý định thành lập DN spin-off tại các trường đại học công lập Việt Nam. Việc kiểm chứng mô hình lý thuyết thông qua khảo sát thực địa cho thấy các giả thuyết đề xuất là phù hợp, đồng thời làm rõ những đặc thù thể chế khác biệt so với bối cảnh giáo dục đại học ở các quốc gia phát triển.
Kết quả cho thấy cả 3 nhân tố (môi trường kinh tế - chính sách, nền tảng khoa học công nghệ - nguồn lực của trường đại học, tinh thần kinh doanh của nhà khoa học và quyết tâm của lãnh đạo trường đại học) đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định thành lập DN trong các trường đại học công lập. Trong đó, Cá nhân - lãnh đạo là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến ý định hành động của cá nhân trong việc khởi nghiệp, với hệ số tác động chưa chuẩn hóa (Beta = 0.384) cao nhất trong mô hình hồi quy tuyến tính.
Một điểm đáng chú ý khác là Môi trường bên ngoài, yếu tố được cho là có ảnh hưởng lớn trong các nghiên cứu khởi nghiệp truyền thống lại có tác động yếu nhất trong mô hình nghiên cứu với hệ số Beta chỉ đạt 0.175. Kết quả này gợi mở rằng, trong lĩnh vực DN spin-off trong đại học công lập Việt Nam, rào cản lớn không nằm ở thị trường hay tài chính, mà chính là thể chế và cơ cấu tổ chức. Điều này trái ngược với nghiên cứu của Krueger và cộng sự (2000), Zhao và cộng sự (2005) trong lĩnh vực khởi nghiệp tư nhân, nơi yếu tố kinh tế và tài chính đóng vai trò tiên quyết.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thành lập DN spin-off trong các trường đại học công lập tại Việt Nam, qua đó khẳng định vai trò đồng thời của các yếu tố môi trường thể chế, điều kiện tổ chức và động lực cá nhân trong quá trình thúc đẩy khởi nghiệp học thuật.
Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường chính sách giữ vai trò quyết định, phản ánh đặc thù của hệ thống giáo dục đại học công lập Việt Nam - nơi các rào cản thể chế, cơ chế quản lý và khung pháp lý có ảnh hưởng mạnh hơn so với các yếu tố thuần túy thị trường. Điều này hàm ý rằng việc thúc đẩy DN spin-off trong trường đại học không thể chỉ dựa vào động lực cá nhân của nhà khoa học mà cần sự hỗ trợ nhất quán từ chính sách vĩ mô và chiến lược phát triển của nhà trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Bezanilla, M. J., García-Olalla, A., Paños-Castro, J., & Arruti, A. (2020). Developing the entrepreneurial university: Factors of influence. Sustainability, 12(3), 842.
2. Clark, B. R. (1998). Creating Entrepreneurial Universities: organizational pathways of transformation. Issues in Higher Education. Elsevier Science Regional Sales, 665 Avenue of the Americas, New York, NY 10010 (paperback: ISBN-0-08-0433545; hardcover: ISBN-0-08-0433421, $27).
.3. Đinh Văn Toàn và cộng sự. (2019). Phát triển DN trong các cơ sở giáo dục đại học: Từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Fini, R., & Toschi, L. (2016). Academic logic and corporate entrepreneurial intentions: A study of the interaction between cognitive and institutional factors in new firms. International Small Business Journal, 34(5), 637-659.
5. Helm, R., & Mauroner, O. (2007). Success of research-based spin-offs. State-of-the-art and guidelines for further research. Review of Managerial Science, 1(3), 237-270.
6. Houweling, Stefan, & Wolf, Sven (2020). The influence of scientific prestige and peer effects on the intention to create university spin-offs. The Journal of Technology Transfer, 45, 1432-1450.
7. Markuerkiaga, L., Errasti, N., & Igartua, J. I. (2014). Success factors for managing an entrepreneurial university: Developing an integrative framework. Industry and Higher Education, 28(4), 233-244.
8. Nlemvo Ndonzuau, Frédéric, Pirnay, Fabrice, & Surlemont, Bernard (2002). A stage model of academic spin-off creation. Technovation, 22(5), 281-289.
9. Pattnaik, P. N., & Pandey, S. C. (2014). University spinoffs: what, why, and how? Technology Innovation Management Review, 4(12).
| Ngày nhận bài: 10/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/1/2026; Ngày duyệt đăng: 4/2/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Phát triển năng lực số của người lao động tại doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ mô hình bảng động tại các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE
Tác động của dự trữ tiền mặt đến đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP. Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị