Ảnh hưởng của việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Lê Tín
Email: [email protected]
Trần Khánh Dung
Email: [email protected]
Đinh Thị Ngọc Hương
Email: [email protected]
Võ Thị Thuỷ Tiên
Email: [email protected]
Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến hiệu quả hoạt động của 26 ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2019-2024, sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) kết hợp với phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc phục phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan. Kết quả cho thấy việc áp dụng nguyên tắc thận trọng ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra, quy mô ngân hàng và tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động, trong khi dịch COVID-19 gây tác động tiêu cực, cho thấy ngân hàng dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm vừa nâng cao hiệu quả hoạt động vừa giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Từ khóa: Nguyên tắc thận trọng kế toán, hiệu quả hoạt động ngân hàng, COVID-19, Việt Nam
Summary
This study examines the impact of applying the accounting conservatism principle on the performance of 26 commercial banks in Viet Nam over the period 2019-2024. The research employs a random effects model (REM) combined with the generalized least squares (GLS) method to address issues of heteroskedasticity and autocorrelation. The findings suggest that the application of accounting conservatism has a negative impact on bank performance. In addition, bank size and the loan-to-deposit ratio exert positive effects on performance, whereas the COVID-19 pandemic has a negative impact, suggesting that banks are vulnerable to macroeconomic shocks. Based on these results, the study proposes several policy implications aimed at improving bank performance while mitigating risks.
Keywords: Accounting conservatism principle, bank performance, COVID-19, Viet Nam
GIỚI THIỆU
Theo “Đề án áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam” do Bộ Tài chính soạn thảo và trình Thủ tướng phê duyệt (căn cứ Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 tại Quyết định số 480/QĐ-TTg ngày 18/3/2013), lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam gồm 3 giai đoạn, gồm: Giai đoạn chuẩn bị (từ năm 2019 đến hết năm 2021), giai đoạn áp dụng tự nguyện (từ năm 2022 đến hết năm 2025), giai đoạn bắt buộc áp dụng (từ sau năm 2025). Chuẩn mực IFRS số 13 về xác định giá trị hợp lý (fair value) có tác động lớn đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính - bộ mặt của doanh nghiệp (DN). Trong đó, nguyên tắc thận trọng trong kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định giá trị hợp lý của các khoản mục trong báo cáo tài chính ngân hàng. Bộ Tài chính định hướng lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực tiên phong trong việc áp dụng IFRS ở Việt Nam.
Hiện tại, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quy định của Ngân hàng Nhà nước, việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong DN nói chung và ngân hàng nói riêng một phần là bắt buộc, một phần do bản thân DN, ngân hàng tự xác định. Việc áp dụng nguyên tắc thận trọng sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, giúp bản thân ngân hàng cũng như các bên có liên quan (nhà đầu tư, các cơ quan chức năng, khách hàng,…) xác định đúng giá trị thực, làm cơ sở để đưa ra các quyết định chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động.
Nguyên tắc thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Dựa trên những rủi ro (chủ quan và khách quan) mà ngân hàng ghi nhận tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí với giá trị khác nhau. Nguyên tắc thận trọng xuất phát từ yêu cầu về tính tin cậy của thông tin kế toán. Một hệ thống kế toán có độ thận trọng cao, sẽ đáng tin tưởng hơn hệ thống kế toán không có sự thận trọng. Chính vì vậy, mục tiêu của bài viết nhằm phân tích tác động của việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam trong giai đoạn 2019-2024.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Trong nước
Nguyễn Văn Đức và cộng sự (2022) tìm hiểu ảnh hưởng của tính thận trọng trong kế toán đến rủi ro trượt giá cổ phiếu thông qua việc nghiên cứu lợi suất cổ phiếu của những DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả cho thấy, tính thận trọng trong kế toán càng cao thì rủi ro cổ phiếu trượt giá trong tương lai càng thấp, do đó DN thực hiện nguyên tắc thận trọng có xu hướng giảm thiểu rủi ro trượt giá cổ phiếu. Tương tự, nghiên cứu của Đinh Thế Hùng và cộng sự (2023) về ảnh hưởng của nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến hiệu quả của các công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) chỉ ra, nguyên tắc thận trọng trong kế toán có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả DN, tức mức độ thận trọng càng cao DN hoạt động càng hiệu quả.
Ngoài nước
Nghiên cứu của Alwehwah và cộng sự (2022) về tác động của chính sách kế toán thận trọng đến giá thị trường của các ngân hàng niêm yết ở Palestin sau cải cách kết luận rằng, việc áp dụng mức độ thận trọng kế toán có tác động tích cực đến giá thị trường của ngân hàng ở cả 2 mô hình trước cải cách, trong khi tác động ngược chiều sau cải cách.
Kết quả nghiên cứu của Nourani và Shamsoddini (2023) cho thấy báo cáo tài chính áp dụng nguyên tắc thận trọng có tác động yếu đến mối quan hệ giữa sự bất định trong môi trường kinh doanh và cơ sở dồn tích trong các DN niêm yết ở Iran và không phụ thuộc vào quy mô DN. Ritonga (2023) nghiên cứu ảnh hưởng của tính thận trọng trong kế toán, quy mô công ty và quản trị DN đến chất lượng lợi nhuận của các DN ở Indonesia giai đoạn 2018-2022 chỉ ra rằng, chỉ có tính thận trọng trong kế toán có ảnh hưởng cùng chiều đến chất lượng lợi nhuận kế toán trong khi 2 yếu tố còn lại không ảnh hưởng.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu B/P (Book-to-Price) - tức nghịch đảo của P/B - để đo lường mức độ thận trọng kế toán trong các NHTM. Theo nguyên tắc thận trọng, tài sản và lợi nhuận thường được ghi nhận thấp hơn trong điều kiện không chắc chắn, dẫn đến việc giá trị sổ sách thường được ghi nhận thấp hơn giá thị trường. Khi mức độ thận trọng tăng, ngân hàng có xu hướng ghi nhận dự phòng cao và hạn chế ghi nhận lợi nhuận chưa chắc chắn, làm cho giá trị sổ sách tương đối thấp so với giá thị trường, từ đó làm tăng chỉ số B/P.
Hơn nữa, nhiều nghiên cứu quốc tế đã sử dụng B/P như một chỉ báo của tính thận trọng trong kế toán, đặc biệt trong khung lý thuyết của thận trọng có điều kiện (conditional conservatism). Các công trình của Penman & Zhang (2002), Beaver & Ryan (2005) và nhiều nghiên cứu sau đó chỉ ra rằng mức chênh lệch giữa giá trị sổ sách thấp hơn so với giá trị thị trường là tín hiệu thể hiện độ thận trọng trong kế toán. Khi ngân hàng trích lập dự phòng cao hoặc ghi giảm giá trị tài sản sớm, giá trị sổ sách bị “nén” xuống, khiến B/P tăng và phản ánh mức độ thận trọng mạnh hơn. Điều này cho thấy B/P không chỉ hợp lý về mặt lý thuyết mà còn được kiểm chứng thực nghiệm.
Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu thu thập số liệu bảng của 26 ngân hàng có niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán ở Việt Nam (19 ngân hàng niêm yết trên sàn HOSE, 1 ngân hàng niêm yết trên sàn HNX, 6 ngân hàng niêm yết trên sàn UpCom) trong khoảng thời gian 2019-2024. Sau khi làm sạch dữ liệu, bộ dữ liệu còn lại 144 quan sát.
Để đánh giá tác động của việc áp dụng nguyên tắc thận trong trong kế toán đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến với dữ liệu bảng của 26 ngân hàng trong giai đoạn 2019-2024. Mô hình cụ thể như sau:
ROEit = β0 + β1CONSit + β2Zit + β3Dit + ɛit
Trong đó: ROEit là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng, đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng. CONSit đo lường mức độ áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán của ngân hàng (tính bằng B/P). Các biến kiểm soát Zit bao gồm các đặc điểm của ngân hàng gồm: TAit là tổng tài sản được tính bằng cách lấy logarit tổng tài sản của ngân hàng, NPLit là tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng, CARit là tỷ lệ an toàn vốn, LDRit là tỷ lệ dư nợ/vốn huy động của ngân hàng. Biến định tính Dit bao gồm: COVit là năm có xảy ra dịch bệnh COVID-19.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả hoạt động kinh doanh của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2019-2024
Bảng số liệu bên dưới cho thấy bức tranh tổng quan về hiệu quả hoạt động và mức độ an toàn của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2019-2024. Nhìn chung, ngành ngân hàng duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, khả năng sinh lời hấp dẫn và chất lượng tín dụng tương đối ổn định, song vẫn tồn tại sự phân hóa mạnh giữa các nhóm ngân hàng.
