Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp

Nghiên cứu - Trao đổi 14:51 | 23/12/2025
Trong thời đại phát triển kinh tế tri thức và đẩy mạnh tự chủ đại học, nghiên cứu khoa học trở thành một trong những trụ cột khẳng định uy tín, năng lực cạnh tranh và tính bền vững của cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam.

Lê Thị Tuyết Vân

Email: [email protected]

Nguyễn Giác Trí

Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Đồng Tháp

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp. Kết quả cho thấy, 4 nhân tố: Nhận thức về việc nghiên cứu khoa học, Năng lực nghiên cứu, Chính sách và hỗ trợ nghiên cứu khoa học, Môi trường làm việc có tác động dương, có ý nghĩa thống kê đến Khả năng tham gia nghiên cứu khoa học. Trong đó, Nhận thức về việc nghiên cứu khoa học là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất; Khối lượng công việc chưa chứng minh được tác động có ý nghĩa ở mức 5%. Kết quả gợi ý ưu tiên can thiệp vào nâng cao nhận thức và năng lực nghiên cứu, đồng thời hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và môi trường học thuật để thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong giảng viên tại Trường Đại học Đồng Tháp.

Từ khóa: Nghiên cứu khoa học, giảng viên, môi trường làm việc, Trường Đại học Đồng Tháp

Summary

This study examines the factors that influence lecturers’ capacity to engage in scientific research at Dong Thap University. The results indicate that four factors: perceptions of scientific research, research capacity, research policies and support, and the working environment, have positive and statistically significant effects on research participation capacity. Among these, perceptions of scientific research exert the most decisive influence, while workload does not demonstrate a statistically significant effect at the 5% level. The findings suggest prioritizing interventions to enhance research awareness and capacity, while improving support mechanisms and the academic environment to promote scientific research among lecturers at Dong Thap University.

Keywords: Scientific research, lecturers, working environment, Dong Thap University

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ hiện nay, Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc (Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia).

Về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, các trường đại học và viện nghiên cứu là các tổ chức khoa học và học thuật có nhiệm vụ cung cấp nguồn lực cho sự phát triển của đất nước thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH). Đặc biệt, trong thời đại phát triển kinh tế tri thức và đẩy mạnh tự chủ đại học, NCKH trở thành một trong những trụ cột khẳng định uy tín, năng lực cạnh tranh và tính bền vững của cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam. Chính sách quốc gia và quy định hiện hành yêu cầu giảng viên dành tỷ lệ đáng kể thời gian cho NCKH và gắn kết chặt chẽ thành tích nghiên cứu với đánh giá, bổ nhiệm, xét thi đua, thăng hạng. Việc hiểu rõ các nhân tố thúc đẩy hoặc cản trở khả năng tham gia NCKH của giảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạch định chính sách nhân sự, tài chính và chiến lược phát triển của các trường đại học.

Trường Đại học Đồng Tháp là cơ sở giáo dục đại học công lập vùng Đồng bằng sông Cửu Long, định hướng phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu và nâng cao vị thế thông qua tăng cường sản phẩm NCKH (Hội đồng Trường, Trường Đại học Đồng Tháp, 2022). Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả tích cực, mức độ tham gia NCKH của một bộ phận giảng viên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu chiến lược của Trường. Từ khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm riêng cho bối cảnh này, nghiên cứu tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia NCKH của giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp, trên cơ sở dữ liệu điều tra trực tiếp từ đội ngũ giảng viên. Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu và luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý tại Trường Đại học Đồng Tháp hiểu rõ hơn về những nhân tố nào đang thúc đẩy khả năng tham gia NCKH của giảng viên tại Trường. Từ đó, nhà quản lý có thể bổ sung, điều chỉnh và phát triển các chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động NCKH của giảng viên.

TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu này đặt nền tảng trên các khung Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991), kỳ vọng - giá trị (Vroom, 1964) và động lực nghiên cứu của giảng viên (Jung, 2012; Tien, 2000; Zhang, 2014). Các bằng chứng trong bối cảnh chuyển đổi ở Đông Âu/châu Á cũng nhấn mạnh vai trò của môi trường học thuật và cơ chế khuyến khích (Horodnic và Zaiţ, 2015), trong khi tác động của tài trợ đối với năng suất khoa học được ghi nhận rõ nét trong kinh tế học công (Jacob và Lefgren, 2011).

Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, khả năng tham gia NCKH của giảng viên chịu tác động đồng thời bởi các nhân tố cá nhân và thể chế, động lực và nhận thức nghề nghiệp (Tien, 2000), điều kiện và môi trường học thuật, khối lượng công việc, cơ chế tài chính và chính sách khuyến khích, hỗ trợ của nhà trường (Kotlachit, 2023; Nghi và cộng sự, 2017; Nguyễn và Nguyễn, 2018; Nhã, 2016; Zhang, 2014).

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên việc kế thừa và phát triển các kết quả từ những nghiên cứu trước, nghiên cứu này đề xuất mô hình xác định các nhân tố then chốt có ảnh hưởng đến Khả năng tham gia NCKH của giảng viên tại Trường Đại học Đồng Tháp, bao gồm: (1) Nhận thức của giảng viên về việc thực hiện NCKH; (2) Năng lực nghiên cứu - thể hiện qua trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiên cứu; (3) Khối lượng công việc hiện tại; (4) Môi trường làm việc - bao gồm điều kiện cơ sở vật chất và sự hỗ trợ từ các nhóm nghiên cứu; (5) Chính sách và cơ chế hỗ trợ NCKH - như kinh phí nghiên cứu, thủ tục hành chính và chế độ khen thưởng (Hình 1).

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất, 2025

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát cắt ngang với thang đo Likert 5 mức, thu thập từ 200 giảng viên tại Trường Đại học Đồng Tháp từ tháng 8-9/2025; sau khi kiểm tra, có 197 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích. Dữ liệu được mã hóa và đưa vào phần mềm SPSS 26 để phân tích.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả phân tích (Bảng 1) cho thấy, các thang đo đạt độ tin cậy tốt. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) với nhóm biến độc lập có KMO = 0,817, Bartlett’s Sig. = 0,001. Như vậy, giữ lại 5 nhân tố; tổng phương sai giải thích 63,435% cho thấy mô hình phân tích là phù hợp. Đối với biến phụ thuộc Khả năng tham gia NCKH (KN) có KMO = 0,862; Eigenvalue = 3,658; phương sai trích -60,697% cho thấy tính đơn hướng và giá trị hội tụ. Hệ số tương quan Pearson cho thấy, KN liên hệ thuận với Nhận thức về việc thực hiện NCKH (NT), Năng lực nghiên cứu (NL), Chính sách và hỗ trợ NCKH (CS) và Môi trường làm việc và Khối lượng công việc (KL) (r ∈ [0,145; 0,622], p < 0,05/0,01).

Bảng 1: Tóm tắt độ tin cậy thang đo và EFA

Nhân tố

Cronbach’s Alpha

KMO/Bartlett

Số nhân tố

Phương sai trích (%)

Nhận thức về việc thực hiện NCKH (NT)

0,898

KMO = 0,817; p < 0,001

5 (nhóm độc lập)

63,435 (lũy tích)

Năng lực nghiên cứu (NL)

0,816

Khối lượng công việc (KL)

0,869

Môi trường làm việc (MT)

0,850

Chính sách và hỗ trợ NCKH (CS)

0,867

Khả năng tham gia NCKH (KN)

—

KMO = 0,862;

p < 0,001

1 (biến phụ thuộc)

60,697

Ghi chú: EFA cho nhóm biến độc lập giữ 5 nhân tố; thang đo KN một nhân tố.

Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Bảng 2: Kết quả hồi quy OLS (biến phụ thuộc: KN)

Biến độc lập

Hệ số β (chuẩn hóa)

Giá trị p

Kết luận

Nhận thức về việc thực hiện NCKH (NT)

0,547

<0,001

Có ý nghĩa (+)

Năng lực nghiên cứu (NL)

0,302

<0,001

Có ý nghĩa (+)

Chính sách và hỗ trợ NCKH (CS)

0,200

<0,001

Có ý nghĩa (+)

Môi trường làm việc (MT)

0,103

0,042

Có ý nghĩa (+)

Khối lượng công việc (KL)

0,093

0,060

Chưa đạt mức 5%

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Kết quả phân tích hồi quy (Bảng 2) cho thấy, mức phù hợp tốt (R = 0,743; R² = 0,552; R² điều chỉnh = 0,540; F = 47,032; p < 0,001). Như vậy, có 4 nhân tố tác động thuận và có ý nghĩa thống kê đến Khả năng tham gia NCKH gồm: Nhận thức về việc thực hiện NCKH (β = 0,547; p < 0,001), Năng lực nghiên cứu (β = 0,302; p < 0,001), Chính sách và hỗ trợ NCKH (β = 0,200; p < 0,001) và Môi trường làm việc (β = 0,103; p = 0,042). Tuy nhiên, nhân tố Khối lượng công việc có hệ số dương nhỏ (β = 0,093) song chưa đạt ý nghĩa ở mức 5% (p = 0,060). Hình 2 cho thấy mức ảnh hưởng tương đối giữa các nhân tố NT, NL, CS, MT và KL tới KN. Thứ bậc ảnh hưởng như sau: NT → NL → CS → MT → (KL).

Hình 2: Hệ số β chuẩn hóa theo mô hình OLS

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 4 nhân tố tác động đến Khả năng tham gia NCKH của giảng viên tại Trường Đại học Đồng Tháp, gồm: Nhận thức về việc NCKH, Năng lực nghiên cứu, Chính sách và hỗ trợ NCKH, Môi trường làm việc; trong đó, Nhận thức về việc NCKH là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất. Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng: (i) Nhà trường cần ưu tiên số một là kiến tạo văn hóa học thuật và cơ chế ghi nhận để nâng cao niềm tin, hứng thú và chuẩn chủ quan tích cực đối với NCKH; (ii) Năng lực có tác động lớn chỉ sau nhận thức, hàm ý cần đầu tư bài bản cho bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu, kỹ năng viết học thuật, công bố quốc tế, kỹ năng xin tài trợ, quản trị dự án; chú trọng cố vấn theo nhóm nghiên cứu và thực hành dựa trên dự án; (iii) Chính sách và hỗ trợ và Môi trường làm việc đều có tác động tích cực, xác nhận ý nghĩa của cơ chế tài chính minh bạch, quy trình hành chính gọn nhẹ, cơ sở dữ liệu/thiết chế hỗ trợ (thư viện số, phòng thí nghiệm/phòng chuyên môn) và các chương trình đồng tài trợ, thưởng cho công bố quốc tế’; (iv) Khối lượng công việc chưa cho thấy bằng chứng ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt ở mức 5%. Điều này có thể phản ánh cơ chế phân bổ giờ chuẩn vẫn cho phép một phần giảng viên cân bằng giảng dạy - nghiên cứu hoặc chịu ảnh hưởng của đo lường tự báo cáo. Cần tiến hành phân tích sâu hơn theo bộ môn/lĩnh vực và xem xét các thí điểm giảm tải có điều kiện gắn với đầu ra nghiên cứu. Đây là căn cứ để Nhà trường ưu tiên nguồn lực vào tăng cường truyền thông nội bộ và ghi nhận đa chiều thành tích nghiên cứu để nâng cao nhận thức, đồng thời hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và hạ tầng học thuật.

Các giới hạn của nghiên cứu bao gồm thiết kế cắt ngang và đo lường tự báo cáo. Do đó, hướng nghiên cứu tiếp theo nên sử dụng dữ liệu bảng theo thời gian, thước đo khách quan về đầu ra (ví dụ bài báo/đề tài) và mô hình cấu trúc/tiếp cận thực nghiệm để xác định quan hệ nhân - quả.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T.

2. Horodnic, I. A., and Zaiţ, A. (2015). Motivation and research productivity in a university system undergoing transition. Research Evaluation, 24(3), 282-292. https://doi.org/10.1093/reseval/rvv010.

3. Hội đồng Trường, Trường Đại học Đồng Tháp. (2022). Chiến lược phát triển Trường Đại học Đồng Tháp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

4. Jacob, B. A., and Lefgren, L. (2011). The impact of research grant funding on scientific productivity. Journal of Public Economics, 95(9-10), 1168-1177. https://doi.org/10.1016/j.jpubeco.2011.05.005.

5. Jung, J (2012). Faculty Research Productivity in Hong Kong across Academic Discipline. Higher Education Studies, 2(4), p1. https://doi.org/10.5539/hes.v2n4p1.

6. Kotlachit, M (2023). Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên tại các trường đại học ở Lào. Journal of International Economics and Management, 159(10), 53-64. https://doi.org/10.38203/jiem.vi.092023.1084.

7. Nghi N. Q., Huyền K. N., Cường P. Q và Thanh L. K. (2017). Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của giảng viên trẻ Trường Đại học Cần Thơ đối với hoạt động nghiên cứu khoa học. Can Tho University Journal of Science, 51, 41. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2017.093.

8. Nguyễn T. H. N và Nguyễn V. L. (2018). Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Tạp chí Khoa học & Công nghệ, 46, 46-51.

9. Nhã H. T. (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường cao đẳng công lập ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 46, 20. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2016.566.

10. Tien, F. F. (2000). To What Degree Does the Desire for Promotion Motivate Faculty to Perform Research? Testing the Expectancy Theory. Research in Higher Education, 41(6), 723-752. https://doi.org/10.1023/A:1007020721531.

11. Vroom, V. H. (1964). Work and motivation. Wiley.

12. Zhang, X. (2014). Factors that motivate academic staff to conduct research and influence research productivity in Chinese Project 211 universities [University of Canberra]. https://doi.org/10.26191/R487-2F07.

Ngày nhận bài: 15/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/12/2025; Ngày duyệt đăng: 23/12/2025

Các tin khác

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.