Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường carbon tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 09:12 | 24/10/2026
Thị trường carbon được xem là một công cụ kinh tế cho phép trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon, qua đó tạo động lực giảm phát thải, huy động nguồn lực tài chính cho các dự án phát triển xanh và nâng cao tính linh hoạt trong thực hiện các mục tiêu khí hậu

ThS. Lê Thị Khánh Như

Trường Cao đẳng Công Thương miền Trung

Email: [email protected]

Tóm tắt

Phát triển thị trường carbon là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính, chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 của Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở pháp lý, thực trạng triển khai thị trường carbon tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần thúc đẩy hình thành thị trường carbon minh bạch, hiệu quả, phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.

Từ khóa: Thị trường carbon, biến đổi khí hậu, sự phát triển, tín chỉ carbon

Abstract

The development of a carbon market is one of the key measures for promoting greenhouse gas emission reductions, transitioning towards a green economy, and fulfilling Viet Nam’s commitment to achieving net-zero emissions by 2050. This paper analyses the legal framework and the current state of carbon market implementation in Viet Nam, and proposes solutions to help foster the establishment of a transparent and efficient carbon market suited to Viet Nam’s development conditions.

Keywords: Carbon market, climate change, development, carbon credits

ĐẶT VẤN ĐỀ

Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững trên toàn cầu, đòi hỏi các quốc gia phải triển khai những cơ chế hiệu quả nhằm kiểm soát và giảm phát thải khí nhà kính. Theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992, phần lớn lượng phát thải khí nhà kính tích lũy trong lịch sử bắt nguồn từ các nước phát triển, trong khi các nước đang phát triển vẫn phải đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống. Trong bối cảnh đó, thị trường carbon được xem là một công cụ kinh tế cho phép trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon, qua đó tạo động lực giảm phát thải, huy động nguồn lực tài chính cho các dự án phát triển xanh và nâng cao tính linh hoạt trong thực hiện các mục tiêu khí hậu (Phạm Yến Nhi và Trần Quang Phủ, 2026).

Đối với Việt Nam, cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại Hội nghị COP26 đặt ra yêu cầu đẩy nhanh quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và phát thải thấp. Việc xây dựng thị trường carbon trong nước có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập cơ chế kinh tế khuyến khích doanh nghiệp giảm phát thải, thúc đẩy đổi mới công nghệ và khai thác tiềm năng tạo tín chỉ carbon từ các lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp và lâm nghiệp. Cùng với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn liên quan, những bước tiến trong xây dựng cơ chế phân bổ hạn ngạch và tổ chức giao dịch carbon đang tạo nền tảng cho quá trình hình thành thị trường này tại Việt Nam.

Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn đặt ra nhiều vấn đề về hoàn thiện khung pháp lý, phát triển hạ tầng giao dịch, xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải đồng bộ, chuẩn hóa hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định, cũng như nâng cao năng lực tham gia của doanh nghiệp. Những hạn chế này có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch, độ tin cậy và hiệu quả vận hành của thị trường carbon. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng triển khai, nhận diện những khó khăn chủ yếu và đề xuất giải pháp phát triển thị trường carbon phù hợp với điều kiện Việt Nam là cần thiết.

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng thị trường carbon tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường vận hành hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và phát triển bền vững.

THỰC TRẠNG VẬN HÀNH THỊ TRƯỜNG CARBON TẠI VIỆT NAM

Việc xây dựng và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam đã từng bước được triển khai trong những năm gần đây. Trong đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đánh dấu bước tiến quan trọng khi chính thức quy định về tổ chức và phát triển thị trường carbon, tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng các công cụ thị trường trong kiểm soát phát thải khí nhà kính. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành các văn bản hướng dẫn nhằm cụ thể hóa cơ chế quản lý phát thải, phân bổ hạn ngạch và trao đổi tín chỉ carbon. Đáng chú ý, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn đã đặt nền tảng cho việc hình thành thị trường carbon trong nước, bao gồm các nội dung chủ yếu: (1) Các cơ sở phát thải khí nhà kính phải kiểm kê khí nhà kính do nhà nước và chính phủ ban hành; (2) Các đơn vị tham gia vào thị trường cần thực hiện theo cơ chế trao đổi, mua bán tín chỉ carbon trong nước và quốc tế, phải tuân thủ theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà trong đó Việt Nam là nước thành viên; (3) Các cá nhân và tổ chức có liên quan đến các hoạt động đầu tư, kinh doanh hạn ngạch phát thải khí nhà kính hay tín chỉ carbon trên thị trường (Chính phủ, 2022).

Để tiếp tục thể chế hóa các quy định pháp luật về tổ chức phát triển thị trường carbon, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, nhằm giải quyết các vướng mắc, cập nhật các chính sách sửa đổi bổ sung, đặc biệt liên quan đến tổ chức và phát triển thị trường carbon. Ngoài ra, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về Sàn giao dịch carbon trong nước.

Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 phê duyệt hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho giai đoạn 2025-2026, nhằm tăng cường kiểm soát phát thải và thúc đẩy phát triển kinh tế carbon thấp. Hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm năm 2025 là 243.082.392 tấn CO₂ tương đương; năm 2026 là 268.391.454 tấn CO₂ tương đương. Việc xác định hạn ngạch theo từng năm tạo cơ sở cho quản lý phát thải phù hợp với lộ trình chuyển đổi xanh. Theo Quyết định số 699/QĐ-BNNMT, ngày 27/2/2026, trong số 110 cơ sở được phân bổ hạn ngạch có 51 cơ sở sản xuất xi măng; 34 cơ sở nhà máy nhiệt điện; 25 cơ sở sản xuất sắt thép. Cụ thể, trong lĩnh vực nhiệt điện, phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính của một số cơ sở như: Công ty Cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh (năm 2025 là 11.097.421 tấn CO₂ tương đương và năm 2026 là 12.157.533 tấn); Công ty TNHH Điện Lực AES Mông Dương- Nhà máy nhiệt điện Mông Dương (năm 2025 là 12.190.431 tấn và năm 2026 là 13.354.978 tấn); Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 (Nhà máy nhiệt điện BOT Vĩnh Tân 1) năm 2025 là 11.856.608 tấn và năm 2026 là 12.989.265 tấn CO₂. Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân- Chi nhánh TNHH MTV Tổng công ty Phát điện 3 (Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 có hạn ngạch phân bổ năm 2025 là 10.530.658 tấn và năm 2026 là 11.536.648 tấn. Trong lĩnh vực sản xuất thép, hạn ngạch phân bổ cho một số cơ sở như: Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (năm 2025 là 13.666.930 tấn CO₂ tương đương và năm 2026 là 15.932.703 tấn); Công ty Cổ phần Thép Hòa Phát Dung Quất (năm 2025 là 11.218.848 tấn và năm 2026 là 13.078.765 tấn CO₂ tương đương).

Bên cạnh việc phát triển thị trường carbon trong nước, Việt Nam tham gia các cơ chế quốc tế tạo tín chỉ carbon, gồm Cơ chế phát triển sạch (CDM) theo Nghị định thư Kyoto, Cơ chế tín chỉ chung (JCM) và các cơ chế hợp tác theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris. Các cơ chế này tạo khuôn khổ cho việc triển khai dự án giảm phát thải, xác nhận kết quả và chuyển giao tín chỉ theo những điều kiện tương ứng. Cụ thể, CDM cho phép các dự án tại các nước đang phát triển tạo tín chỉ giảm phát thải được chứng nhận; JCM thúc đẩy hợp tác song phương thông qua ứng dụng công nghệ phát thải thấp; còn Điều 6 của Thỏa thuận Paris tạo cơ sở cho hợp tác quốc tế và chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải giữa các quốc gia. Theo Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/1/2025, tín chỉ từ các cơ chế này thuộc nhóm nguồn được xem xét xác nhận để giao dịch trên sàn carbon trong nước theo quy định. Việc tham gia các cơ chế quốc tế vì vậy góp phần mở rộng cơ hội phát triển dự án giảm phát thải và kết nối thị trường carbon Việt Nam với thị trường quốc tế. Đặc biệt, cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại COP26 là định hướng quan trọng thúc đẩy Việt Nam phát triển thị trường carbon, huy động nguồn lực cho giảm phát thải và chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh.

Trên thực tế, Việt Nam đã triển khai phân bổ hạn ngạch phát thải cho 110 cơ sở thuộc ba ngành nhiệt điện, xi măng và sắt thép, đồng thời khai trương sàn giao dịch carbon trong nước vào ngày 29/6/2026. Mặc dù vậy, thị trường vẫn đang trong giai đoạn đầu vận hành và đối mặt với một số thách thức nổi bật:

Thứ nhất, khung thể chế và pháp lý vẫn chưa hoàn thiện. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã đặt nền móng cho thị trường carbon, nhưng hệ thống quy định chi tiết liên quan đến quyền sở hữu tín chỉ carbon, cơ chế định giá, tiêu chuẩn kỹ thuật đo lường phát thải, cơ chế giám sát, phương thức giao dịch vẫn đang trong quá trình xây dựng. Điều này làm giảm tính chắc chắn của thị trường và có thể ảnh hưởng đến niềm tin của doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư.

Thứ hai, quy trình thẩm định giao dịch còn tương đối phức tạp, cơ quan chủ quản phải gửi hồ sơ gồm báo cáo thực hiện, tài liệu thiết kế và lượng đề xuất chuyển giao để Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức liên quan, thời gian thẩm định hồ sơ có thể kéo dài. Việt Nam thẩm định dự án thủ công, tập trung vào việc đăng ký dự án trên Hệ thống đăng ký quốc gia để quản lý mục tiêu giảm phát thải nội địa, chưa có cơ chế liên kết trực tiếp giữa sàn giao dịch nội địa với các định chế tài chính thế giới. Điều này khiến tốc độ lưu thông tín chỉ bị chậm lại đáng kể, gây ra độ trễ nhất định cho các dự án giảm phát thải. Đối với các ngân hàng hoặc định chế tài chính, carbon là một tài sản có giá trị biến động theo giây. Việc phải chờ đợi phê duyệt hành chính lên tới hằng tháng khiến các ngân hàng khó có thể thực hiện các giao dịch chốt lời hoặc cắt lỗ kịp thời, dẫn đến rủi ro thanh khoản rất cao cho danh mục tài sản carbon (Tạ Nguyễn Anh Thư, 2026).

Thứ ba, hạn chế về năng lực kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống MRV (đo lường - báo cáo - thẩm định phát thải). Đây là một rào cản lớn, bởi MRV là một thành phần cốt lõi của thị trường carbon; tính chính xác và minh bạch của dữ liệu phát thải quyết định trực tiếp đến độ tin cậy của tín chỉ carbon. Hiện nay, các phương pháp MRV tại Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, thiếu sự thống nhất giữa các ngành và địa phương (Phạm Thị Vân Huyền, 2026). Việc thiếu các tiêu chuẩn thống nhất và năng lực kiểm định độc lập khiến việc xác định chính xác lượng phát thải và tín chỉ carbon trở nên khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến tính minh bạch và độ tin cậy của thị trường.

Thứ tư, doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc chuyển kết quả giảm phát thải thành giá trị kinh tế. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), nhiều doanh nghiệp đã thực hiện các hoạt động tiết kiệm năng lượng hoặc cải tiến sản xuất nhưng chưa biết cách phát triển những kết quả này thành dự án tín chỉ carbon có thể giao dịch. Khâu chuyển đổi đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định phương pháp tính toán, chứng minh lượng giảm phát thải, đáp ứng yêu cầu thẩm định và hoàn thiện hồ sơ theo tiêu chuẩn tương ứng.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Để phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, các giải pháp cần tập trung vào những điểm nghẽn trong thực thi, từ quản lý phát thải, phân bổ hạn ngạch đến phát triển nguồn cung và thúc đẩy giao dịch thực chất.

Một là, nâng cao chất lượng dữ liệu kiểm kê khí nhà kính và hệ thống MRV. Cần thống nhất phương pháp tính toán, quy trình báo cáo và thẩm định phát thải giữa các ngành; đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn của các cơ sở phát thải và đơn vị thẩm định. Việc số hóa dữ liệu cần gắn với yêu cầu kiểm chứng, truy xuất và phân định rõ trách nhiệm cung cấp thông tin, qua đó tạo cơ sở đáng tin cậy cho quản lý hạn ngạch và xác nhận kết quả giảm phát thải.

Hai là, hoàn thiện cơ chế phân bổ hạn ngạch phù hợp với đặc điểm sản xuất. Việc phân bổ cần dựa trên dữ liệu phát thải được kiểm chứng, đồng thời xem xét sự khác biệt về công nghệ và cường độ phát thải giữa các cơ sở. Đánh giá định kỳ chênh lệch giữa hạn ngạch được cấp và lượng phát thải thực tế sẽ giúp xác định mức độ phù hợp của cơ chế hiện hành, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu giảm phát thải và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp.

Ba là, nâng cao khả năng tạo lập tín chỉ carbon đủ điều kiện giao dịch. Cần làm rõ quy trình phát triển dự án, xác minh kết quả giảm phát thải, đăng ký và chuyển giao tín chỉ. Đối với các lĩnh vực có tiềm năng như lâm nghiệp, nông nghiệp và năng lượng, việc phát triển tín chỉ phải dựa trên kết quả giảm phát thải có thể chứng minh và đáp ứng các yêu cầu về tính toàn vẹn. Điều này giúp thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng giảm phát thải và khả năng thương mại hóa tín chỉ.

Bốn là, cải thiện điều kiện giao dịch và năng lực tham gia của doanh nghiệp. Cần tăng tính minh bạch của thông tin về hàng hóa, giá và khối lượng giao dịch; đồng thời bảo đảm quy trình đăng ký, chuyển giao và thanh toán rõ ràng. Song song với đó, doanh nghiệp cần được nâng cao năng lực kiểm kê phát thải, thực hiện nghĩa vụ hạn ngạch và đánh giá khả năng phát triển dự án tín chỉ. Việc hỗ trợ cần phù hợp với quy mô và nguồn lực của từng nhóm doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy nhu cầu giao dịch và khả năng chuyển hóa kết quả giảm phát thải thành giá trị kinh tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: Từ chính sách đến hành động.

