Chuyển đổi số và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp năng lượng: Tổng quan nghiên cứu và định hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 08:40 | 06/11/2026
Đối với doanh nghiệp năng lượng, chuyển đổi số tạo cơ hội tối ưu hóa vận hành và sử dụng nguồn lực, nhưng đồng thời đòi hỏi chi phí đầu tư công nghệ và thay đổi tổ chức.

ThS. Nguyễn Văn Vũ (Tác giả chính)

Email: [email protected]

ThS, NCS. Nguyễn Văn Tuấn

Trường Đại học Vinh

Tóm tắt

Chuyển đổi số đang trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh không hoàn toàn đồng nhất, mà có thể khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp, cách thức triển khai và điều kiện hoạt động. Nghiên cứu này tổng hợp, phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa chuyển đổi số và hiệu quả kinh doanh, tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng. Trên cơ sở so sánh cách tiếp cận lý thuyết, phương pháp đo lường và kết quả nghiên cứu, nghiên cứu làm rõ những xu hướng kết quả chính, các điểm chưa thống nhất và khoảng trống nghiên cứu liên quan đến bối cảnh Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số định hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm làm rõ hơn tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp năng lượng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Từ khóa: Chuyển đổi số, hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp năng lượng, doanh nghiệp niêm yết, Việt Nam

Abstract

Digital transformation has become an important driver of innovation in business models, enhanced competitiveness, and improved business performance. However, its impact on business performance is not uniform and may vary depending on firm characteristics, implementation approaches, and operating conditions. This study reviews and analyses domestic and international research on the relationship between digital transformation and business performance, with a focus on listed companies, particularly those operating in the energy sector. By comparing theoretical approaches, measurement methods, and research findings, the study identifies major trends in the results, areas of inconsistency, and research gaps relating to the Vietnamese context. On this basis, it proposes several directions for future research to provide further insights into the impact of digital transformation on the business performance of energy companies listed on the Vietnamese stock market.

Keywords: Digital transformation, business performance, energy enterprises, listed companies, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Chuyển đổi số (CĐS) trở thành động lực ngày càng quan trọng giúp doanh nghiệp đổi mới mô hình kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị và cải thiện hiệu quả hoạt động. Theo Vial (2019), CĐS không chỉ là việc ứng dụng công nghệ, mà còn tạo ra những thay đổi đáng kể trong cách thức tổ chức và tạo lập giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tác động của CĐS đến hiệu quả kinh doanh chưa hoàn toàn thống nhất giữa các nghiên cứu. Một số nghiên cứu cho thấy CĐS góp phần cải thiện hiệu quả tài chính thông qua nâng cao năng suất, giảm chi phí và thúc đẩy đổi mới sáng tạo (Ren và Li, 2023; Ren và cộng sự, 2023). Ngược lại, Jardak và Ben Hamad (2022) ghi nhận tác động tiêu cực của mức độ trưởng thành số đến tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) tại các doanh nghiệp niêm yết ở Thụy Điển. Những kết quả khác biệt này cho thấy tác động của CĐS có thể phụ thuộc vào đặc điểm ngành, doanh nghiệp và phương pháp đo lường.

Đối với doanh nghiệp năng lượng, CĐS tạo cơ hội tối ưu hóa vận hành và sử dụng nguồn lực, nhưng đồng thời đòi hỏi chi phí đầu tư công nghệ và thay đổi tổ chức. Tại Việt Nam, dù đã có nghiên cứu về CĐS và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết, nhưng việc tổng hợp các bằng chứng liên quan đến riêng nhóm doanh nghiệp năng lượng vẫn là hướng nghiên cứu cần được quan tâm.

Do đó, nghiên cứu tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của CĐS đến hiệu quả kinh doanh, tập trung vào doanh nghiệp niêm yết và lĩnh vực năng lượng. Qua đó, nghiên cứu nhận diện xu hướng nghiên cứu, những kết quả chưa thống nhất và khoảng trống nghiên cứu, từ đó đề xuất định hướng nghiên cứu tiếp theo đối với các doanh nghiệp năng lượng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

CĐS được hiểu là quá trình doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số kết hợp với đổi mới chiến lược, quy trình và tổ chức nhằm thay đổi phương thức hoạt động và tạo ra giá trị. Vial (2019) nhấn mạnh rằng, CĐS không chỉ gắn với việc triển khai công nghệ mà còn liên quan đến những thay đổi về cấu trúc tổ chức, chiến lược và cách thức tạo lập giá trị. Tương tự, Hanelt và cộng sự (2021) cho rằng, CĐS đòi hỏi doanh nghiệp thích ứng về tổ chức và chiến lược trong môi trường kinh doanh chịu tác động của công nghệ số.

Mối quan hệ giữa CĐS và hiệu quả kinh doanh được giải thích thông qua Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp (RBV). Theo lý thuyết này, kết quả hoạt động và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào điều kiện thị trường mà còn gắn với nguồn lực và năng lực mà doanh nghiệp sở hữu, kiểm soát và khai thác. Barney (1991) cho rằng, những nguồn lực có giá trị, khan hiếm và khó bị sao chép hoặc thay thế có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Vận dụng cách tiếp cận này vào nghiên cứu CĐS, công nghệ số không nên chỉ được xem xét như một khoản đầu tư riêng lẻ, mà cần được đặt trong mối quan hệ với dữ liệu, nguồn nhân lực số, năng lực quản trị và khả năng tích hợp công nghệ vào quy trình hoạt động. Khi được kết hợp và khai thác hiệu quả, các nguồn lực này có thể góp phần nâng cao năng suất, tối ưu hóa chi phí và cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản, qua đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, RBV cung cấp cơ sở lý thuyết để giải thích vì sao tác động của CĐS có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp, tùy thuộc vào nguồn lực và năng lực triển khai của từng doanh nghiệp.

Theo cách tiếp cận này, lợi thế cạnh tranh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng sở hữu, phát triển và khai thác hiệu quả các nguồn lực. Trong quá trình CĐS, công nghệ, dữ liệu, nhân lực số và năng lực quản trị có thể trở thành những nguồn lực quan trọng giúp doanh nghiệp cải thiện năng suất, tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản.

Hiệu quả kinh doanh có thể được đánh giá bằng các chỉ tiêu tài chính, trong đó ROA phản ánh khả năng tạo lợi nhuận từ tổng tài sản, còn ROE thể hiện khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Việc sử dụng đồng thời 2 chỉ tiêu này giúp xem xét tác động của CĐS từ các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, tác động thực tế có thể khác biệt tùy thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp, mức độ đầu tư công nghệ và thời gian cần thiết để CĐS tạo ra kết quả tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan và phân tích tài liệu nhằm hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa CĐS và hiệu quả kinh doanh. Tài liệu được xem xét tập trung vào các công trình nghiên cứu về cơ sở lý thuyết, cách đo lường CĐS, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh, phương pháp phân tích và kết quả thực nghiệm; trong đó ưu tiên các nghiên cứu về doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp thuộc lĩnh vực năng lượng.

Trên cơ sở tổng hợp tài liệu, nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa các kết quả nghiên cứu; đồng thời phân tích các hạn chế và vấn đề còn chưa thống nhất nhằm nhận diện khoảng trống nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam. Kết quả tổng hợp được trình bày theo các nhóm nội dung gồm: cách tiếp cận và đo lường CĐS, tác động của CĐS đến hiệu quả kinh doanh, các yếu tố có thể làm thay đổi tác động và định hướng nghiên cứu tiếp theo đối với doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ma trận tổng hợp các nghiên cứu tiêu biểu

Các nghiên cứu về CĐS và hiệu quả kinh doanh tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ, bao gồm xây dựng cơ sở lý thuyết, đo lường mức độ CĐS, đánh giá tác động đến hiệu quả tài chính và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này. Bảng dưới tổng hợp một số công trình tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu.

Bảng: Tổng hợp các nghiên cứu về chuyển đổi số và hiệu quả kinh doanh

Tác giả, năm

Bối cảnh và

phương pháp

Đo lường/biến kết quả

Kết quả chính

Liên hệ với đề tài và khoảng trống

Vial (2019)

Tổng quan 282 công trình về CĐS.

Tổng hợp khái niệm, quá trình và hệ quả của CĐS.

Đề xuất khung gồm các yếu tố công nghệ số, gián đoạn, phản ứng chiến lược, thay đổi cấu trúc và kết quả tích cực/tiêu cực.

Cung cấp nền tảng khái niệm; không trực tiếp kiểm định ROA/ROE của doanh nghiệp năng lượng.

Hanelt và cộng sự (2021)

Tổng quan hệ thống 279 bài báo, tiếp cận từ thay đổi tổ chức và chiến lược.

Phân tích chủ đề và các góc nhìn về CĐS.

CĐS gắn với thiết kế tổ chức linh hoạt, thích ứng liên tục và hệ sinh thái kinh doanh số.

Làm rõ bản chất đa chiều của CĐS; chưa tập trung riêng vào hiệu quả tài chính của doanh nghiệp năng lượng Việt Nam.

Jardak và Ben Hamad (2022)

23 doanh nghiệp niêm yết tại Thụy Điển, 92 quan sát giai đoạn 2015-2018; hồi quy bảng tĩnh và động/GMM.

Mức độ trưởng thành số; ROA, ROE và Tobin’s Q.

Mức trưởng thành số có tác động âm đến ROA và ROE nhưng dương đến Tobin’s Q trong mẫu nghiên cứu.

Cho thấy kết quả phụ thuộc thước đo hiệu quả; bối cảnh và quy mô mẫu hạn chế khả năng khái quát sang ngành năng lượng Việt Nam.

Ren và Li (2023)

Doanh nghiệp năng lượng tái tạo niêm yết A-share tại Trung Quốc, giai đoạn 2009-2021; phân tích văn bản báo cáo thường niên và hồi quy dữ liệu bảng.

Chỉ số CĐS; hiệu quả tài chính; đổi mới công nghệ xanh là biến trung gian.

CĐS có liên hệ tích cực với hiệu quả tài chính; đổi mới công nghệ xanh đóng vai trò trung gian; tác động khác nhau theo sở hữu, quy mô và khu vực.

Bằng chứng trực tiếp trong ngành năng lượng; cần kiểm định lại tại Việt Nam và xem xét cấu trúc ngành năng lượng trong nước.

Ren và cộng sự (2023)

69 doanh nghiệp năng lượng tái tạo niêm yết tại Trung Quốc, 966 quan sát giai đoạn 2008-2021; mô hình tác động cố định và trung gian.

Chỉ số CĐS; ROA, ROE; hiệu quả vận hành, chi phí và đổi mới.

CĐS cải thiện ROA/ROE; tác động mạnh hơn ở doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp lớn và khu vực phía Đông; các kênh gồm hiệu quả vận hành, giảm chi phí và đổi mới.

Gợi ý cần kiểm tra tính không đồng nhất; kết quả không thể mặc nhiên áp dụng cho thị trường Việt Nam.

Trần Ngọc Mai (2024)

Doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai đoạn 2017-2022; phân tích văn bản và dữ liệu doanh nghiệp.

CĐS theo chiều rộng và chiều sâu; hiệu quả hoạt động.

CĐS theo chiều sâu có tác động tích cực, trong khi theo chiều rộng có tác động tiêu cực theo thước đo nghiên cứu.

Bằng chứng trong nước nhưng không chuyên biệt ngành năng lượng; gợi ý cần phân biệt chiều rộng/chiều sâu và kiểm tra bằng ROA, ROE.

Guo và cộng sự (2025)

Dữ liệu bảng không cân bằng của doanh nghiệp năng lượng niêm yết Trung Quốc giai đoạn 2011-2023; tác động cố định hai chiều và phân tích trung gian.

CĐS; hiệu quả phát triển bền vững gồm tài chính, ESG và đổi mới.

CĐS cải thiện hiệu quả phát triển bền vững thông qua giảm hạn chế tài chính và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực; tác động khác nhau theo quy mô và phân khúc chuỗi giá trị.

Mở rộng kết quả vượt ra ngoài hiệu quả tài chính; đề tài tại Việt Nam có thể tập trung rõ hơn vào ROA/ROE và tính không đồng nhất.

Abakpa và Dvouletý (2025)

Tổng quan hệ thống 30 bài báo xuất bản giai đoạn 2014-2024.

Tổng hợp các thước đo hiệu quả tài chính và các lớp yếu tố số hóa.

Các nghiên cứu nhìn chung ghi nhận khả năng cải thiện lợi nhuận, tăng trưởng doanh thu và thị phần; tác giả đề nghị nghiên cứu dài hạn hơn.

Cung cấp bức tranh rộng về số hóa và hiệu quả tài chính; chưa chuyên biệt ngành năng lượng Việt Nam.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Từ Bảng, có thể nhận thấy nghiên cứu về CĐS và hiệu quả kinh doanh đã phát triển theo hướng ngày càng chú trọng đến kết quả thực nghiệm và cơ chế tác động. Trong khi Vial (2019), Hanelt và cộng sự (2021) tập trung làm rõ bản chất và quá trình CĐS, các nghiên cứu sau đó đi sâu hơn vào mối quan hệ giữa CĐS với hiệu quả tài chính, đổi mới và đặc điểm doanh nghiệp.

Các nghiên cứu về doanh nghiệp năng lượng tại Trung Quốc cung cấp bằng chứng trực tiếp về khả năng cải thiện hiệu quả tài chính của CĐS. Tuy nhiên, kết quả từ các bối cảnh khác nhau chưa hoàn toàn đồng nhất. Điều này cho thấy cần xem xét đồng thời cách đo lường CĐS, chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp khi tổng hợp bằng chứng.

Những xu hướng chính từ các nghiên cứu trước

Thứ nhất, cách đo lường chuyển đổi số ngày càng đa dạng

Các nghiên cứu của Vial (2019), Hanelt và cộng sự (2021) cho thấy CĐS là quá trình thay đổi có tính tổng thể, gắn với công nghệ, chiến lược và tổ chức. Vì vậy, việc chỉ xác định doanh nghiệp có ứng dụng công nghệ số hay không có thể chưa phản ánh đầy đủ mức độ chuyển đổi.

Trong các nghiên cứu thực nghiệm, CĐS được đo lường theo những cách khác nhau, chẳng hạn xây dựng chỉ số từ báo cáo thường niên hoặc phân biệt mức độ chuyển đổi theo chiều rộng và chiều sâu. Nghiên cứu của Trần Ngọc Mai (2024) cho thấy, sự khác biệt trong cách tiếp cận đo lường có thể đi kèm với kết quả tác động khác nhau. Do đó, việc lựa chọn thước đo phù hợp là yêu cầu quan trọng khi nghiên cứu doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện dữ liệu chủ yếu được khai thác từ báo cáo công khai.

Thứ hai, tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh chưa đồng nhất

Một xu hướng nổi bật là chưa thể kết luận CĐS luôn cải thiện mọi khía cạnh hiệu quả kinh doanh. Jardak và Ben Hamad (2022) ghi nhận tác động âm đối với ROA và ROE nhưng tác động dương đối với Tobin’s Q tại các doanh nghiệp niêm yết ở Thụy Điển. Trong khi đó, Ren và Li (2023), Ren và cộng sự (2023) tìm thấy tác động tích cực của CĐS đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp năng lượng tái tạo tại Trung Quốc.

Sự khác biệt này cần được diễn giải trên cơ sở bối cảnh và phương pháp nghiên cứu, thay vì xem là mâu thuẫn trực tiếp. ROA và ROE phản ánh khả năng sinh lời trên cơ sở kế toán, trong khi Tobin’s Q phản ánh khía cạnh giá trị doanh nghiệp trên thị trường. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư công nghệ, thời gian triển khai và khả năng khai thác các nguồn lực số có thể ảnh hưởng đến thời điểm lợi ích được thể hiện trong kết quả kinh doanh. Đây là những cơ chế cần được kiểm định bằng dữ liệu phù hợp, không nên mặc nhiên xem là nguyên nhân đã được chứng minh trong mọi trường hợp.

Thứ ba, đặc điểm doanh nghiệp và cơ chế tác động cần được xem xét

Các nghiên cứu trong lĩnh vực năng lượng cho thấy mối quan hệ giữa CĐS và hiệu quả hoạt động có thể thay đổi theo quy mô, hình thức sở hữu và đặc điểm môi trường kinh doanh. Ren và Li (2023) nhấn mạnh vai trò trung gian của đổi mới công nghệ xanh; Ren và cộng sự (2023) xem xét các kênh liên quan đến hiệu quả vận hành, chi phí và đổi mới. Guo và cộng sự (2025) mở rộng phân tích sang hạn chế tài chính và hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Những kết quả này gợi ý rằng, tác động của CĐS không chỉ phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đầu tư công nghệ, mà còn liên quan đến khả năng tổ chức, khai thác và chuyển hóa nguồn lực thành kết quả kinh doanh. Đối với nghiên cứu doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam, quy mô doanh nghiệp (SIZE), đòn bẩy tài chính (LEV), tăng trưởng doanh thu (GROWTH) và cơ cấu tài sản (TANG) là những yếu tố có thể xem xét trong mô hình. Tuy nhiên, vai trò của từng yếu tố cần được xác định dựa trên cơ sở lý thuyết và đặc điểm dữ liệu, đồng thời phân biệt rõ biến kiểm soát với biến điều tiết.

Khoảng trống nghiên cứu và định hướng cho Việt Nam

Từ các nghiên cứu được tổng hợp, có thể xác định một số vấn đề cần tiếp tục làm rõ đối với mối quan hệ giữa CĐS và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam:

Một là, khoảng trống về bối cảnh nghiên cứu. Các nghiên cứu được tổng hợp bao gồm doanh nghiệp niêm yết ở nhiều ngành và doanh nghiệp năng lượng tại Trung Quốc, trong khi nghiên cứu của Trần Ngọc Mai (2024) xem xét doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam theo phạm vi rộng hơn. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát để xác định mức độ nghiên cứu chuyên biệt về doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam. Việc xem xét bối cảnh này có ý nghĩa bởi đặc điểm hoạt động và cơ cấu tài sản của doanh nghiệp năng lượng có thể khác với doanh nghiệp thuộc các ngành khác.

Hai là, khoảng trống về đo lường hiệu quả kinh doanh. Các nghiên cứu sử dụng nhiều chỉ tiêu, bao gồm ROA, ROE, Tobin’s Q và hiệu quả phát triển bền vững. Những chỉ tiêu này phản ánh các khía cạnh khác nhau nên không thể thay thế hoàn toàn cho nhau. Do đó, việc xem xét riêng ROA và ROE có thể giúp làm rõ mối quan hệ giữa CĐS với khả năng sinh lời của tài sản và vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp năng lượng niêm yết Việt Nam.

Ba là, khoảng trống về đo lường CĐS. Sự đa dạng trong cách xây dựng chỉ số CĐS cho thấy cần lựa chọn phương pháp phù hợp với dữ liệu và mục tiêu nghiên cứu. Đối với doanh nghiệp niêm yết, thông tin trong báo cáo thường niên là một nguồn dữ liệu có thể khai thác, nhưng việc xây dựng chỉ số cần có hệ thống từ khóa, quy tắc mã hóa và tiêu chí đánh giá nhất quán. Điều này giúp tăng tính minh bạch và khả năng tái lập của kết quả nghiên cứu.

Bốn là, khoảng trống về sự khác biệt giữa các doanh nghiệp. Các nghiên cứu trong lĩnh vực năng lượng tại Trung Quốc ghi nhận tác động khác nhau theo quy mô, sở hữu và đặc điểm doanh nghiệp. Tuy nhiên, chưa thể mặc nhiên suy rộng các kết quả này sang Việt Nam. Vì vậy, cần xem xét liệu mối quan hệ giữa CĐS và hiệu quả kinh doanh có khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp năng lượng hay không, trên cơ sở số lượng quan sát và khả năng phân loại dữ liệu thực tế.

Năm là, khoảng trống về các yếu tố liên quan đến hiệu quả kinh doanh. Quy mô, đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu và cơ cấu tài sản có thể ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời có khả năng liên quan đến mối quan hệ giữa CĐS và hiệu quả kinh doanh. Việc đưa các yếu tố này vào mô hình cần dựa trên lập luận lý thuyết, tránh lựa chọn biến chỉ vì chúng xuất hiện trong những nghiên cứu trước.

Từ những vấn đề trên, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào các doanh nghiệp năng lượng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, sử dụng dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn 2015-2025. Hiệu quả kinh doanh có thể được đo lường bằng ROA và ROE, trong khi CĐS được lượng hóa từ thông tin công khai theo phương pháp có thể kiểm tra và tái lập. Đồng thời, mô hình cần xem xét các đặc điểm doanh nghiệp phù hợp nhằm đánh giá mức độ ổn định của mối quan hệ nghiên cứu.

Nhìn chung, các nghiên cứu hiện có cung cấp cơ sở quan trọng để tiếp tục phân tích tác động của CĐS đến hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, việc xác định kết quả trong bối cảnh doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam vẫn cần được thực hiện bằng dữ liệu và phương pháp phù hợp. Đây là hướng tiếp cận có thể bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho lĩnh vực nghiên cứu, đồng thời góp phần làm rõ điều kiện để CĐS gắn với cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp năng lượng.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU

CĐS ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Qua tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, nghiên cứu cho thấy, CĐS có khả năng cải thiện hiệu quả kinh doanh thông qua nâng cao hiệu quả vận hành, tối ưu hóa chi phí và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, tác động này không đồng nhất giữa các nghiên cứu, có thể thay đổi tùy theo cách đo lường CĐS, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và đặc điểm của doanh nghiệp. Điều đó cho thấy cần tiếp cận CĐS như một quá trình thay đổi tổng thể, thay vì chỉ xem xét mức độ ứng dụng công nghệ đơn thuần.

Đối với các doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam, những kết quả tổng hợp gợi mở sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn mối quan hệ giữa CĐS và hiệu quả kinh doanh trong điều kiện đặc thù của ngành. Các nghiên cứu tiếp theo có thể sử dụng dữ liệu thứ cấp từ báo cáo thường niên, đo lường hiệu quả kinh doanh thông qua ROA và ROE, đồng thời xem xét các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp như quy mô, đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu và cơ cấu tài sản. Việc lựa chọn thước đo và phương pháp phân tích cần bảo đảm tính nhất quán, khả năng kiểm chứng và phù hợp với dữ liệu thực tế.

Do nghiên cứu chủ yếu tổng hợp các nghiên cứu đã công bố, những khoảng trống được nhận diện mới là cơ sở định hướng, chưa thay thế cho việc kiểm định bằng dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi rà soát tài liệu và tiến hành kiểm định trên mẫu doanh nghiệp năng lượng niêm yết phù hợp. Qua đó, có thể bổ sung bằng chứng về tác động của CĐS đến hiệu quả kinh doanh, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp lựa chọn định hướng CĐS gắn với điều kiện nguồn lực và mục tiêu phát triển dài hạn.

Tài liệu tham khảo:

1. Abakpa, A., & Dvouletý, O. (2025). How does digitalization shape the business financial performance: A systematic review. Future Business Journal, 11, Article 235. https://doi.org/10.1186/s43093-025-00659-8

2. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108

3. Guo, L., Chen, F., & Chen, L. (2025). How does digital transformation affect corporate sustainability performance? Evidence from listed energy companies in China. PLOS ONE, 20(6), e0325898. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0325898

4. Hanelt, A., Bohnsack, R., Marz, D., & Antunes Marante, C. (2021). A systematic review of the literature on digital transformation: Insights and implications for strategy and organizational change. Journal of Management Studies, 58(5), 1159-1197. https://doi.org/10.1111/joms.12639

5. Jardak, M. K., & Ben Hamad, S. (2022). The effect of digital transformation on firm performance: Evidence from Swedish listed companies. The Journal of Risk Finance, 23(4), 329-348. https://doi.org/10.1108/JRF-12-2021-0199

6. Ren, Y., & Li, B. (2023). Digital transformation, green technology innovation and enterprise financial performance: Empirical evidence from the textual analysis of the annual reports of listed renewable energy enterprises in China. Sustainability, 15(1), 712. https://doi.org/10.3390/su15010712

7. Ren, Y., Li, B., & Liang, D. (2023). Impact of digital transformation on renewable energy companies’ performance: Evidence from China. Frontiers in Environmental Science, 10, 1105686. https://doi.org/10.3389/fenvs.2022.1105686

8. Trần Ngọc Mai. (2024). CĐS và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 26(7), 88-98. https://doi.org/10.59276/JELB.2024.07CD.2741

9. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda. The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118-144. https://doi.org/10.1016/j.jsis.2019.01.003

Ngày nhận bài: 8/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/10/2026; Ngày duyệt đăng: 5/11/2026

Các tin khác

Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tại Việt Nam, mức độ ứng dụng AI chuyên sâu còn hạn chế. Đặc biệt, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn trong khi các doanh nghiệp xây dựng chịu áp lực đòn bẩy tài chính cao. Câu hỏi đặt ra là liệu AI có thực sự tác động tích cực đến hiệu quả tài chính và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp hay không?
Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong môi trường kinh doanh biến động nhanh, nhà quản trị cần thông tin kịp thời, chính xác và có tính dự báo. Nếu kế toán tài chính chủ yếu phản ánh sự kiện đã xảy ra cho đối tượng bên ngoài, thì kế toán quản trị cung cấp thông tin hướng đến tương lai, phục vụ trực tiếp việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định trong nội bộ.
Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng khi dùng dịch vụ gửi tiết kiệm trực tuyến tại Agribank - Chi nhánh Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng khi dùng dịch vụ gửi tiết kiệm trực tuyến tại Agribank - Chi nhánh Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Trong các nghiệp vụ được số hóa, gửi tiết kiệm trực tuyến liên quan trực tiếp đến tài sản tích lũy của khách hàng và là nguồn huy động vốn quan trọng của ngân hàng. Quyết định gửi tiền có kỳ hạn gắn với số tiền lớn và thời gian cam kết dài, nên khách hàng nhạy cảm hơn với rủi ro và độ ổn định của hệ thống.
Tổng quan nghiên cứu về quản trị bền vững khu công nghiệp và khung phân tích cho tỉnh Tây Ninh

Tổng quan nghiên cứu về quản trị bền vững khu công nghiệp và khung phân tích cho tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh có nhiều lợi thế nổi trội về vị trí địa lý khi nằm trên hành lang kinh tế Đông - Tây, tiếp giáp TP. Hồ Chí Minh, kết nối Đồng bằng Sông Cửu Long và sở hữu gần 369 km đường biên giới với Campuchia và có nhiều KCN như Phước Đông, Trảng Bàng và Thành Thành Công.
Phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG

Phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG

Nghiên cứu tập trung phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG, từ đó đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Tác động của năng lực hấp thụ tri thức số đến ý định khởi nghiệp công nghệ của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh

Tác động của năng lực hấp thụ tri thức số đến ý định khởi nghiệp công nghệ của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh

Dưới góc nhìn kinh tế học nguồn lực, câu hỏi cốt lõi không chỉ là sinh viên tiếp cận được bao nhiêu tri thức số. Điều quan trọng hơn là nguồn lực học tập, thời gian và chi phí cơ hội được chuyển hóa hiệu quả đến đâu thành năng lực khởi nghiệp có thể thương mại hóa, tức hiệu suất đầu tư vào vốn tri thức của cá nhân.
Tác động của xây dựng thương hiệu cá nhân đến cơ hội việc làm của sinh viên năm cuối ngành Marketing tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của xây dựng thương hiệu cá nhân đến cơ hội việc làm của sinh viên năm cuối ngành Marketing tại TP. Hồ Chí Minh

Thị trường lao động ngày càng cạnh tranh, đòi hỏi sinh viên không chỉ cần có kiến thức chuyên môn, mà còn phải thể hiện rõ năng lực và giá trị khác biệt.
Chi phí ẩn trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển phần mềm: Tổng quan hệ thống và khung khái niệm

Chi phí ẩn trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển phần mềm: Tổng quan hệ thống và khung khái niệm

Qua khảo sát gần 5.000 chuyên gia công nghệ, ghi nhận khoảng 90% người trả lời sử dụng AI trong công việc hằng ngày, với thời lượng tương tác trung bình khoảng 2 giờ mỗi ngày, tương đương 1/4 ngày làm việc. Khảo sát với hơn 49.000 lập trình viên cũng cho thấy 84% người trả lời đang sử dụng hoặc dự định sử dụng công cụ AI trong quy trình làm việc.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng thanh toán điện tử của khách hàng hộ kinh doanh tại BIDV khu vực Đức Trọng

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng thanh toán điện tử của khách hàng hộ kinh doanh tại BIDV khu vực Đức Trọng

Chuyển đổi số và sự phổ biến của Internet, thiết bị di động, ngân hàng số đã thúc đẩy thanh toán điện tử phát triển, hỗ trợ chuyển dịch từ tiền mặt sang giao dịch hiện đại.
Tác động của giá trị tiêu dùng xanh đến ý định và hành vi mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của giá trị tiêu dùng xanh đến ý định và hành vi mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Giá trị tiêu dùng xanh góp phần định hình ý định và thúc đẩy hành vi mua sản phẩm xanh, phản ánh xu hướng tiêu dùng bền vững.