Thực trạng chuyển đổi sinh kế tại xã Đại Lãnh, tỉnh Khánh Hòa

Nghiên cứu - Trao đổi 09:06 | 24/10/2026
Chuyển đổi sinh kế tại vùng biển góp phần đa dạng hóa nguồn thu nhập, thích ứng với biến đổi môi trường và hướng tới phát triển bền vững cộng đồng ven biển.

Nguyễn Thị Thu

Viện Dân tộc học và Tôn giáo học

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực trạng và xu hướng chuyển đổi sinh kế của cộng đồng ngư dân tại các thôn, đảo và bán đảo thuộc xã Đại Lãnh, tỉnh Khánh Hòa. Nghiên cứu cho thấy, trước thực trạng suy giảm nguồn lợi ven bờ và rủi ro thiên tai, cơ cấu sinh kế đang phân hóa mạnh mẽ: nhóm đánh bắt truyền thống thu hẹp, nhường chỗ cho nghề nuôi biển, dịch vụ du lịch sinh thái, các mô hình kinh tế hỗn hợp (trồng tỏi kết hợp làm biển) và bước đầu tiếp cận việc làm công nghiệp - logistics. Đáng chú ý, các đại dự án hạ tầng và đô thị tạo sức ép chuyển đổi sinh kế cho các hộ gia đình nằm trong khu vực quy hoạch. Tiến trình chuyển dịch sinh kế của các hộ trong khu vực nghiên cứu đối mặt với nhiều rủi ro do phụ thuộc vào xuất khẩu tiểu ngạch, ô nhiễm môi trường, khó tiếp cận tín dụng chính thức và khoảng cách kỹ năng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị nhằm chuyển đổi sinh kế bền vững cho người dân bản địa tại xã Đại Lãnh.

Từ khóa: Chuyển đổi sinh kế, sinh kế bền vững, xã Đại Lãnh, du lịch sinh thái, Khánh Hòa

Abstract

This study analyzes the current situation and trends in livelihood transitions among fishing communities in island and peninsula villages of Dai Lanh Commune, Khanh Hoa Province. The findings show that, in response to declining coastal fishery resources and natural disaster risks, livelihood structures are undergoing significant differentiation. Traditional fishing activities are contracting, giving way to marine aquaculture, ecotourism services, mixed livelihood models combining garlic cultivation with fishing, and emerging opportunities in industrial and logistics employment. Notably, major infrastructure and urban development projects are creating pressure on households to transition their livelihoods within planned development areas. Livelihood transitions among households in the study area face multiple risks associated with dependence on informal cross-border exports, environmental pollution, limited access to formal credit, and skills gaps. On this basis, the study proposes recommendations to promote sustainable livelihood transitions for residents of Dai Lanh Commune.

Keywords: Livelihood transition, sustainable livelihoods, Dai Lanh Commune, ecotourism, Khanh Hoa Province

GIỚI THIỆU

Ngày 1/7/2025, thực hiện Nghị quyết số 1667/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã tỉnh Khánh Hòa (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025), 3 xã: Vạn Thạnh, Vạn Thọ và Đại Lãnh (cũ) của huyện Vạn Ninh được hợp nhất thành xã Đại Lãnh mới. Xã Đại Lãnh mới có tổng diện tích tự nhiên khoảng 171km², dân số của xã có 6.651 hộ với 25.273 khẩu.

Nghiên cứu dựa trên kết quả nghiên cứu về sinh kế do tác giả làm chủ nhiệm được thực hiện vào năm 2025 tại 4 thôn đảo và 1 thôn bán đảo trên địa bàn xã Vạn Thạnh cũ, nay thuộc xã Đại Lãnh mới. Khu vực nghiên cứu nằm trọn trong Vịnh Vân Phong và vẫn giữ đặc trưng sinh kế biển rõ nét nhất trong xã Đại Lãnh mới. Địa bàn nghiên cứu có khoảng 80% hộ dân sống bám biển, từng thuộc diện thôn đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo. Sinh kế truyền thống của người dân dựa chủ yếu vào đánh bắt ven bờ và nuôi lồng bè tôm hùm, ốc hương, cá biển.