2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Quyết định số 699/QĐ-BNNMT ngày 27/02/2026 về việc thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho năm 2025 và năm 2026.

3. Chính phủ (2022). Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.

4. Chính phủ (2025). Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.

5. Chính phủ (2026). Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 về sàn giao dịch các-bon trong nước.

6. Phạm Thị Vân Huyền (2026) Phát triển thị trường carbon tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế - Tài chính, kỳ 3 tháng 6/2026.

7. Phạm Yến Nhi, Trần Quang Phủ (2026). Khung pháp lý cho thị trường carbon ở Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 02 (509).

8. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020.

9. Tạ Nguyễn Anh Thư (2026). Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn/hoan-thien-khung-phap-ly-ve-thi-truong-carbon-tai-viet-nam-goc-nhin-tu-dinh-che-tai-chinh-va-quan-tri-rui-ro-ngan-hang-17065.html.

10. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.

11. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025-2026.

Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/10/2026; Ngày duyệt đăng: 23/10/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học

Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học

Chuyển đổi số giáo dục đại học mở ra cơ hội chia sẻ tri thức giữa các giảng viên, đồng thời giúp cho nội dung có thể được lưu trữ lâu dài, sao chép và tiếp cận rộng hơn. Những đặc điểm này vừa tạo thuận lợi cho trao đổi tri thức, vừa đặt ra các vấn đề về sự sẵn sàng và mức độ kiểm soát của giảng viên khi chia sẻ.
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự gia tăng của gian lận công nghệ cao cùng những biến động của môi trường kinh tế đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức nhận diện, đo lường và kiểm soát rủi ro tín dụng.
Sự thích ứng của người tiêu dùng thương mại điện tử trong bối cảnh toàn cầu hóa: Nghiên cứu tại Thái Nguyên

Sự thích ứng của người tiêu dùng thương mại điện tử trong bối cảnh toàn cầu hóa: Nghiên cứu tại Thái Nguyên

Thương mại điện tử đang và sẽ là xu thế của nền kinh tế số với nhiều ưu việt, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển
Các yếu tố tác động đến ý định tẩy chay thương hiệu thời trang nhanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố tác động đến ý định tẩy chay thương hiệu thời trang nhanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo hướng tiêu cực và ý định tẩy chay, đồng thời kiểm định vai trò trung gian và sức giải thích tương đối của cảm giác tội lỗi dự kiến và sự phẫn nộ đạo đức đối với Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh.
​​​​​​​Tác động ngưỡng quy mô đến mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam

​​​​​​​Tác động ngưỡng quy mô đến mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam

Sử dụng đòn bẩy hợp lý giúp khuếch đại lợi ích cổ đông, nhưng khi phụ thuộc nợ quá lớn, ngân hàng đối mặt áp lực chi phí vốn, rủi ro thanh khoản và tín dụng.
Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực định vị là một trong những trung tâm du lịch năng động hàng đầu khu vực Đông Nam Á, yêu cầu phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ toàn diện, đặc biệt là logistics du lịch ngày càng trở nên cấp thiết.
Đổi mới sáng tạo vùng: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển

Đổi mới sáng tạo vùng: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển

Hoạt động đổi mới sáng tạo không phân bố đồng đều mà thường tập trung tại những không gian có mật độ cao về doanh nghiệp, nguồn nhân lực chất lượng cao, trường đại học và viện nghiên cứu. Từ thực tiễn đó, cách tiếp cận hệ thống đổi mới sáng tạo vùng được hình thành, bổ sung cho cách tiếp cận hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.
Giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn tại Nông trại Tam Nông TP. Hồ Chí Minh

Giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn tại Nông trại Tam Nông TP. Hồ Chí Minh

Bằng hình thức kết hợp trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản với tham quan, ăn uống và lưu trú, Nông trại Tam Nông là một trường hợp điển hình đại diện cho mô hình nông trại đô thị tích hợp đa dịch vụ tại khu vực ven đô TP. Hồ Chí Minh.
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng AI của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng AI của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong môi trường làm việc hiện đại, giúp mở rộng khả năng hỗ trợ soạn thảo văn bản, tổng hợp thông tin và phân tích dữ liệu trong công việc văn phòng.
Ảnh hưởng của video ngắn trên các nền tảng mạng xã hội đến ý định mua hàng của người tiêu dùng

Ảnh hưởng của video ngắn trên các nền tảng mạng xã hội đến ý định mua hàng của người tiêu dùng

Các nền tảng như TikTok, Instagram Reels và Facebook Reels không còn chỉ được sử dụng cho mục đích giải trí mà ngày càng trở thành nguồn thông tin phổ biến, nơi người tiêu dùng tìm hiểu về sản phẩm, khám phá thương hiệu và hình thành ý định mua hàng.