Bảng 1: Tóm tắt kết quả kinh doanh các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2019-2024
|
Chỉ tiêu |
Đơn vị tính |
Trung bình |
Nhỏ nhất |
Lớn nhất |
|
Tổng tài sản |
Nghìn tỷ đồng |
481 |
20,4 |
2.760 |
|
Tăng trưởng tài sản |
% |
15,44 |
1,41 |
44,69 |
|
Tăng trưởng tín dụng |
% |
17,34 |
0,64 |
32,67 |
|
Tăng trưởng huy động |
% |
14,88 |
-9,31 |
71,82 |
|
Tỷ lệ nợ xấu |
% |
1,70 |
1,42 |
2,09 |
|
ROE |
% |
17,63 |
16,37 |
19,96 |
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên số liệu 26 ngân hàng giai đoạn 2019-2024
Trước hết, xét về quy mô và tăng trưởng tài sản, các NHTM có mức tổng tài sản trung bình khoảng 481 nghìn tỷ đồng, với chênh lệch rất lớn giữa ngân hàng nhỏ nhất (20.400 tỷ) và ngân hàng lớn nhất (2.760.000 tỷ đồng). Điều này phản ánh cấu trúc ngành phân tầng rõ rệt: nhóm ngân hàng lớn sở hữu lợi thế về vốn, mạng lưới và khả năng huy động, trong khi nhóm ngân hàng nhỏ chịu hạn chế về quy mô hoạt động và năng lực cạnh tranh. Tốc độ tăng trưởng tài sản, tín dụng và huy động đều duy trì ở mức cao, lần lượt đạt 15,44%; 17,34% và 14,88%. Tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động cho thấy áp lực lên thanh khoản, đặc biệt đối với các ngân hàng có mức tăng trưởng huy động thấp. Bức tranh này phản ánh xu hướng chung của ngành là tiếp tục mở rộng quy mô tín dụng, song cũng đặt ra nhiều vấn đề về kiểm soát rủi ro và duy trì an toàn vốn.
Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu (NPL) dao động từ 1,42% đến 2,09%, với mức trung bình 1,70%. Đây là mức tương đối tích cực, vẫn nằm trong ngưỡng an toàn của Ngân hàng Nhà nước.
Đối với khả năng sinh lời, chỉ tiêu ROE (Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) cho thấy hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM nhìn chung ở mức cao. Theo các báo cáo của ADB (2023), ROE bình quân của hệ thống ngân hàng khu vực ASEAN dao động trong khoảng 11-15%. So sánh với mức ROE trung bình 17,63% của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2019-2024 cho thấy khả năng sinh lời của ngành ngân hàng Việt Nam đang ở mức cao hơn so với khu vực ASEAN. Biên độ dao động của ROE không lớn (16,37-19,96%), phản ánh sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Tóm lại, giai đoạn 2019-2024, ngành ngân hàng Việt Nam tăng trưởng mạnh, sinh lời tốt, nhưng cũng đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn. Trong thời gian tới, để duy trì tăng trưởng bền vững, các NHTM cần tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, tăng vốn tự có, quản trị rủi ro và cải thiện hiệu quả vận hành thông qua chuyển đổi số.
Ảnh hưởng của việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Kết quả ở bảng 2 cho thấy mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) phù hợp hơn so với mô hình tác động cố định (FEM).
Bảng 2: Kết quả ước lượng mô hình và kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp
|
Tên biến |
Mô hình FEM |
Mô hình REM |
||
|
Beta |
P-value |
Beta |
P-value |
|
|
LogTS |
1,996 |
0,580 |
6,823 |
0,000 |
|
NPL |
92,438 |
0,089 |
72,843 |
0,136 |
|
CAR |
0,001 |
0,893 |
-0,003 |
0,729 |
|
LDR |
0,976 |
0,846 |
5,464 |
0,153 |
|
CONS |
-4,631 |
0,001 |
-4,121 |
0,002 |
|
COVID |
-2,091 |
0,019 |
-1,515 |
0,068 |
|
Kiểm định Hausman |
Chi2(5) = 11,04 Prob>chi2 = 0,0505 |
|||
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên số liệu 26 ngân hàng giai đoạn 2019-2024
Do đó, kết quả phân tích từ REM được sử dụng làm cơ sở thảo luận. Việc lựa chọn bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H0 cũng khá nhạy cảm vì P-value ở giá trị 0,0505.
