Bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng nhằm củng cố tự chủ chiến lược kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu
Nguyễn Huỳnh Minh Thiên
Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao
Email: [email protected]
Tóm tắt
Tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của cạnh tranh chiến lược, phân mảnh địa kinh tế, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang đặt ra yêu cầu mới đối với tự chủ kinh tế. Bài viết phân tích an ninh chuỗi cung ứng như một cấu phần của tự chủ chiến lược; nhận diện các điểm nghẽn và phụ thuộc chiến lược của Việt Nam; từ đó đề xuất nâng cao năng lực nội sinh, làm chủ các mắt xích thiết yếu, đa dạng hóa nguồn cung và thị trường, phát triển doanh nghiệp trong nước, công nghệ và logistics. Qua đó, củng cố khả năng chống chịu, thích ứng và chủ động của nền kinh tế trong hội nhập quốc tế.
Từ khóa: An ninh chuỗi cung ứng; tự chủ chiến lược; chuỗi giá trị toàn cầu; kinh tế độc lập, tự chủ; hội nhập quốc tế
Abstract
The restructuring of global value chains amid strategic competition, geoeconomic fragmentation, digital transformation, and green transformation is creating new requirements for economic autonomy. This article analyzes supply chain security as a component of strategic autonomy; identifies bottlenecks and strategic dependencies in Viet Nam; and proposes measures to strengthen endogenous capacity, develop capabilities in critical links, diversify supply sources and markets, and promote domestic enterprises, technology, and logistics. These measures contribute to strengthening the resilience, adaptability, and proactiveness of the economy in the context of international integration.
Keywords: Supply chain security, strategic autonomy, global value chains, independent and self-reliant economy, international integration
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuỗi giá trị toàn cầu đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu sắc, khi logic tối ưu hóa chi phí và hiệu quả không còn là tiêu chí duy nhất chi phối tổ chức sản xuất quốc tế. Cạnh tranh chiến lược, phân mảnh thương mại - công nghệ, xung đột địa chính trị cùng những cú sốc về dịch bệnh, khí hậu và năng lượng đang thúc đẩy các quốc gia và doanh nghiệp tái định vị sản xuất, đa dạng hóa nguồn cung và gia tăng khả năng chống chịu. Trong bối cảnh đó, an ninh chuỗi cung ứng vượt ra ngoài phạm vi logistics và thương mại, trở thành một cấu phần quan trọng của an ninh kinh tế và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.
Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng cấp thiết bởi hội nhập sâu rộng vừa tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng, vừa làm gia tăng mức độ truyền dẫn các cú sốc từ bên ngoài. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD; xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, trong đó khu vực FDI chiếm 77,3%. Ở chiều nhập khẩu, tư liệu sản xuất chiếm 93,6%, riêng nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 186 tỷ USD (Cục Thống kê, 2026). Những con số này phản ánh mức độ tham gia sâu của Việt Nam vào mạng lưới sản xuất toàn cầu, đồng thời cho thấy những điểm dễ tổn thương khi các nguồn cung, công nghệ, thị trường và tuyến logistics chiến lược bị gián đoạn.
Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a).Đây là định hướng quan trọng để chuyển từ tư duy tham gia chuỗi sang nâng cấp vị thế và từng bước làm chủ những mắt xích chiến lược, kết hợp chặt chẽ giữa phát huy nội lực với khai thác hiệu quả ngoại lực.
Vì vậy, vấn đề cốt lõi không phải là Việt Nam có tiếp tục hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu hay không, mà là hội nhập ở vị trí nào, dựa trên năng lực nội sinh nào và có khả năng chủ động đến đâu trước những đứt gãy từ bên ngoài. Theo đó, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng cần được xác lập như một cấu phần quan trọng của xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất và hiệu quả; qua đó nâng cao sức chống chịu, giảm thiểu các phụ thuộc chiến lược và củng cố năng lực tự chủ chiến lược kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
AN NINH CHUỖI CUNG ỨNG TRONG CẤU TRÚC CỦA TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC KINH TẾ
Trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu chuyển từ tối ưu hóa đơn thuần về hiệu quả sang đồng thời coi trọng an toàn, khả năng chống chịu và quyền chủ động, an ninh chuỗi cung ứng cần được nhìn nhận như một năng lực nền tảng của tự chủ chiến lược kinh tế, thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
Một là, tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu đang chuyển từ tối ưu hóa chi phí sang cân bằng giữa hiệu quả và khả năng chống chịu. Chuyên môn hóa sâu và tập trung nguồn cung tạo lợi thế về chi phí nhưng cũng làm gia tăng tính dễ tổn thương trước các cú sốc. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là đa dạng hóa nguồn cung, tăng khả năng dự phòng và linh hoạt tái cấu hình mạng sản xuất. OECD chỉ ra rằng tái nội địa hóa chuỗi cung ứng không mặc nhiên nâng cao sức chống chịu; trong các kịch bản mô phỏng, cách tiếp cận này có thể làm thương mại toàn cầu giảm hơn 18% và GDP thực giảm trên 5% (OECD, 2025). Do đó, vấn đề không phải đảo ngược toàn cầu hóa, mà là tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng đa dạng, linh hoạt và có khả năng thích ứng cao hơn.
Hai là, khoa học - công nghệ ngày càng quyết định vị thế và quyền chủ động trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu, robot và các công nghệ chiến lược đang tái định hình phương thức sản xuất và phân bổ giá trị. Năm 2025, thương mại hàng hóa phục vụ phát triển AI (AI-enabling goods) tăng 21,9%, đạt 4,18 nghìn tỷ USD và đóng góp 42% mức tăng thương mại toàn cầu (WTO, 2026). Điều đó cho thấy vị thế trong chuỗi ngày càng phụ thuộc vào năng lực làm chủ công nghệ và các khâu có giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ dựa vào quy mô sản xuất hay kim ngạch xuất khẩu. Vì vậy, quy mô xuất khẩu lớn chưa đồng nghĩa với năng lực tự chủ cao nếu công nghệ và các mắt xích chiến lược vẫn phụ thuộc đáng kể vào bên ngoài.
Ba là, an ninh chuỗi cung ứng cần được tiếp cận như một năng lực của nền kinh tế quốc gia, thay vì chỉ là khả năng bảo đảm nguồn hàng. Năng lực này thể hiện ở khả năng duy trì các đầu vào thiết yếu, hấp thụ và phục hồi trước cú sốc, đồng thời chuyển đổi nguồn cung với thời gian và chi phí chấp nhận được. Vì vậy, an ninh chuỗi cung ứng không đồng nghĩa với nội địa hóa toàn bộ chuỗi, mà đòi hỏi sự kết hợp giữa đa dạng hóa, khả năng thay thế, năng lực dự phòng và quản trị rủi ro (OECD, 2025). Theo đó, hiệu quả - chống chịu - tự chủ là ba thuộc tính gắn kết: hiệu quả tạo sức cạnh tranh, chống chịu bảo đảm tính liên tục, còn tự chủ duy trì quyền lựa chọn trước các cú sốc.
Bốn là, an ninh chuỗi cung ứng là một cấu phần quan trọng của tự chủ chiến lược kinh tế trong điều kiện hội nhập sâu rộng. Tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với tự cung, tự cấp hay thu hẹp hội nhập, mà thể hiện ở năng lực thực hiện mục tiêu phát triển, duy trì các cân đối thiết yếu và bảo đảm dư địa lựa chọn chính sách. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV nhấn mạnh tinh thần “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin”, đồng thời yêu cầu “giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a). Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục đặt ra yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực sản xuất các ngành công nghiệp chiến lược (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b). Theo đó, nội lực là nền tảng của hội nhập chủ động, còn ngoại lực cần được chuyển hóa thành nguồn lực củng cố nội lực.
Năm là, cốt lõi của an ninh chuỗi cung ứng không phải triệt tiêu phụ thuộc, mà là quản trị hiệu quả các phụ thuộc chiến lược. Phụ thuộc lẫn nhau là hệ quả khách quan của phân công lao động quốc tế; rủi ro chiến lược xuất hiện khi nền kinh tế phụ thuộc lớn vào những đầu vào thiết yếu có nguồn cung tập trung và khả năng thay thế thấp. OECD (2025) cho thấy số sản phẩm có mức độ tập trung nhập khẩu đáng kể trên phạm vi toàn cầu vào đầu những năm 2020 cao hơn khoảng 50% so với cuối những năm 1990. Vì vậy, trọng tâm không phải giảm phụ thuộc một cách cơ học, mà là nhận diện đúng các mắt xích trọng yếu, đa dạng hóa nguồn cung và thị trường, phát triển năng lực thay thế, làm chủ công nghệ và củng cố năng lực dự phòng.
Xét từ góc độ kinh tế chính trị, tự chủ chiến lược là năng lực quản trị phụ thuộc trên nền tảng nội lực đủ mạnh. Năng lực sản xuất và công nghệ càng vững, mức độ đa dạng hóa và khả năng dự phòng càng cao thì sức chống chịu của chuỗi cung ứng và dư địa lựa chọn chính sách càng được củng cố. Đó là tự chủ trong một nền kinh tế mở: hội nhập sâu nhưng không lệ thuộc thụ động, khai thác ngoại lực để củng cố nội lực và giữ vững quyền chủ động phát triển.
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI AN NINH CHUỖI CUNG ỨNG CỦA VIỆT NAM
Hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu đã mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực sản xuất và vị thế thương mại của Việt Nam; song đồng thời làm gia tăng mức độ truyền dẫn các cú sốc bên ngoài. Từ góc độ an ninh chuỗi cung ứng, nổi lên một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, quy mô thương mại tăng nhanh nhưng mức độ nhạy cảm với các cú sốc bên ngoài cũng gia tăng. Năm 2025, xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD; hàng công nghiệp chế biến chiếm 88,7% kim ngạch xuất khẩu (Cục Thống kê, 2026). Hội nhập sâu mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và thúc đẩy tham gia mạng sản xuất quốc tế, nhưng đồng thời làm cho các biến động về đầu vào, thị trường, vận tải và chính sách thương mại quốc tế truyền dẫn nhanh hơn vào nền kinh tế. Vì vậy, năng lực hội nhập không chỉ được phản ánh qua quy mô thương mại, mà còn ở giá trị gia tăng trong nước, chất lượng liên kết chuỗi và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Thứ hai, năng lực xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, trong khi năng lực tham gia chuỗi của doanh nghiệp trong nước cần tiếp tục được nâng cao. Năm 2025, khu vực FDI đạt 367,09 tỷ USD, chiếm 77,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, chiếm 22,7% (Cục Thống kê, 2026). FDI là nguồn lực quan trọng đối với công nghiệp hóa, xuất khẩu và hội nhập; vì vậy, vấn đề không nằm ở tỷ trọng FDI cao tự thân, mà ở mức độ liên kết với khu vực kinh tế trong nước, khả năng lan tỏa công nghệ và nâng cấp năng lực của doanh nghiệp Việt Nam. Yêu cầu đặt ra là chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô thu hút FDI sang nâng cao chất lượng và năng lực hấp thụ FDI, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước và từng bước nâng vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong các khâu có giá trị gia tăng cao.
Thứ ba, mức độ tập trung vào một số nguồn cung và thị trường chủ yếu còn lớn. Năm 2025, nhập khẩu tư liệu sản xuất đạt 426,11 tỷ USD, chiếm 93,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 186 tỷ USD, trong khi Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 153,2 tỷ USD (Cục Thống kê, 2026). Cấu trúc này phản ánh đặc trưng của một nền kinh tế sản xuất - xuất khẩu tham gia sâu vào phân công quốc tế, đồng thời làm gia tăng mức độ nhạy cảm trước biến động từ các nguồn cung và thị trường tập trung. Rủi ro trở nên đáng kể khi sự tập trung gắn với những đầu vào thiết yếu, công nghệ khó thay thế hoặc thị trường có vai trò lớn đối với xuất khẩu. Vì vậy, vấn đề không phải giảm nhập khẩu hay thu hẹp quan hệ thương mại một cách cơ học, mà là nhận diện và quản trị những phụ thuộc chiến lược có khả năng thay thế thấp và tác động lan truyền lớn.
Thứ tư, năng lực logistics chưa tương xứng với yêu cầu nâng cao sức chống chịu của chuỗi cung ứng. Hạ tầng và dịch vụ logistics đã có bước phát triển, song chi phí cao vẫn là một điểm nghẽn đối với năng lực cạnh tranh. Theo Bộ Công Thương (2024), chi phí logistics của Việt Nam ở mức khoảng 16,8% GDP, cao hơn mức trung bình toàn cầu 10-12%. Chi phí logistics cao không chỉ làm tăng chi phí lưu thông hàng hóa mà còn hạn chế dư địa tổ chức lại nguồn cung và tuyến vận tải khi chuỗi bị gián đoạn. Vì vậy, logistics cần được nhìn nhận không chỉ là dịch vụ hỗ trợ thương mại, mà còn là hạ tầng chiến lược bảo đảm tính liên tục của chuỗi cung ứng và góp phần củng cố an ninh kinh tế quốc gia.
Thứ năm, các tiêu chuẩn xanh, số và công nghệ đang tái định nghĩa điều kiện tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Lợi thế dựa chủ yếu vào lao động chi phí thấp và gia công ngày càng khó tạo lập vị thế bền vững khi các chuỗi cung ứng đặt ra yêu cầu cao hơn về giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu, tiêu chuẩn công nghệ và trách nhiệm xã hội. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải đồng thời nâng cao năng lực công nghệ, sử dụng năng lượng xanh, quản trị dữ liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Theo đó, an ninh chuỗi cung ứng trong giai đoạn mới không thể tách rời an ninh công nghệ, năng lượng, dữ liệu và năng lực chuyển đổi xanh.
Nhìn tổng thể, vấn đề cốt lõi không nằm ở mức độ hội nhập cao, mà ở khoảng cách giữa độ sâu hội nhập và sức mạnh của nội lực. Thu hẹp khoảng cách này đòi hỏi chuyển từ mở rộng quy mô tham gia sang nâng cao chất lượng, vị thế và quyền chủ động trong chuỗi giá trị toàn cầu; từ khai thác lợi thế chi phí sang củng cố năng lực công nghệ, doanh nghiệp và khả năng thích ứng. Qua đó, hội nhập không chỉ tạo động lực tăng trưởng mà còn trở thành phương thức củng cố nội lực, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và nâng cao tự chủ chiến lược kinh tế.
CÁC GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM BẢO ĐẢM AN NINH CHUỖI CUNG ỨNG, CỦNG CỐ TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
Một là, hoàn thiện thể chế và cơ chế điều phối an ninh chuỗi cung ứng quốc gia. Cần xác lập an ninh chuỗi cung ứng là một nội dung quan trọng của an ninh kinh tế; xác định rõ đầu mối điều phối liên ngành và xây dựng bản đồ phụ thuộc chiến lược đối với các ngành, sản phẩm, công nghệ và hạ tầng thiết yếu. Trên cơ sở đó, nhận diện sớm điểm nghẽn, đánh giá mức độ tập trung nguồn cung, khả năng thay thế và tác động lan truyền để chủ động xây dựng kịch bản ứng phó.
Hai là, đa dạng hóa nguồn cung, thị trường và nâng cao năng lực dự phòng đối với các chuỗi thiết yếu. Cần phân loại các mắt xích theo mức độ thiết yếu, rủi ro gián đoạn và khả năng thay thế để lựa chọn phù hợp giữa phát triển năng lực trong nước, đa dạng hóa đối tác, dự trữ chiến lược, duy trì công suất dự phòng và hợp tác dài hạn. Nguyên tắc là không nội địa hóa bằng mọi giá, không dự phòng dàn trải, mà tập trung vào những mắt xích có ý nghĩa chiến lược và rủi ro hệ thống cao.
Ba là, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao chất lượng liên kết với khu vực FDI. Chính sách cần tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, tín dụng chuỗi cung ứng, đổi mới công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và nguồn nhân lực, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn và từng bước vươn lên các tầng giá trị cao của chuỗi. Đồng thời, thu hút FDI cần gắn chặt hơn với R&D, phát triển nhà cung cấp, chuyển giao tri thức và hình thành hệ sinh thái công nghệ trong nước. Thước đo cần chuyển từ quy mô vốn thu hút sang giá trị gia tăng, công nghệ và năng lực mà nền kinh tế hấp thụ được.
Bốn là, đầu tư có trọng điểm cho công nghệ, logistics, năng lượng và hạ tầng dữ liệu chiến lược. Cần ưu tiên những lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn, nâng cao khả năng làm chủ công nghệ và bảo đảm các dòng hàng hóa, năng lượng, dữ liệu không bị đứt gãy trước các cú sốc. Đồng thời, phát triển logistics đa phương thức và nền tảng dữ liệu chuỗi cung ứng kết nối thương mại, hải quan, vận tải, sản xuất và tồn kho để tăng năng lực dự báo, cảnh báo và điều phối. Qua đó, hạ tầng chiến lược không chỉ phục vụ tăng trưởng mà còn trở thành năng lực chống chịu và dự phòng của nền kinh tế.
Năm là, đưa sức chống chịu và mức độ tự chủ vào đánh giá chất lượng phát triển. Bên cạnh GDP, xuất khẩu và FDI, cần từng bước theo dõi giá trị gia tăng trong nước, mức độ tập trung nguồn cung, khả năng thay thế đầu vào và công nghệ, năng lực dự phòng, vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi và thời gian phục hồi sau gián đoạn. Qua đó, sức chống chịu, khả năng thích ứng và quyền chủ động trở thành những tiêu chí thực chất của chất lượng tăng trưởng và năng lực tự chủ kinh tế.
Tựu trung, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng đòi hỏi chuyển từ ứng phó sang chủ động phòng ngừa, từ quản lý từng khâu sang quản trị toàn chuỗi, từ mở rộng hội nhập sang nâng cao năng lực làm chủ trong hội nhập. Cốt lõi là củng cố năng lực nội sinh, làm chủ các mắt xích thiết yếu, đa dạng hóa nguồn cung và thị trường, phát triển doanh nghiệp, công nghệ và logistics; qua đó nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và tự chủ chiến lược của nền kinh tế trong hội nhập quốc tế.
KẾT LUẬN
Tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu đang đặt ra yêu cầu mới đối với an ninh kinh tế và tự chủ chiến lược của Việt Nam. Trong điều kiện hội nhập sâu rộng, an ninh chuỗi cung ứng không chỉ là bảo đảm dòng hàng hóa hay duy trì sản xuất, mà còn phản ánh sức chống chịu và khả năng giữ vững quyền chủ động của nền kinh tế trước những biến động bên ngoài.
Đối với Việt Nam, vấn đề không phải giảm phụ thuộc hay thu hẹp hội nhập, mà là quản trị hiệu quả những phụ thuộc có ý nghĩa chiến lược trên nền tảng nội lực đủ mạnh. Điều đó đòi hỏi nâng cao năng lực sản xuất và công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước, làm chủ các mắt xích thiết yếu, đa dạng hóa nguồn cung và thị trường, đồng thời củng cố hạ tầng và khả năng dự phòng. Cốt lõi là chuyển từ tham gia sang nâng cao vị thế trong chuỗi, từ thu hút ngoại lực sang chuyển hóa ngoại lực thành nội lực, từ ứng phó với đứt gãy sang chủ động nhận diện và quản trị rủi ro.
Qua đó, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng trở thành nền tảng củng cố tự chủ chiến lược kinh tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất và hiệu quả; tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
3. Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
4. Bộ Công Thương (2024). Tọa đàm trực tuyến: Logistics với thị trường Hoa Kỳ. Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương.
5. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. Bộ Tài chính.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cổng Thông tin Tư liệu - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Cổng Thông tin Tư liệu - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam.
8. Organisation for Economic Co-operation and Development (2025). OECD supply chain resilience review: Navigating risks. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/94e3a8ea-en
9. World Trade Organization (2026). Global trade outlook and statistics: March 2026. World Trade Organization.
| Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/9/2026; Ngày duyệt đăng: 28/9/2026 |
Các tin khác
Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19
Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh
Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam
Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh