Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp
Lê Thị Tuyết Vân
Email: [email protected]
Nguyễn Giác Trí
Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Đồng Tháp
Tóm tắt
Nghiên cứu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp. Kết quả cho thấy, 4 nhân tố: Nhận thức về việc nghiên cứu khoa học, Năng lực nghiên cứu, Chính sách và hỗ trợ nghiên cứu khoa học, Môi trường làm việc có tác động dương, có ý nghĩa thống kê đến Khả năng tham gia nghiên cứu khoa học. Trong đó, Nhận thức về việc nghiên cứu khoa học là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất; Khối lượng công việc chưa chứng minh được tác động có ý nghĩa ở mức 5%. Kết quả gợi ý ưu tiên can thiệp vào nâng cao nhận thức và năng lực nghiên cứu, đồng thời hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và môi trường học thuật để thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong giảng viên tại Trường Đại học Đồng Tháp.
Từ khóa: Nghiên cứu khoa học, giảng viên, môi trường làm việc, Trường Đại học Đồng Tháp
Summary
This study examines the factors that influence lecturers’ capacity to engage in scientific research at Dong Thap University. The results indicate that four factors: perceptions of scientific research, research capacity, research policies and support, and the working environment, have positive and statistically significant effects on research participation capacity. Among these, perceptions of scientific research exert the most decisive influence, while workload does not demonstrate a statistically significant effect at the 5% level. The findings suggest prioritizing interventions to enhance research awareness and capacity, while improving support mechanisms and the academic environment to promote scientific research among lecturers at Dong Thap University.
Keywords: Scientific research, lecturers, working environment, Dong Thap University
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ hiện nay, Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc (Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia).
Về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, các trường đại học và viện nghiên cứu là các tổ chức khoa học và học thuật có nhiệm vụ cung cấp nguồn lực cho sự phát triển của đất nước thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH). Đặc biệt, trong thời đại phát triển kinh tế tri thức và đẩy mạnh tự chủ đại học, NCKH trở thành một trong những trụ cột khẳng định uy tín, năng lực cạnh tranh và tính bền vững của cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam. Chính sách quốc gia và quy định hiện hành yêu cầu giảng viên dành tỷ lệ đáng kể thời gian cho NCKH và gắn kết chặt chẽ thành tích nghiên cứu với đánh giá, bổ nhiệm, xét thi đua, thăng hạng. Việc hiểu rõ các nhân tố thúc đẩy hoặc cản trở khả năng tham gia NCKH của giảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạch định chính sách nhân sự, tài chính và chiến lược phát triển của các trường đại học.
Trường Đại học Đồng Tháp là cơ sở giáo dục đại học công lập vùng Đồng bằng sông Cửu Long, định hướng phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu và nâng cao vị thế thông qua tăng cường sản phẩm NCKH (Hội đồng Trường, Trường Đại học Đồng Tháp, 2022). Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả tích cực, mức độ tham gia NCKH của một bộ phận giảng viên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu chiến lược của Trường. Từ khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm riêng cho bối cảnh này, nghiên cứu tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia NCKH của giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp, trên cơ sở dữ liệu điều tra trực tiếp từ đội ngũ giảng viên. Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu và luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý tại Trường Đại học Đồng Tháp hiểu rõ hơn về những nhân tố nào đang thúc đẩy khả năng tham gia NCKH của giảng viên tại Trường. Từ đó, nhà quản lý có thể bổ sung, điều chỉnh và phát triển các chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động NCKH của giảng viên.
TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu này đặt nền tảng trên các khung Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991), kỳ vọng - giá trị (Vroom, 1964) và động lực nghiên cứu của giảng viên (Jung, 2012; Tien, 2000; Zhang, 2014). Các bằng chứng trong bối cảnh chuyển đổi ở Đông Âu/châu Á cũng nhấn mạnh vai trò của môi trường học thuật và cơ chế khuyến khích (Horodnic và Zaiţ, 2015), trong khi tác động của tài trợ đối với năng suất khoa học được ghi nhận rõ nét trong kinh tế học công (Jacob và Lefgren, 2011).
Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, khả năng tham gia NCKH của giảng viên chịu tác động đồng thời bởi các nhân tố cá nhân và thể chế, động lực và nhận thức nghề nghiệp (Tien, 2000), điều kiện và môi trường học thuật, khối lượng công việc, cơ chế tài chính và chính sách khuyến khích, hỗ trợ của nhà trường (Kotlachit, 2023; Nghi và cộng sự, 2017; Nguyễn và Nguyễn, 2018; Nhã, 2016; Zhang, 2014).
Mô hình nghiên cứu
Dựa trên việc kế thừa và phát triển các kết quả từ những nghiên cứu trước, nghiên cứu này đề xuất mô hình xác định các nhân tố then chốt có ảnh hưởng đến Khả năng tham gia NCKH của giảng viên tại Trường Đại học Đồng Tháp, bao gồm: (1) Nhận thức của giảng viên về việc thực hiện NCKH; (2) Năng lực nghiên cứu - thể hiện qua trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiên cứu; (3) Khối lượng công việc hiện tại; (4) Môi trường làm việc - bao gồm điều kiện cơ sở vật chất và sự hỗ trợ từ các nhóm nghiên cứu; (5) Chính sách và cơ chế hỗ trợ NCKH - như kinh phí nghiên cứu, thủ tục hành chính và chế độ khen thưởng (Hình 1).
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất, 2025
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát cắt ngang với thang đo Likert 5 mức, thu thập từ 200 giảng viên tại Trường Đại học Đồng Tháp từ tháng 8-9/2025; sau khi kiểm tra, có 197 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích. Dữ liệu được mã hóa và đưa vào phần mềm SPSS 26 để phân tích.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả phân tích (Bảng 1) cho thấy, các thang đo đạt độ tin cậy tốt. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) với nhóm biến độc lập có KMO = 0,817, Bartlett’s Sig. = 0,001. Như vậy, giữ lại 5 nhân tố; tổng phương sai giải thích 63,435% cho thấy mô hình phân tích là phù hợp. Đối với biến phụ thuộc Khả năng tham gia NCKH (KN) có KMO = 0,862; Eigenvalue = 3,658; phương sai trích -60,697% cho thấy tính đơn hướng và giá trị hội tụ. Hệ số tương quan Pearson cho thấy, KN liên hệ thuận với Nhận thức về việc thực hiện NCKH (NT), Năng lực nghiên cứu (NL), Chính sách và hỗ trợ NCKH (CS) và Môi trường làm việc và Khối lượng công việc (KL) (r ∈ [0,145; 0,622], p < 0,05/0,01).
Bảng 1: Tóm tắt độ tin cậy thang đo và EFA
| Nhân tố | Cronbach’s Alpha | KMO/Bartlett | Số nhân tố | Phương sai trích (%) |
| Nhận thức về việc thực hiện NCKH (NT) | 0,898 | KMO = 0,817; p < 0,001 | 5 (nhóm độc lập) | 63,435 (lũy tích) |
| Năng lực nghiên cứu (NL) | 0,816 |
|
|
|
| Khối lượng công việc (KL) | 0,869 |
|
|
|
| Môi trường làm việc (MT) | 0,850 |
|
|
|
| Chính sách và hỗ trợ NCKH (CS) | 0,867 |
|
|
|
| Khả năng tham gia NCKH (KN) | — | KMO = 0,862; p < 0,001 | 1 (biến phụ thuộc) | 60,697 |
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Bảng 2: Kết quả hồi quy OLS (biến phụ thuộc: KN)
| Biến độc lập | Hệ số β (chuẩn hóa) | Giá trị p | Kết luận |
| Nhận thức về việc thực hiện NCKH (NT) | 0,547 | <0,001 | Có ý nghĩa (+) |
| Năng lực nghiên cứu (NL) | 0,302 | <0,001 | Có ý nghĩa (+) |
| Chính sách và hỗ trợ NCKH (CS) | 0,200 | <0,001 | Có ý nghĩa (+) |
| Môi trường làm việc (MT) | 0,103 | 0,042 | Có ý nghĩa (+) |
| Khối lượng công việc (KL) | 0,093 | 0,060 | Chưa đạt mức 5% |
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Kết quả phân tích hồi quy (Bảng 2) cho thấy, mức phù hợp tốt (R = 0,743; R² = 0,552; R² điều chỉnh = 0,540; F = 47,032; p < 0,001). Như vậy, có 4 nhân tố tác động thuận và có ý nghĩa thống kê đến Khả năng tham gia NCKH gồm: Nhận thức về việc thực hiện NCKH (β = 0,547; p < 0,001), Năng lực nghiên cứu (β = 0,302; p < 0,001), Chính sách và hỗ trợ NCKH (β = 0,200; p < 0,001) và Môi trường làm việc (β = 0,103; p = 0,042). Tuy nhiên, nhân tố Khối lượng công việc có hệ số dương nhỏ (β = 0,093) song chưa đạt ý nghĩa ở mức 5% (p = 0,060). Hình 2 cho thấy mức ảnh hưởng tương đối giữa các nhân tố NT, NL, CS, MT và KL tới KN. Thứ bậc ảnh hưởng như sau: NT → NL → CS → MT → (KL).
Hình 2: Hệ số β chuẩn hóa theo mô hình OLS
![]() |
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 4 nhân tố tác động đến Khả năng tham gia NCKH của giảng viên tại Trường Đại học Đồng Tháp, gồm: Nhận thức về việc NCKH, Năng lực nghiên cứu, Chính sách và hỗ trợ NCKH, Môi trường làm việc; trong đó, Nhận thức về việc NCKH là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất. Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng: (i) Nhà trường cần ưu tiên số một là kiến tạo văn hóa học thuật và cơ chế ghi nhận để nâng cao niềm tin, hứng thú và chuẩn chủ quan tích cực đối với NCKH; (ii) Năng lực có tác động lớn chỉ sau nhận thức, hàm ý cần đầu tư bài bản cho bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu, kỹ năng viết học thuật, công bố quốc tế, kỹ năng xin tài trợ, quản trị dự án; chú trọng cố vấn theo nhóm nghiên cứu và thực hành dựa trên dự án; (iii) Chính sách và hỗ trợ và Môi trường làm việc đều có tác động tích cực, xác nhận ý nghĩa của cơ chế tài chính minh bạch, quy trình hành chính gọn nhẹ, cơ sở dữ liệu/thiết chế hỗ trợ (thư viện số, phòng thí nghiệm/phòng chuyên môn) và các chương trình đồng tài trợ, thưởng cho công bố quốc tế’; (iv) Khối lượng công việc chưa cho thấy bằng chứng ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt ở mức 5%. Điều này có thể phản ánh cơ chế phân bổ giờ chuẩn vẫn cho phép một phần giảng viên cân bằng giảng dạy - nghiên cứu hoặc chịu ảnh hưởng của đo lường tự báo cáo. Cần tiến hành phân tích sâu hơn theo bộ môn/lĩnh vực và xem xét các thí điểm giảm tải có điều kiện gắn với đầu ra nghiên cứu. Đây là căn cứ để Nhà trường ưu tiên nguồn lực vào tăng cường truyền thông nội bộ và ghi nhận đa chiều thành tích nghiên cứu để nâng cao nhận thức, đồng thời hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và hạ tầng học thuật.
Các giới hạn của nghiên cứu bao gồm thiết kế cắt ngang và đo lường tự báo cáo. Do đó, hướng nghiên cứu tiếp theo nên sử dụng dữ liệu bảng theo thời gian, thước đo khách quan về đầu ra (ví dụ bài báo/đề tài) và mô hình cấu trúc/tiếp cận thực nghiệm để xác định quan hệ nhân - quả.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T.
2. Horodnic, I. A., and Zaiţ, A. (2015). Motivation and research productivity in a university system undergoing transition. Research Evaluation, 24(3), 282-292. https://doi.org/10.1093/reseval/rvv010.
3. Hội đồng Trường, Trường Đại học Đồng Tháp. (2022). Chiến lược phát triển Trường Đại học Đồng Tháp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4. Jacob, B. A., and Lefgren, L. (2011). The impact of research grant funding on scientific productivity. Journal of Public Economics, 95(9-10), 1168-1177. https://doi.org/10.1016/j.jpubeco.2011.05.005.
5. Jung, J (2012). Faculty Research Productivity in Hong Kong across Academic Discipline. Higher Education Studies, 2(4), p1. https://doi.org/10.5539/hes.v2n4p1.
6. Kotlachit, M (2023). Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên tại các trường đại học ở Lào. Journal of International Economics and Management, 159(10), 53-64. https://doi.org/10.38203/jiem.vi.092023.1084.
7. Nghi N. Q., Huyền K. N., Cường P. Q và Thanh L. K. (2017). Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của giảng viên trẻ Trường Đại học Cần Thơ đối với hoạt động nghiên cứu khoa học. Can Tho University Journal of Science, 51, 41. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2017.093.
8. Nguyễn T. H. N và Nguyễn V. L. (2018). Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Tạp chí Khoa học & Công nghệ, 46, 46-51.
9. Nhã H. T. (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường cao đẳng công lập ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 46, 20. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2016.566.
10. Tien, F. F. (2000). To What Degree Does the Desire for Promotion Motivate Faculty to Perform Research? Testing the Expectancy Theory. Research in Higher Education, 41(6), 723-752. https://doi.org/10.1023/A:1007020721531.
11. Vroom, V. H. (1964). Work and motivation. Wiley.
12. Zhang, X. (2014). Factors that motivate academic staff to conduct research and influence research productivity in Chinese Project 211 universities [University of Canberra]. https://doi.org/10.26191/R487-2F07.
| Ngày nhận bài: 15/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/12/2025; Ngày duyệt đăng: 23/12/2025 |
Các tin khác
Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