Bảng 3. Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi và tự tương quan
|
Kiểm định |
Giá trị thống kê |
P-value |
Kết luận |
|
Breusch-Pagan (Heteroscedasticity) |
chibar2(01) = 81.89 |
Prob > chibar2 = 0.000 |
Có phương sai sai số thay đổi |
|
Wooldridge test (Autocorrelation) |
F(1, 25) = 13,455 |
Prob > F = 0,0012 |
Mô hình có tự tương quan |
Nguồn: Phân tích của tác giả
Kết quả kiểm định ở Bảng 3 cho thấy mô hình xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi và xảy ra hiện tượng tự tương quan. Chính vì vậy để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (Generalized Least Squares - GLS). Kết quả ước lượng GLS được thể hiện ở Bảng 4.
Bảng 4: Kết quả ước lượng mô hình GLS xác định ảnh hưởng của việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán để hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
|
ROE |
Hệ số Beta |
Độ lệch chuẩn |
Giá trị z |
P-Value |
|
LogTS |
8,404 |
0.976709 |
8,60 |
0,000*** |
|
NPL |
14,941 |
32.91513 |
0,45 |
0,650NS |
|
CAR |
-0,005 |
0.006059 |
-0,87 |
0,386NS |
|
LDR |
8,366 |
2.618042 |
3,20 |
0.001*** |
|
CONS |
-2,967 |
0.742692 |
-3,99 |
0,000*** |
|
COVID |
-2,481 |
0.527075 |
-4,71 |
0,000*** |
|
_cons |
-111,459 |
14.23252 |
-7,83 |
0,000*** |
Ghi chú: ***có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, NSKhông có ý nghĩa thống kê
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên số liệu 26 ngân hàng giai đoạn 2019-2024
Kết quả cho thấy biến CONS - đại diện cho mức độ áp dụng nguyên tắc thận trọng kế toán - có tác động âm lên ROE và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Điều này hàm ý rằng việc tăng cường áp dụng nguyên tắc thận trọng, đặc biệt thông qua việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, ghi nhận chi phí sớm và trì hoãn ghi nhận doanh thu, làm giảm lợi nhuận kế toán trong ngắn hạn của các NHTM. Kết quả này phù hợp với lý thuyết áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán, theo đó lợi nhuận được ghi nhận theo hướng thận trọng hơn (thấp hơn mức bình thường), tức nó phản ánh thận trọng hơn với rủi ro. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả chung của các nghiên cứu quốc tế và trong nước. Cụ thể, Basu (1997) và LaFond & Watts (2008) cho rằng áp dụng nguyên tắc thận trọng dẫn đến lợi nhuận thấp hơn do ghi nhận tổn thất sớm hơn. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (2020) cũng tìm thấy tác động tiêu cực của trích lập dự phòng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Ngoài ra, kết quả mô hình GLS cho thấy quy mô ngân hàng (LogTS) và các yếu tố quản lý hoạt động như tỷ lệ dư nợ/vốn huy động (LDR) có tác động tích cực tới ROE, phản ánh rằng các ngân hàng lớn và những ngân hàng sử dụng vốn huy động hiệu quả thường đạt lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cao hơn.
Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) mặc dù hệ số ước lượng có hướng như kỳ vọng (NPL hệ số âm, CAR hệ số dương), nhưng không có ý nghĩa thống kê. Điều này hàm ý rằng các biến này chưa đủ ảnh hưởng rõ rệt tới ROE. Kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Hà Nguyễn (2023) tại Việt Nam ghi nhận rằng CAR đôi khi không có tác động đáng kể tới ROE khi kiểm soát các biến khác.