Nghiên cứu về cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam đã có bề dày lịch sử và khá phong phú ở nhiều lĩnh vực nhưng các công trình nghiên cứu vi mô, tiếp cận đa chiều về quá trình chuyển đổi sinh kế cụ thể của một cộng đồng dân cư bán đảo, hải đảo đặc thù như địa bàn xã Đại Lãnh hiện nay vẫn còn là một khoảng trống. Nghiên cứu này góp phần cung cấp một cái nhìn toàn diện, cụ thể về thực trạng cũng như động thái chuyển đổi sinh kế của cộng đồng cư dân tại khu vực nghiên cứu.

ĐẶC ĐIỂM CÁC NGUỒN VỐN SINH KẾ CỦA CƯ DÂN TẠI XÃ ĐẠI LÃNH

Vốn tự nhiên

Địa hình của địa bàn nghiên cứu là sự kết hợp giữa núi thấp ven biển, dải đồng bằng hẹp, bãi cát và một hệ thống vịnh, vũng kín gió, như: Vũng Trâu Nằm, Vũng Nại, Vũng Ké. Toàn bộ khu vực nằm trọn trong vịnh Vân Phong, một trong những vịnh biển kín gió, ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng lớn nhờ hệ thống đồi núi ven biển và các đảo che chắn tạo thành “bức tường xanh” tự nhiên. Đây là lợi thế tự nhiên vượt trội để phát triển nuôi biển lồng bè công nghiệp quy mô lớn và xây dựng hệ thống cảng nước sâu quốc tế.

Tuy nhiên, tài nguyên đất đai lại là một yếu tố cản trở sản xuất nông nghiệp. Đất cát ven biển tơi xốp, nghèo dinh dưỡng, không phù hợp cho canh tác, nhưng lại là nền tảng cho các dự án nghỉ dưỡng và trồng cây chắn gió.

Vốn con người

Tại địa bàn nghiên cứu, lao động trong độ tuổi có việc làm thường xuyên phần lớn tập trung vào ngư nghiệp. Nhiều thế hệ ngư dân nơi đây đã tích lũy kiến thức bản địa về con nước, luồng cá và thời tiết vùng vịnh, một dạng vốn xã hội gắn liền với vốn con người, giúp họ thích ứng với biến động tự nhiên của môi trường biển. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực đang là rào cản lớn đối với quá trình chuyển đổi sinh kế. Trình độ học vấn phổ biến vẫn dừng ở bậc tiểu học và trung học cơ sở, tạo khoảng cách với yêu cầu kỹ thuật của các ngành đang được quy hoạch như nuôi biển công nghệ cao, logistics cảng biển hay du lịch cao cấp. Đáng chú ý, tình trạng lao động chưa đủ tuổi tham gia mưu sinh vẫn còn tồn tại ở một số thôn như: Đầm Môn và Khải Lương (Nguyễn Thị Thu, 2025).

Vốn tài chính và vật chất

Những năm gần đây, hạ tầng giao thông kết nối ngoại vùng đã được phát triển thông qua tuyến Quốc lộ 1 đi Đầm Môn. Tuy nhiên, hạ tầng dịch vụ phục vụ sản xuất nghề cá và du lịch còn thiếu đồng bộ. Tuyến đường bộ từ trung tâm cũ đến thôn Khải Lương vẫn còn 9 km chưa được thi công, khiến việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân khẩu nơi đây phụ thuộc hoàn toàn vào đường biển. Toàn địa bàn chưa có cảng cá hiện đại đạt chuẩn, thiếu trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá tập trung, thiếu kho lạnh bảo quản công nghiệp, và hệ thống xử lý rác thải sinh hoạt ở vùng đảo còn thô sơ.

Chi phí đầu tư nuôi lồng bè biển khá cao, từ làm bè nuôi tôm hùm đến mua con giống, thức ăn, có thể tiêu tốn từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng. Đa số hộ dân không thể tiếp cận các gói tín dụng ngân hàng chính thức do thủ tục phức tạp, thiếu thông tin và tài sản dùng để thế chấp thường có giá trị thấp hơn nhu cầu đầu tư sản xuất. Khoảng trống này được lấp bằng một hệ thống tín dụng phi chính thức do các chủ nậu vận hành. Một chủ nậu nữ tại cảng Đầm Môn cho biết, tổng số tiền bà ứng trước cho các thuyền ghe và cơ sở nuôi trồng đã lên tới khoảng 40 tỷ đồng (Nguyễn Thị Thu, 2025).

Vốn xã hội

Theo quan sát của tác giả, vốn xã hội tại địa bàn nghiên cứu mang đậm đặc trưng của làng chài truyền thống Nam Trung Bộ, dựa trên mối quan hệ huyết thống, dòng họ và tình nghĩa xóm giềng tương trợ lẫn nhau. Mạng lưới hỗ trợ cộng đồng làng chài truyền thống đang biến đổi trước xu hướng thị trường hóa. Trong đánh bắt, nhóm “bạn thuyền” vẫn gắn kết qua quan hệ họ hàng, hàng xóm và hình thức ứng tiền công trước, gọi là “tiền khống”, thường dao động 5-6 triệu đồng. Mạng lưới phụ nữ đảm nhận vai trò quản lý tài chính và buôn bán nhỏ lẻ, giúp kinh tế hộ ổn định ngay cả khi thu nhập từ biển bấp bênh. Quan hệ giữa ngư dân và chủ nậu là ví dụ rõ nhất cho tính 2 mặt của vốn xã hội tại đây, giúp giảm rủi ro tài chính và đảm bảo đầu ra ổn định, nhưng đồng thời cũng khiến người sản xuất mất quyền đàm phán giá cả, phụ thuộc dài hạn vào một số ít đầu mối trung gian.

THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CÁC MÔ HÌNH SINH KẾ

Nhóm thuần ngư nghiệp

Nhóm hộ vẫn sống chủ yếu bằng đánh bắt ven bờ đang dần thu hẹp về quy mô. Toàn địa bàn nghiên cứu hiện có 134 phương tiện khai thác, công suất nhỏ nhất 8CV, lớn nhất 270CV, không có tàu nào đủ khả năng vươn khơi xa, phạm vi hoạt động của đội tàu chủ yếu ven bờ dưới 6 hải lý với lưới rê, lưới kéo, lưới vây. Do nguồn lợi cạn kiệt và giá dầu tăng cao, sản lượng khai thác sụt giảm liên tục, từ 1.870 tấn năm 2020 xuống 1.820 tấn năm 2023 và chỉ còn 1.660 tấn tính đến tháng 11/2024. Trước áp lực nguồn lợi cạn kiệt và chi phí nhiên liệu tăng, nhiều chủ tàu chuyển sang làm chủ lồng bè kiên cố hơn hoặc bán sức lao động cho các chủ tàu, chủ bè khác theo hình thức làm thuê, đi bạn, với mức thu nhập 300.000-400.000 đồng/người/ngày. Thôn Khải Lương từng là thôn giàu nhờ 100% hộ dân đi biển, nhưng sản lượng khai thác đã giảm nhiều trong vài năm qua, dù các gia đình vẫn sống được nhờ sinh kế từ biển (Nguyễn Thị Thu, 2024, 2025).

Trước thực trạng trên, nghề nuôi trồng thủy sản trên lồng bè tại đây dần phát triển mạnh. Từ đầu những năm 2000, nuôi biển đã trở thành ngành kinh tế trụ cột, chiếm trên 50% tổng sản lượng thủy sản trên địa bàn trong 3 năm gần đây. Đến tháng 5/2025, toàn địa bàn có tới 33.854 lồng nuôi với tổng thể tích 3.052.448 m³, thu hút 821 chủ đầu tư là người tại chỗ cũng như người từ nơi khác. Trong nuôi trồng thủy sản, vật nuôi là tôm hùm chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 93,5% tổng số lồng. Trong vài năm gần đây, người dân đã chuyển từ lồng bè gỗ truyền thống sang kỹ thuật “lồng đáy” khung sắt bọc lưới và lồng nhựa HDPE chịu sóng bão, cho phép hạ chìm lồng xuống sát đáy biển khi có bão để giảm thiểu tối đa thiệt hại (Nguyễn Thị Thu, 2025).

Nhóm chuyển dịch sang du lịch - dịch vụ

Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm chuyển dịch sang du lịch - dịch vụ hình thành từ việc tận dụng lợi thế cảnh quan của Vịnh Vân Phong và điểm cực Đông Mũi Đôi, nơi du khách đến ngắm bình minh sớm nhất trên đất liền hình chữ S, một bộ phận lao động trẻ và hộ gia đình đã chủ động chuyển đổi sang làm du lịch sinh thái cộng đồng. Hiện có 14 thuyền phục vụ du lịch thuộc 2 công ty và 7 hộ tư nhân, cùng các dịch vụ lưu trú, dẫn tour và nhà hàng hải sản mọc lên quanh Đầm Môn. Một người dẫn tour địa phương cho biết mỗi chuyến đưa khách được trả công ít nhất 2 triệu đồng, cao hơn hẳn thu nhập đi biển theo ngày. Các dự án quy mô lớn đã được quy hoạch, gồm khu du lịch cao cấp Đảo Điệp Sơn, khu nghỉ dưỡng và sân golf Hòn Lớn khoảng 1.630ha, khu đô thị Vĩnh Yên khoảng 330ha, hứa hẹn kéo thêm lao động rời biển trong những năm tới (Nguyễn Thị Thu, 2025).

Nhóm sinh kế hỗn hợp

Đây là nhóm hộ kết hợp nuôi trồng thủy sản với các nguồn thu khác để phân tán rủi ro do thiên tai và sự bấp bênh của thị trường. Kết quả khảo sát cho biết, tại thôn Ninh Tân, nơi 24 hộ trồng tỏi trên diện tích khoảng 20ha, đạt tổng doanh thu ước tính 7,6 tỷ đồng trong năm 2024, tương đương 300-500 triệu đồng/hộ/năm đối với hộ diện tích lớn. Phần lớn các hộ trồng tỏi đồng thời làm nghề biển nên có 2 nguồn thu chính, một chiến lược an ninh sinh kế khá phổ biến ở các cộng đồng ven biển có đất canh tác hạn chế. Hoạt động chăn nuôi bò, dê, gia cầm quy mô nhỏ cũng đóng vai trò tương tự trong việc tối đa hóa nguồn thu và dự phòng khi nguồn thu từ nghề biển gặp rủi ro.

Nhóm lao động phi nông nghiệp

Quá trình công nghiệp hóa của Khu Kinh tế Vân Phong đang mở ra một hướng sinh kế mới. Theo quan sát của tác giả, một số doanh nghiệp như Công ty TNHH Cảng Vân Phong, Công ty TNHH Ngọc Trai đã thu hút hơn 100 lao động địa phương. Trước năm 2017, hơn 100 lao động nữ ở Khải Lương từng làm việc tại công ty nuôi ngọc trai, nhưng khi công ty thay đổi điểm đón đưa, những lao động ở xa không thể đi về trong ngày đã phải nghỉ việc. Điều này cho thấy, sinh kế phi nông nghiệp tại đây vẫn dễ bị tổn thương trước những thay đổi vận hành nhỏ, chứ chưa hẳn là một chỗ dựa ổn định. Khu công nghiệp Dốc Đá Trắng, đã khởi công tháng 4/2025, và Khu công nghiệp Vạn Lương, đang lập quy hoạch, được kỳ vọng sẽ tạo thêm việc làm ổn định.

CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẨY VÀ RÀO CẢN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI

Nhân tố thúc đẩy

Kết quả khảo sát cho thấy, chuyển đổi sinh kế tại địa bàn nghiên cứu trước hết được thúc đẩy bởi hệ thống chính sách từ trung ương đến địa phương, từ Nghị quyết số 09-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2022) xác định Khu Kinh tế Vân Phong là 1 trong 3 vùng động lực của tỉnh, đến quy hoạch chi tiết theo Quyết định số 298/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Bên cạnh đó, chênh lệch thu nhập giữa nghề nuôi lồng bè công nghệ mới, dịch vụ du lịch và nghề đánh bắt truyền thống là động lực nội sinh mạnh nhất, tạo động lực tự thân cho quá trình chuyển dịch trong nội bộ ngành ngư nghiệp. Hạ tầng giao thông được cải thiện và tiềm năng du lịch của Mũi Đôi, Điệp Sơn cũng mở ra thêm lựa chọn sinh kế ngoài biển cho lao động trẻ. Nuôi tôm hùm đem lại lợi nhuận hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi vụ, là yếu tố quan trọng, đóng góp quyết định vào việc đưa thu nhập bình quân của địa bàn tăng lên. Ngoài ra, tiềm năng tài nguyên và sự phát triển của cơ sở hạ tầng cũng là động lực để người dân mạnh dạn chuyển đổi sinh kế truyền thống theo hướng mới, phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội hiện nay.

Bên cạnh đó, theo báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2026 của UBND xã Đại Lãnh, hàng loạt dự án đang được triển khai song song. Đáng chú ý nhất là dự án Khu đô thị mới cao cấp Đầm Môn (thu hồi 1.323,4 ha, đã phê duyệt phương án bồi thường 1.068,96 ha) và Khu đô thị mới cao cấp Tu Bông (thu hồi 456,3 ha, ảnh hưởng đến 744 trường hợp, đang kiểm kê và đánh giá tác động môi trường). Bên cạnh đó, dự án Trung tâm vũ trụ Viettel quy mô 3.585 ha (gồm 1.844 ha mặt nước) đang lập thủ tục xin chủ trương đầu tư, có nguy cơ tác động mạnh đến cơ cấu sử dụng đất và mặt biển; song song với các dự án hạ tầng thiết yếu như cấp nước và gói 24,5 tỷ đồng nâng cấp cơ sở vật chất trường học chuẩn bị khởi công trong tháng 10/2026. Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án trên đóng vai trò thúc đẩy quá trình chuyển đổi sinh kế của các hộ dân. Nguồn vồn tự nhiên tiếp tục suy giảm vĩnh viễn, làn sóng phát triển hạ tầng, logistics và dịch vụ du lịch cáp cấp sẽ tạo lực kéo kinh tế, mở ra các cơ hội việc làm phi nông nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn. Cùng với dòng vốn tài chính từ bồi thường và sự cải thiện của hạ tầng an sinh (cấp nước, giáo dục) là yếu tố đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc việc làm và định hình các chiến lược thích ứng sinh kế của người dân.

Rào cản

Ở chiều ngược lại, một loạt rào cản đang làm chậm quá trình chuyển đổi này. Đầu tiên là sự bấp bênh của thị trường. Theo khảo sát của tác giả, khi thị trường Trung Quốc siết chặt quy định kiểm dịch hoặc đóng cửa biên mậu, giá tôm hùm lập tức lao dốc, từ mức đỉnh 1,7 triệu đồng/kg giảm xuống 1,2 triệu đồng/kg và có thời điểm rớt xuống đáy 800.000 đồng/kg, trong vòng chưa đầy 1 năm. Quy hoạch nuôi trồng còn lỏng lẻo khiến mật độ lồng bè dày đặc, gây ô nhiễm cục bộ và kéo theo dịch bệnh, tiêu biểu là đợt tôm chết hàng loạt tại Khải Lương giữa năm 2024 ảnh hưởng đến hơn 50% hộ nuôi. Thiếu vốn và khó tiếp cận tín dụng chính thức buộc phần lớn hộ dân phải phụ thuộc vào chủ nậu hoặc tín dụng đen. Sau cùng, khoảng cách giữa trình độ lao động hiện có với yêu cầu kỹ thuật của các ngành mới đặt ra nguy cơ lao động địa phương chỉ đảm nhận những công việc giá trị thấp trong chính nền kinh tế đang hình thành trên quê hương mình.

Sau sắp xếp, công tác quản lý nghề cá cũng được siết chặt hơn, với 321 tàu cá từ 6m trở lên trong diện quản lý trên hệ thống dữ liệu tàu cá quốc gia và yêu cầu hoàn thiện hồ sơ đăng ký, giấy chứng nhận. Đây là bước đi cần thiết để đáp ứng các tiêu chuẩn chống khai thác IUU, nhưng cũng đặt thêm gánh nặng thủ tục lên nhóm ngư dân thuần túy vốn đã eo hẹp về nguồn lực và trình độ.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Chuyển đổi sinh kế tại địa bàn nghiên cứu là tất yếu, mang tính quy luật sinh thái - kinh tế. Nguồn lợi hải sản ven bờ suy giảm, quy hoạch Khu Kinh tế Vân Phong đang định hình lại không gian phát triển của khu vực. Với quy hoạch phát triển các dự án hiện nay, một bộ phận hộ dân tại Đại Lãnh sẽ đối mặt với áp lực chuyển đổi đất đai và không gian sinh tồn. Làn sóng dự án đô thị và hạ tầng quy mô lớn như Khu đô thị mới Đầm Môn, Khu đô thị mới Tu Bông hay Trung tâm vũ trụ Viettel đang được xúc tiến trực tiếp trên địa bàn cư trú truyền thống của cộng đồng ngư dân, đặt ra thách thức kép trong bối cảnh bộ máy chính quyền địa phương vẫn đang trong giai đoạn kiện toàn sau sắp xếp. Do đó, trong thời gian tới, để chuyển đổi sinh kế tại xã Đại Lãnh, cần lưu ý các nhóm giải pháp sau:

Nhóm giải pháp nâng cao nguồn vốn con người và xã hội

Việc đào tạo nghề cần gắn trực tiếp với nhu cầu của các ngành đang hình thành tại địa phương, gồm nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, logistics cảng biển và du lịch, thay vì đào tạo chung chung, đồng thời ưu tiên lao động trẻ. Cần khuyến khích các hộ nuôi trồng thủy sản và trồng tỏi liên kết thành hợp tác xã hoặc tổ hợp tác có tư cách pháp nhân. Từ đây xây dựng chuỗi giá trị có truy xuất nguồn gốc, hướng phát triển này cũng đã được chính quyền định hướng, và quan trọng hơn cả là dần giảm bớt sự lệ thuộc của ngư dân vào các chủ nậu trong khâu tiêu thụ.

Nhóm giải pháp tài chính và hạ tầng

Thủ tục vay vốn cần được đơn giản hóa, với các hình thức thế chấp linh hoạt hơn như tín chấp hoặc thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc liên kết nhóm hộ. Ngoài ra, việc đầu tư cảng cá hiện đại, hệ thống kho lạnh và khu chế biến tập trung sẽ giải quyết trực tiếp được khó khăn trong khâu chế biến và bảo quản hàng hóa. Riêng với thôn Khải Lương, nơi 9km đường bộ nối với trung tâm xã vẫn chưa được thi công, việc hoàn thiện tuyến đường này có ý nghĩa quyết định để giảm sự phụ thuộc gần như tuyệt đối vào đường biển hiện nay.

Nhóm giải pháp quản trị và quy hoạch

Chính quyền cần rà soát, cắm mốc ranh giới và cấp phép giao mặt nước biển rõ ràng theo phân khu chức năng: vùng nuôi trồng thủy sản tập trung (quy định chặt chẽ mật độ lồng bè, khoảng cách lưu thông dòng chảy) và phân khu bảo tồn cảnh quan rạn san hô phục vụ phát triển du lịch sinh thái. Xử lý kiên quyết các trường hợp tự phát mở rộng diện tích lồng bè ngoài quy hoạch. Công tác thanh tra, kiểm soát các hình thức khai thác hủy diệt như giã cào cần được duy trì thường xuyên hơn, bởi thực tế cho thấy hoạt động này tuy đã bị kiểm soát nhưng một số hộ vẫn lén áp dụng.

Xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP và chuỗi liên kết giá trị cho các sản phẩm tiêu biểu của địa phương, tiến hành quy trình truy xuất nguồn gốc mã QR, đưa sản phẩm vào chuỗi cung ứng của các siêu thị và hệ thống nhà hàng du lịch cao cấp.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28/1/2022 về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Nguyễn Thị Thu (2024). Phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững: Những vấn đề đặt ra và giải pháp khắc phục. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 22(11/2024), 20-23.

3. Nguyễn Thị Thu (Chủ nhiệm) (2025). Báo cáo tổng kết nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở: Thực trạng sinh kế của cư dân xã đảo Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

4. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 298/QĐ-TTg ngày 27/3/2023 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.

5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1667/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Khánh Hòa năm 2025.

6. UBND xã Đại Lãnh (2026). Báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng và nhiệm vụ Quý IV năm 2026.

Ngày nhận bài: 27/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 23/9/2026; Ngày duyệt đăng: 16/10/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học

Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học

Chuyển đổi số giáo dục đại học mở ra cơ hội chia sẻ tri thức giữa các giảng viên, đồng thời giúp cho nội dung có thể được lưu trữ lâu dài, sao chép và tiếp cận rộng hơn. Những đặc điểm này vừa tạo thuận lợi cho trao đổi tri thức, vừa đặt ra các vấn đề về sự sẵn sàng và mức độ kiểm soát của giảng viên khi chia sẻ.
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự gia tăng của gian lận công nghệ cao cùng những biến động của môi trường kinh tế đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức nhận diện, đo lường và kiểm soát rủi ro tín dụng.
Sự thích ứng của người tiêu dùng thương mại điện tử trong bối cảnh toàn cầu hóa: Nghiên cứu tại Thái Nguyên

Sự thích ứng của người tiêu dùng thương mại điện tử trong bối cảnh toàn cầu hóa: Nghiên cứu tại Thái Nguyên

Thương mại điện tử đang và sẽ là xu thế của nền kinh tế số với nhiều ưu việt, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển
Các yếu tố tác động đến ý định tẩy chay thương hiệu thời trang nhanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố tác động đến ý định tẩy chay thương hiệu thời trang nhanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo hướng tiêu cực và ý định tẩy chay, đồng thời kiểm định vai trò trung gian và sức giải thích tương đối của cảm giác tội lỗi dự kiến và sự phẫn nộ đạo đức đối với Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh.
​​​​​​​Tác động ngưỡng quy mô đến mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam

​​​​​​​Tác động ngưỡng quy mô đến mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam

Sử dụng đòn bẩy hợp lý giúp khuếch đại lợi ích cổ đông, nhưng khi phụ thuộc nợ quá lớn, ngân hàng đối mặt áp lực chi phí vốn, rủi ro thanh khoản và tín dụng.
Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực định vị là một trong những trung tâm du lịch năng động hàng đầu khu vực Đông Nam Á, yêu cầu phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ toàn diện, đặc biệt là logistics du lịch ngày càng trở nên cấp thiết.
Đổi mới sáng tạo vùng: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển

Đổi mới sáng tạo vùng: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển

Hoạt động đổi mới sáng tạo không phân bố đồng đều mà thường tập trung tại những không gian có mật độ cao về doanh nghiệp, nguồn nhân lực chất lượng cao, trường đại học và viện nghiên cứu. Từ thực tiễn đó, cách tiếp cận hệ thống đổi mới sáng tạo vùng được hình thành, bổ sung cho cách tiếp cận hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.
Giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn tại Nông trại Tam Nông TP. Hồ Chí Minh

Giải pháp phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn tại Nông trại Tam Nông TP. Hồ Chí Minh

Bằng hình thức kết hợp trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản với tham quan, ăn uống và lưu trú, Nông trại Tam Nông là một trường hợp điển hình đại diện cho mô hình nông trại đô thị tích hợp đa dịch vụ tại khu vực ven đô TP. Hồ Chí Minh.
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng AI của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng AI của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong môi trường làm việc hiện đại, giúp mở rộng khả năng hỗ trợ soạn thảo văn bản, tổng hợp thông tin và phân tích dữ liệu trong công việc văn phòng.
Ảnh hưởng của video ngắn trên các nền tảng mạng xã hội đến ý định mua hàng của người tiêu dùng

Ảnh hưởng của video ngắn trên các nền tảng mạng xã hội đến ý định mua hàng của người tiêu dùng

Các nền tảng như TikTok, Instagram Reels và Facebook Reels không còn chỉ được sử dụng cho mục đích giải trí mà ngày càng trở thành nguồn thông tin phổ biến, nơi người tiêu dùng tìm hiểu về sản phẩm, khám phá thương hiệu và hình thành ý định mua hàng.