Tổng quan nghiên cứu về quản trị bền vững khu công nghiệp và khung phân tích cho tỉnh Tây Ninh

Nghiên cứu - Trao đổi 10:35 | 06/11/2026
Tây Ninh có nhiều lợi thế nổi trội về vị trí địa lý khi nằm trên hành lang kinh tế Đông - Tây, tiếp giáp TP. Hồ Chí Minh, kết nối Đồng bằng Sông Cửu Long và sở hữu gần 369 km đường biên giới với Campuchia và có nhiều KCN như Phước Đông, Trảng Bàng và Thành Thành Công.

NCS. Âu Phước Quý

Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh; Email: 6013250017@huit.edu.vn

PGS, TS. Nguyễn Ngọc Duy Phương

Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

PGS, TS. Vũ Văn Đông

Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị bền vững khu công nghiệp, áp dụng cho tỉnh Tây Ninh. Bằng phương pháp tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, nghiên cứu này đề xuất khung 9 nhân tố tác động đến Quản trị bền vững khu công nghiệp, gồm: Chính sách địa phương, Hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, Năng lực doanh nghiệp, Nguồn nhân lực, đào tạo nghề, Sự tham gia của cộng đồng, Thu hút đầu tư có chọn lọc, Kinh tế tuần hoàn, Bảo vệ môi trường và Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Đây là cơ sở lý thuyết để thực hiện các nghiên cứu định lượng trong thời gian tới.

Từ khóa: Khu công nghiệp, Tây Ninh, tổng quan nghiên cứu

Abstract

This study reviews the theoretical foundations and relevant empirical literature on the factors influencing sustainable industrial park governance, with a focus on Tay Ninh Province. Based on a review of theoretical perspectives and previous studies, the research proposes a conceptual framework comprising nine factors affecting sustainable industrial park governance: local policies, industrial park technical infrastructure, enterprise capacity, human resources and vocational training, community participation, selective investment attraction, circular economy, environmental protection, and corporate social responsibility. This framework provides a theoretical foundation for future quantitative research on sustainable industrial park governance.

Keywords: Industrial parks, Tay Ninh Province, literature review

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam, Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 Quy định về quản lý khu công nghiệp (KCN) và khu kinh tế đã có quy định riêng về KCN sinh thái (Chính phủ, 2022). Tây Ninh có nhiều lợi thế nổi trội về vị trí địa lý khi nằm trên hành lang kinh tế Đông - Tây, tiếp giáp TP. Hồ Chí Minh, kết nối Đồng bằng Sông Cửu Long và sở hữu gần 369 km đường biên giới với Campuchia và có nhiều KCN như Phước Đông, Trảng Bàng và Thành Thành Công. Các nghiên cứu ở Việt Nam đã xem xét hạ tầng KCN và ý định đầu tư xanh (Hang và cộng sự, 2026), trách nhiệm xã hội và bền vững môi trường (Nguyen, Bui và Luong, 2025), tác động của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến môi trường (Hồ Đình Bảo và cộng sự, 2020; Nguyen, Pham và Phan, 2025) và quá trình chuyển đổi KCN thành KCN sinh thái (Stucki và cộng sự, 2019). Tuy nhiên, chưa có công trình nào kiểm định định lượng đồng thời nhiều nhóm yếu tố về chính sách, hạ tầng, doanh nghiệp, cộng đồng và thực hành bền vững đối với quản trị bền vững KCN, kể cả ở Tây Ninh.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết nền

Lý thuyết các bên liên quan xem bên liên quan là bất kỳ nhóm hay cá nhân hoặc tổ chức nào có thể tác động đến hoặc bị tác động bởi việc đạt được các mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp (Freeman, 1984); KCN là nơi hội tụ ban quản lý, chủ đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp, người lao động, cộng đồng, chính quyền và nhà đầu tư, nên quản trị bền vững là quá trình cân bằng lợi ích của các bên đó trong dài hạn.

Lý thuyết dựa trên nguồn lực cho rằng, lợi thế bền vững đến từ nguồn lực có giá trị, hiếm, khó bắt chước và khó thay thế (Barney, 1991).

Các lý thuyết: thể chế (DiMaggio và Powell, 1983), cụm ngành (Porter, 1990) và giá trị chia sẻ (Porter và Kramer, 2011) được dùng như lập luận bổ trợ.

Các khái niệm chính

Phát triển bền vững KCN. Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (WCED, 1987), được diễn đạt trên 3 bình diện kinh tế, xã hội và môi trường (Elkington, 1997). Phát triển bền vững KCN là mục tiêu và kết quả: quy hoạch, xây dựng, vận hành và quản lý KCN sao cho bảo đảm hiệu quả kinh tế, bình đẳng xã hội và bảo vệ môi trường.

Quản trị bền vững KCN. Khác với phát triển bền vững KCN, đây là năng lực và cơ chế điều hành tạo ra kết quả đó: quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều phối và giám sát hoạt động của KCN do Ban Quản lý, chủ đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp và các bên liên quan cùng thực hiện, nhằm giữ cân bằng lâu dài giữa 4 trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường và quản trị.

KCN sinh thái và kinh tế tuần hoàn. Theo UNIDO, World Bank Group và GIZ (2021), KCN sinh thái thúc đẩy hợp tác liên ngành và với cộng đồng vì lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Kinh tế tuần hoàn giảm chất thải và khai thác tối đa giá trị tài nguyên thông qua tái sử dụng, tái chế và tái sản xuất; ở cấp KCN, mô hình này thể hiện qua cộng sinh công nghiệp, khi chất thải của doanh nghiệp này trở thành đầu vào của doanh nghiệp khác (Dai và cộng sự, 2022).

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT

Chính quyền là bên có quyền lực pháp lý và nguồn lực công, vừa tác động đến, vừa chịu tác động từ việc KCN đạt mục tiêu (Freeman, 1984) và doanh nghiệp điều chỉnh hành vi theo khuôn khổ pháp lý do nhà nước thiết lập (DiMaggio và Powell, 1983).

Ở Trung Quốc, Yu, Dijkema và de Jong (2015) kết luận mô hình KCN sinh thái do nhà nước quy hoạch hữu ích ở giai đoạn đầu, về sau cần kết hợp với mô hình hỗ trợ, và gói chính sách kinh tế, quy định và tự nguyện cần điều chỉnh theo địa phương; hoạt động thể chế giữ vai trò then chốt ở khu Thiên Tân (Yu, de Jong và Dijkema, 2014). Tại Việt Nam, Stucki và cộng sự (2019) trình bày các can thiệp về chính sách, cấp KCN và cấp doanh nghiệp trong dự án KCN sinh thái của UNIDO tại Việt Nam. Theo Nguyen, Pham và Phan (2025), chính sách môi trường là yếu tố quan trọng để giảm ô nhiễm. Tây Ninh quản lý KCN theo Nghị định số 35/2022/NĐ-CP. Để đẩy mạnh phát triển các KCN, Tây Ninh tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư - kinh doanh theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, đặc biệt trong giải quyết thủ tục cho các dự án hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp (Tiểu Lam, 2026). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H1: Chính sách riêng của chính quyền địa phương có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

Lý thuyết dựa trên nguồn lực xem nguồn lực có giá trị và khó sao chép là cơ sở của lợi thế bền vững (Barney, 1991); ở cấp KCN, hạ tầng đồng bộ về điện, nước sạch, xử lý nước thải, viễn thông và giao thông là nguồn lực dùng chung và Lý thuyết cụm ngành nhấn mạnh doanh nghiệp cùng cụm chia sẻ hạ tầng (Porter, 1990). Nghiên cứu của Yuan và cộng sự (2010) cho thấy, mô hình dùng chung giảm mạnh tổng chi phí, cải thiện hiệu quả môi trường và tăng hợp tác giữa các doanh nghiệp. Ở Việt Nam, Hang và cộng sự (2026) cho thấy, cả 5 nhóm hạ tầng (giao thông, năng lượng, công nghệ số, xử lý chất thải, logistics) tác động dương đến ý định đầu tư FDI xanh của 115 doanh nghiệp trong KCN. Còn Do và cộng sự (2026) chỉ ra rằng, doanh nghiệp trong KCN có năng suất cao hơn, nếu hạ tầng đồng bộ. Tây Ninh có nhiều lợi thế nổi trội về vị trí địa lý khi nằm trên hành lang kinh tế Đông - Tây, tiếp giáp TP. Hồ Chí Minh, kết nối Đồng bằng Sông Cửu Long và sở hữu gần 369 km đường biên giới với Campuchia. Theo Quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, các KCN tại Tây Ninh được phân bố theo hành lang kinh tế và trục động lực gắn với Vành đai 3, Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh, cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài, cao tốc Bắc - Nam phía Tây và vành đai Bàu Bàng - Mộc Bài. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H2: Hạ tầng kỹ thuật KCN có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

Lý thuyết dựa trên nguồn lực xem năng lực là khả năng kết hợp có mục đích các nguồn lực để đạt mục tiêu (Barney, 1991). Nghiên cứu của Eikelenboom và de Jong (2019) cho thấy, năng lực tích hợp thông tin từ nhà cung cấp và người tiêu dùng giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt cả 3 mục tiêu bền vững. Theo Rahaman và cộng sự (2024), năng lực động bên ngoài và bên trong đều tác động dương đến hiệu quả bền vững. Begnini và cộng sự (2022) cho thấy, năng lực hấp thụ tác động dương đến thực hành bền vững, được điều tiết bởi mức độ tham gia cụm. Ở KCN sinh thái, Zhu và cộng sự (2015) cho thấy, rào cản về công nghệ và năng lực phổ biến nhất. Doanh nghiệp trong KCN Tây Ninh khác nhau về quy mô, ngành, nguồn vốn và liên kết giữa các doanh nghiệp được giả định là yếu. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H3: Năng lực doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

Cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp từ ô nhiễm, giao thông và thay đổi sinh kế quanh KCN (Freeman, 1984). Hong và Gasparatos (2020) cho thấy, hiểu biết về tác động xã hội của KCN sinh thái còn rất ít. Theo Wang và cộng sự (2021), sự tham gia của công chúng vào quản trị môi trường ở các KCN hóa chất Trung Quốc ở trạng thái bất lực, do nền tảng yếu, kênh hạn chế và ban quản lý KCN kém hiệu quả. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyen, Bui và Luong (2025) cho thấy, doanh nghiệp chủ động tham gia cộng đồng có xu hướng đạt kết quả môi trường tốt hơn. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H4: Sự tham gia của cộng đồng có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

Theo Lý thuyết dựa trên nguồn lực, vốn con người là nguồn lực chiến lược vì kỹ năng lao động khó sao chép (Barney, 1991). Rahaman và cộng sự (2024) tìm thấy tương quan dương giữa nhân lực xanh và hiệu quả chung của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ở cấp KCN, Zhu và cộng sự (2015) cho thấy, rào cản về nâng cao năng lực phổ biến nhất, gợi ý năng lực lao động là điểm nghẽn thực tế. Theo số liệu từ Nghị quyết số 33-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh, tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo của Tỉnh đạt 76,39% nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới chỉ đạt 31,19%. Thực tế cho thấy, chất lượng nguồn lao động của Tỉnh vẫn chưa cao, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa theo kịp định hướng phát triển, đặc biệt là thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm như công nghiệp công nghệ cao, logistics, du lịch và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H5: Nguồn nhân lực và đào tạo nghề có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

Nhà đầu tư và đối tác thương mại ngày càng đưa tiêu chí môi trường và xã hội vào chiếng lược phát triển doanh nghiệp (Freeman, 1984) và giá trị kinh tế gắn với giá trị xã hội tạo lợi thế mới (Porter và Kramer, 2011). Nghiên cứu của Nguyen, Pham và Phan (2025) cho rằng, hiệu ứng vầng hào quang ô nhiễm gắn với vốn từ nước phát triển và FDI chất lượng cao. Theo Huynh và Hoang (2019), FDI làm tăng ô nhiễm không khí khi thể chế yếu và cải thiện khi thể chế đạt một trình độ nhất định. Theo Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh, trong giai đoạn mới, Tỉnh chủ trương sẽ thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, thân thiện với môi trường và có khả năng tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu. Những dự án không đáp ứng các tiêu chí này sẽ được xem xét kỹ lưỡng thay vì chấp nhận rộng rãi như trước (Thanh Phong, 2026). Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H6: Thu hút đầu tư có chọn lọc có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

Theo Lý thuyết các bên liên quan, môi trường tự nhiên và doanh nghiệp lân cận chịu tác động từ dòng nguyên liệu và chất thải của mỗi doanh nghiệp (Freeman, 1984). Dai và cộng sự (2022) mô tả KCN sinh thái là sự kết hợp nguyên lý sinh thái công nghiệp và cộng sinh công nghiệp. Ở Việt Nam, Stucki và cộng sự (2019) trình bày kết quả dự án UNIDO tại 5 KCN ở Đà Nẵng, Cần Thơ và Ninh Bình và chỉ ra còn thiếu dữ liệu và tiêu chuẩn về tái sử dụng phụ phẩm, chất thải. Tây Ninh hiện có nhiều khu, cụm công nghiệp hoạt động với mật độ doanh nghiệp ngày càng tăng, kéo theo áp lực lớn đối với công tác bảo vệ môi trường. Do đó, ngành chức năng địa phương đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động đối với nước thải, khí thải được đặc biệt chú trọng nhằm theo dõi liên tục các chỉ số môi trường và truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý (Quỳnh Trang, 2026). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H7: Kinh tế tuần hoàn có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

Cộng đồng và cơ quan quản lý chịu tác động trực tiếp từ chất lượng môi trường của KCN (Freeman, 1984), còn công nghệ xử lý nước thải và tiết kiệm năng lượng là các nguồn lực xanh (Barney, 1991). Hong và Gasparatos (2020) cho biết, kết quả bền vững thực tế của KCN sinh thái vẫn chưa được biết rõ, nên quan hệ giữa thực hành môi trường và kết quả bền vững không thể coi là hiển nhiên. Nguyen, Bui và Luong (2025) cho thấy, trách nhiệm xã hội gắn với giảm khí thải, nước thải và chất thải rắn ở doanh nghiệp tại Bắc Ninh và Bắc Giang. Nguyen, Pham và Phan (2025) cho rằng, chính sách môi trường là yếu tố quan trọng để giảm ô nhiễm. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H8: Bảo vệ môi trường có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

Trách nhiệm xã hội là cách doanh nghiệp đáp ứng kỳ vọng của nhiều bên liên quan (Freeman, 1984) và giải quyết các vấn đề xã hội có thể đồng thời tạo giá trị kinh tế (Porter và Kramer, 2011). Nghiên cứu của Nguyen, Bui và Luong (2025) cho thấy, trách nhiệm xã hội tác động dương đến bền vững môi trường, trong đó tuân thủ pháp luật, hành vi đạo đức và tham gia cộng đồng đi cùng kết quả môi trường tốt hơn. Mai và cộng sự (2021), các bên liên quan ảnh hưởng đến các loại trách nhiệm xã hội và uy tín doanh nghiệp, trong đó trách nhiệm pháp lý, đạo đức, môi trường và từ thiện có ảnh hưởng có ý nghĩa đến uy tín, trừ trách nhiệm kinh tế. Le và cộng sự (2021) chỉ ra rằng, trách nhiệm xã hội tác động dương đến hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở miền Nam Việt Nam thông qua uy tín và ý định mua của khách hàng. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H9: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến Quản trị bền vững KCN.

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở các giả thuyết nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Tổng quan nghiên cứu về quản trị bền vững khu công nghiệp và khung phân tích cho tỉnh Tây Ninh

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ

Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, Lý thuyết các bên liên quan và Lý thuyết dựa trên nguồn lực, nghiên cứu đề xuất khung 9 nhân tố tác động đến Quản trị bền vững KCN, gồm: Chính sách địa phương, Hạ tầng kỹ thuật KCN, Năng lực doanh nghiệp, Nguồn nhân lực, đào tạo nghề, Sự tham gia của cộng đồng, Thu hút đầu tư có chọn lọc, Kinh tế tuần hoàn, Bảo vệ môi trường và Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

Tuy nhiên, nghiên cứu mới là tổng quan tường thuật chứ không phải hệ thống; mỗi giả thuyết có 5-8 nghiên cứu nhưng đa số là nghiên cứu tình huống hoặc đo biến phụ thuộc khác; mô hình chưa được kiểm định; việc mở rộng Lý thuyết dựa trên nguồn lực lên cấp KCN mới ở mức biện luận ban đầu; và phạm vi một địa phương với mẫu phi xác suất sẽ hạn chế khả năng khái quát hóa. Các hướng tiếp theo gồm rà soát hệ thống bổ sung, khảo sát kiểm định mô hình, xem xét vai trò trung gian của thu hút đầu tư có chọn lọc và vai trò điều tiết của quy mô, ngành và nguồn vốn của doanh nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

1. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108

2. Begnini, S., Carvalho, C. E., and Rossetto, C. R. (2022). The moderating role of firm's level of participation in a cluster in the relation between absorptive capacity and sustainability practices. BAR - Brazilian Administration Review, 19(3), Article e210034.

3. Boons, F., and Spekkink, W. (2012). Levels of institutional capacity and actor expectations about industrial symbiosis: Evidence from the Dutch stimulation program 1999-2004. Journal of Industrial Ecology, 16(1), 61-69.

4. Chính phủ. (2022). Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.

5. Dai, Y., Day, S., Masi, D., and Gölgeci, I. (2022). A synthesised framework of eco-industrial park transformation and stakeholder interaction. Business Strategy and the Environment, 31(7), 3122-3151. https://doi.org/10.1002/bse.3067

6. DiMaggio, P. J., and Powell, W. W. (1983). The iron cage revisited: Institutional isomorphism and collective rationality in organizational fields. American Sociological Review, 48(2), 147-160. https://doi.org/10.2307/2095101

7. Do, T. H. T., Nguyen, Q. V., Le, V. H., Bui, H. L., and Nguyen, T. T. (2026). Firm performance and industrial accumulation: The role of industrial parks. Thailand and the World Economy, 44(1), 216-233.

8. Eikelenboom, M., and de Jong, G. (2019). The impact of dynamic capabilities on the sustainability performance of SMEs. Journal of Cleaner Production, 235, 1360-1370. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2019.07.013

9. Elkington, J. (1997). Cannibals with forks: The triple bottom line of 21st century business. Capstone Publishing.

10. Freeman, R. E. (1984). Strategic management: A stakeholder approach. Pitman.

11. Hang, B. T., Dao, T. T., and Hai, D. T. (2026). The impact of infrastructure quality on green FDI intention: Evidence from enterprises in industrial zones. Journal of Governance and Regulation, 15(2), 389-399. https://doi.org/10.22495/jgrv15i2siart7

12. Hong, H., and Gasparatos, A. (2020). Eco-industrial parks in China: Key institutional aspects, sustainability impacts, and implementation challenges. Journal of Cleaner Production, 274, Article 122853. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2020.122853

13. Hồ Đình Bảo, Đinh Đức Trường, Nguyễn Phúc Hải, and Phạm Tấn Phát. (2020). Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới môi trường ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, sô 273, 2-10.

14. Huynh, C. M., and Hoang, H. H. (2019). Foreign direct investment and air pollution in Asian countries: Does institutional quality matter? Applied Economics Letters, 26(17), 1388-1392. https://doi.org/10.1080/13504851.2018.1563668

15. Le, T. T., Ngo, Q. H., and Tran, T. T. H. (2021). Effects of corporate social responsibility on SMEs' performance in emerging market. Cogent Business and Management, 8(1), Article 1878978. https://doi.org/10.1080/23311975.2021.1878978

16. Mai, N. K., Nguyen, K. T. A., and Tran, T. T. H. (2021). Stakeholders and corporate social responsibility (CSR) programme as key sustainable development strategies to promote corporate reputation: Evidence from Vietnam. Cogent Business and Management, 8(1), Article 1917333. https://doi.org/10.1080/23311975.2021.1917333

17. Nguyen, B. D., Pham, T. H. N., and Phan, T. N. (2025). Foreign direct investment and the current environmental situation: Evidence from Binh Duong, Vietnam. VNU Journal of Economics and Business, 5(4), Article 50. https://doi.org/10.57110/vnu-jeb.v5i4.340

18. Nguyen, C. T., Bui, V. H., and Luong, T. D. (2025). Corporate social responsibility as a driver of environmental sustainability: Lessons from industrial provinces in a developing country. International Journal of Sustainable Development and Planning, 20(10), 4409-4419. https://doi.org/10.18280/ijsdp.201028

19. Porter, M. E. (1990). The competitive advantage of nations. Free Press.

20. Porter, M. E., and Kramer, M. R. (2011). Creating shared value. Harvard Business Review, 89(1/2), 62-77.

21.Quỳnh Trang (2026). Tây Ninh: Giám sát chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường tại khu, cụm công nghiệp. https://thiennhienmoitruong.vn/tay-ninh-giam-sat-chat-che-cong-tac-bao-ve-moi-truong-tai-khu-cum-cong-nghiep.html

22. Rahaman, A., Taru, R. D., Ahammad, I., Durgude, U., and Ali, I. (2024). Impact of dynamic capabilities and green HR on sustainable performance in SMEs. Problems and Perspectives in Management, 22(4), 693-703. https://doi.org/10.21511/ppm.22(4).2024.53

23. Stucki, J., Flammini, A., van Beers, D., Tran, T. P., Nguyen, T. A., Tran, D. D., Vu, Q. H., and Vuong, T. M. H. (2019). Eco-industrial park (EIP) development in Viet Nam: Results and key insights from UNIDO's EIP project (2014-2019). Sustainability, 11(17), Article 4667.

24. Thanh Phong (2026). Chủ động chiến lược thu hút đầu tư. https://nhandan.vn/chu-dong-chien-luoc-thu-hut-dau-tu-post959776.html

25. Tiểu Lam (2026). Khu công nghiệp Tây Ninh tiếp tục là động lực tăng trưởng, hướng đến phát triển xanh và bền vững. https://www.tayninh.gov.vn/kinh-te/khu-cong-nghiep-tay-ninh-tiep-tuc-la-dong-luc-tang-truong-huong-den-phat-trien-xanh-va-ben-vung-1043968

26. Tỉnh ủy Tây Ninh (2026). Nghị quyết số 33-NQ/TU ngày 02/06/2026 về cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2026-2030.

27. UNIDO, World Bank Group, and GIZ. (2021). An international framework for eco-industrial parks, version 2.0. World Bank. https://doi.org/10.1596/35110

28. Wang, Y., Zhang, R., Worden, S., Cao, H., and Li, C. (2021). Public participation in environmental governance initiatives of chemical industrial parks. Journal of Cleaner Production, 305, Article 127092. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2021.127092

29. World Commission on Environment and Development. (1987). Our common future. Oxford University Press.

30. Yu, C., de Jong, M., and Dijkema, G. P. J. (2014). Process analysis of eco-industrial park development: The case of Tianjin, China. Journal of Cleaner Production, 64, 464-477. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2013.09.002

31. Yu, C., Dijkema, G. P. J., and de Jong, M. (2015). What makes eco-transformation of industrial parks take off in China? Journal of Industrial Ecology, 19(3), 441-456. https://doi.org/10.1111/jiec.12185

32. Yuan, Z., Zhang, L., Zhang, B., Huang, L., Bi, J., and Liu, B. (2010). Improving competitive advantage with environmental infrastructure sharing: A case study of China-Singapore Suzhou Industrial Park. International Journal of Environmental Research, 4(4), 751-758. https://doi.org/10.22059/ijer.2010.261

33. Zhu, Q., Geng, Y., Sarkis, J., and Lai, K.-H. (2015). Barriers to promoting eco-industrial parks development in China: Perspectives from senior officials at national industrial parks. Journal of Industrial Ecology, 19(3), 457-467. https://doi.org/10.1111/jiec.12176

Ngày nhận bài: 20/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/10/2026; Ngày duyệt đăng: 5/11/2026

Các tin khác

Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tại Việt Nam, mức độ ứng dụng AI chuyên sâu còn hạn chế. Đặc biệt, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn trong khi các doanh nghiệp xây dựng chịu áp lực đòn bẩy tài chính cao. Câu hỏi đặt ra là liệu AI có thực sự tác động tích cực đến hiệu quả tài chính và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp hay không?
Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong môi trường kinh doanh biến động nhanh, nhà quản trị cần thông tin kịp thời, chính xác và có tính dự báo. Nếu kế toán tài chính chủ yếu phản ánh sự kiện đã xảy ra cho đối tượng bên ngoài, thì kế toán quản trị cung cấp thông tin hướng đến tương lai, phục vụ trực tiếp việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định trong nội bộ.
Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng khi dùng dịch vụ gửi tiết kiệm trực tuyến tại Agribank - Chi nhánh Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng khi dùng dịch vụ gửi tiết kiệm trực tuyến tại Agribank - Chi nhánh Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Trong các nghiệp vụ được số hóa, gửi tiết kiệm trực tuyến liên quan trực tiếp đến tài sản tích lũy của khách hàng và là nguồn huy động vốn quan trọng của ngân hàng. Quyết định gửi tiền có kỳ hạn gắn với số tiền lớn và thời gian cam kết dài, nên khách hàng nhạy cảm hơn với rủi ro và độ ổn định của hệ thống.
Phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG

Phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG

Nghiên cứu tập trung phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG, từ đó đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Tác động của năng lực hấp thụ tri thức số đến ý định khởi nghiệp công nghệ của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh

Tác động của năng lực hấp thụ tri thức số đến ý định khởi nghiệp công nghệ của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh

Dưới góc nhìn kinh tế học nguồn lực, câu hỏi cốt lõi không chỉ là sinh viên tiếp cận được bao nhiêu tri thức số. Điều quan trọng hơn là nguồn lực học tập, thời gian và chi phí cơ hội được chuyển hóa hiệu quả đến đâu thành năng lực khởi nghiệp có thể thương mại hóa, tức hiệu suất đầu tư vào vốn tri thức của cá nhân.
Chuyển đổi số và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp năng lượng: Tổng quan nghiên cứu và định hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Chuyển đổi số và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp năng lượng: Tổng quan nghiên cứu và định hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Đối với doanh nghiệp năng lượng, chuyển đổi số tạo cơ hội tối ưu hóa vận hành và sử dụng nguồn lực, nhưng đồng thời đòi hỏi chi phí đầu tư công nghệ và thay đổi tổ chức.
Tác động của xây dựng thương hiệu cá nhân đến cơ hội việc làm của sinh viên năm cuối ngành Marketing tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của xây dựng thương hiệu cá nhân đến cơ hội việc làm của sinh viên năm cuối ngành Marketing tại TP. Hồ Chí Minh

Thị trường lao động ngày càng cạnh tranh, đòi hỏi sinh viên không chỉ cần có kiến thức chuyên môn, mà còn phải thể hiện rõ năng lực và giá trị khác biệt.
Chi phí ẩn trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển phần mềm: Tổng quan hệ thống và khung khái niệm

Chi phí ẩn trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển phần mềm: Tổng quan hệ thống và khung khái niệm

Qua khảo sát gần 5.000 chuyên gia công nghệ, ghi nhận khoảng 90% người trả lời sử dụng AI trong công việc hằng ngày, với thời lượng tương tác trung bình khoảng 2 giờ mỗi ngày, tương đương 1/4 ngày làm việc. Khảo sát với hơn 49.000 lập trình viên cũng cho thấy 84% người trả lời đang sử dụng hoặc dự định sử dụng công cụ AI trong quy trình làm việc.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng thanh toán điện tử của khách hàng hộ kinh doanh tại BIDV khu vực Đức Trọng

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng thanh toán điện tử của khách hàng hộ kinh doanh tại BIDV khu vực Đức Trọng

Chuyển đổi số và sự phổ biến của Internet, thiết bị di động, ngân hàng số đã thúc đẩy thanh toán điện tử phát triển, hỗ trợ chuyển dịch từ tiền mặt sang giao dịch hiện đại.
Tác động của giá trị tiêu dùng xanh đến ý định và hành vi mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của giá trị tiêu dùng xanh đến ý định và hành vi mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Giá trị tiêu dùng xanh góp phần định hình ý định và thúc đẩy hành vi mua sản phẩm xanh, phản ánh xu hướng tiêu dùng bền vững.