Ngoài ra, biến giả về dịch COVID‑19 cho thấy tác động tiêu cực tới ROE, phù hợp với bối cảnh đại dịch làm tăng rủi ro nợ xấu. Điều này làm tăng chi phí dự phòng và giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đồng thời bổ sung bằng chứng mới về ảnh hưởng của các cú sốc vĩ mô đến hiệu quả ngân hàng.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến hiệu quả hoạt động của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2019-2024, sử dụng mô hình Random Effects (REM), mô hình GLS khắc phục phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan trên dữ liệu bảng. Kết quả chỉ ra rằng việc áp dụng nguyên tắc thận trọng có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động, phản ánh chi phí dự phòng tăng làm giảm lợi nhuận trong ngắn hạn. Dù vậy, việc tăng cường trích lập dự phòng và ghi nhận tổn thất kịp thời giúp ngân hàng nâng cao năng lực tài chính, giảm thiểu chi phí xử lý nợ xấu trong tương lai, góp phần tạo nên sự ổn định trong hoạt động ngân hàng. Do đó, bản thân ngân hàng cần cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận và yêu cầu tuân thủ, áp dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán vào việc ghi nhận thông tin tài chính.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy quy mô ngân hàng và tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động, trong khi dịch bệnh COVID-19 gây tác động tiêu cực, nhấn mạnh vai trò của các cú sốc kinh tế vĩ mô. Do đó, các ngân hàng cần xây dựng chiến lược mở rộng quy mô bền vững; đồng thời tối ưu hóa tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi để nâng cao lợi nhuận mà vẫn kiểm soát rủi ro thanh khoản. Đồng thời, cả ngân hàng và cơ quan quản lý nên xây dựng các công cụ dự phòng, cơ chế hỗ trợ tạm thời và tăng cường minh bạch thông tin tài chính, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến lợi nhuận trong các giai đoạn khủng hoảng hoặc biến động bất ngờ.
(*) Đề tài này được tài trợ bởi Trường Đại học Cần Thơ, Mã số: T2024-97
Tài liệu tham khảo:
1. ADB (2023). Asian Development Outlook 2023 Update: Economic Recovery and Outlook. Asian Development Bank, Manila.
2. Alwehwah, L. M. M., Barakat, F. S. Q., & Mahmoud, O. A. R. (2022). The role of accounting conservatism in effecting the public listed Palestinian banks market value in light of the amendments to the Palestinian banking governance manual issued in 2014. International Journal of Accounting & Finance Review, 10(1), 93-106. https://doi.org/10.46281/ijafr.v10i1.1676
3. Basu, S. (1997). The conservatism principle and the asymmetric timeliness of earnings. Journal of Accounting and Economics, 24(1), 3-37.
4. Beaver, W. H., & Ryan, S. G. (2005). Conditional and unconditional conservatism: Concepts and modeling. Review of Accounting Studies, 10(2-3), 269-309. https://doi.org/10.1007/s11142-005-1532-6
5. Đinh Thế Hùng, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Lê Thủy, Mai Tố Quyên, Lê Yến Nhi & Vũ Diệu Linh (2023). Ảnh hưởng của tính thận trọng trong kế toán đến hiệu quả hoạt động của công ty: Bằng chứng từ các công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, số 253, 2023. DOI: 10.59276/TCKHDT.2023.06.2479.
6. LaFond, R., & Watts, R. L. (2008). The information role of conservatism. The Accounting Review, 83(2), 447-478.
7. Nourani, H., & Shamsoddini, M. (2023). The effect of conservative financial reporting on the relationship between environmental uncertainty and accrual anomaly. Journal of Accounting Knowledge, 12(4). https://doi.org/10.22103/jak.2023.21412.3880
8. Nguyen, H. (2023). Credit Risk and Financial Performance of Commercial Banks: Evidence from Vietnam.
9. Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Vân Anh, Trần Đặng Thy Mai, Ngô Thị Huyền Trang, Phan Tam Anh, Nguyễn Thu Hằng & Lê Thị Thu (2022). Ảnh hưởng của tính thận trọng trong kế toán đến rủi ro trượt giá tại các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Working Papers Series, Trường Đại học Ngoại Thương Cơ sở II.
10. Nguyễn Thị Hồng (2020). Ảnh hưởng của trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (26), 51-54.
11. Penman, S. H., & Zhang, X.-J. (2002). Accounting conservatism, the quality of earnings, and stock returns. The Accounting Review, 77(2), 237-264. https://doi.org/10.2308/accr.2002.77.2.237
12. Ritonga, Z., Inuzula, L., & Mulyadi (2023). The effect of accounting conservatism, company size and good corporate governance on the quality of company profits. JASa (Jurnal Akuntansi, Audit dan Sistem Informasi Akuntansi), 7(1).
| Ngày nhận bài: 25/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/12/2025; Ngày duyệt đăng: 26/12/2025 |
Các tin khác
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam