Thúc đẩy liên kết “4 nhà” trong phát triển hợp tác xã nuôi trồng thủy sản tại TP. Hải Phòng
Đỗ Khắc Quý
Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng
Email: linhchinhtri.sqct0241@gmail.com
Tóm tắt
Bài viết phân tích thực trạng liên kết giữa Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp trong phát triển hợp tác xã nuôi trồng thuỷ sản tại TP. Hải Phòng. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế điều phối, nâng cao năng lực nội tại của hợp tác xã và thúc đẩy liên kết “4 nhà” theo hướng ổn định và bền vững trong thời gian tới.
Từ khóa: Hợp tác xã, liên kết “4 nhà”, nuôi trồng thủy sản, TP. Hải Phòng
Summary
The paper analyzes the current state of collaboration among the government, farmers, scientists, and enterprises in the development of aquaculture cooperatives in Hai Phong City. Based on this analysis, the author proposes several solutions to improve coordination mechanisms, enhance the internal capacity of cooperatives, and promote the “four-party” linkage in a stable and sustainable manner in the near future.
Keywords: Cooperatives, “four-party” linkage, aquaculture, Hai Phong City
ĐẶT VẤN ĐỀ
Liên kết “4 nhà” là xu hướng phát triển tất yếu, giữ vai trò then chốt trong xây dựng mô hình hợp tác xã nuôi trồng thuỷ sản (HTXNTTS) theo hướng bền vững và hiện đại. Thông qua cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp (DN) và người sản xuất, các HTX nâng cao năng lực quản trị, mở rộng chuỗi giá trị và gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của các HTXNTTS tại TP. Hải Phòng cho thấy mối liên kết giữa các chủ thể này vẫn còn lỏng lẻo, thiếu ổn định. Nhiều HTX chưa khai thác hiệu quả các nguồn lực từ chính sách công, khoa học -công nghệ và thị trường, dẫn đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh chưa tương xứng với tiềm năng của ngành thủy sản địa phương.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thực trạng liên kết “4 nhà”, nhận diện những hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển của HTXNTTS tại TP. Hải Phòng.
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ THÚC ĐẨY LIÊN KẾT “4 NHÀ” TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Liên kết “4 nhà” được Đảng và Nhà nước xác định là định hướng phát triển tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại, giữ vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể (KTTT) và xây dựng các chuỗi giá trị bền vững.Trên cơ sở đó, nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành nhằm thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và DN trong toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, là văn bản pháp lý nòng cốt, tạo nền tảng cho việc hình thành và mở rộng các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị, góp phần chuyển đổi phương thức sản xuất từ nhỏ lẻ sang tổ chức sản xuất quy mô lớn. Nghị định quy định rõ mô hình liên kết, yêu cầu minh bạch hóa hợp đồng và thiết lập hệ thống chính sách đồng bộ về tư vấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và hạ tầng phục vụ liên kết.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò của liên kết “4 nhà” là một nội dung trọng tâm trong phát triển bền vững kinh tế nông nghiệp, gắn sản xuất với bảo quản, chế biến, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu nông sản. Quán triệt tinh thần đó, ngày 16/6/2022 Ban chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT trong giai đoạn mới. Cả 2 nghị quyết xác định thúc đẩy liên kết giữa viện, trường, DN, HTX và nông dân là giải pháp then chốt nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất và phát triển KTTT.
Đối với lĩnh vực thuỷ sản, Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đã nhấn mạnh việc tổ chức liên kết hiệu quả giữa DN và hộ sản xuất thông qua phát triển kinh tế hợp tác, tạo cơ sở cho chuyển dịch mô hình sản xuất theo hướng quy mô lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đặc biệt, Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đánh dấu bước phát triển mới khi nâng cấp, mở rộng mô hình liên kết, thúc đẩy tổ chức lại sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và tăng cường hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp và KTTT trong giai đoạn mới.
THỰC TRẠNG LIÊN KẾT “4 NHÀ” TRONG PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI TP. HẢI PHÒNG
Tính đến năm 2025, TP. Hải Phòng có khoảng 40 HTX hoạt động trong lĩnh vực NTTS. Những năm gần đây, liên kết giữa các HTXNTTS với Nhà nước, nhà khoa học và các DN từng bước được hình thành và mở rộng, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất và thúc đẩy phát triển KTTT trong ngành thủy sản.
Trong liên kết “4 nhà”, các HTXNTTS và đội ngũ xã viên giữ vai trò trung tâm, trực tiếp tổ chức sản xuất và triển khai các cam kết liên kết. Nhiều HTXNTTS đã chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện từng vùng nuôi, tổ chức nuôi sản xuất theo quy mô tập trung, thống nhất quy trình kỹ thuật và từng bước tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn sinh học và yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Nhận thức và ý thức tham gia liên kết của xã viên được nâng lên, tạo nền tảng cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và tham gia sâu vào chuỗi liên kết và chuỗi giá trị thủy sản của TP. Hải Phòng.
Vai trò điều phối, dẫn dắt của Nhà nước thể hiện thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển KTTT và ngành thuỷ sản. Trong giai đoạn 2021-2025, TP. Hải Phòng đã triển khai nhiều chính sách quan trọng như: Nghị quyết số 15/2021/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 của HĐND Thành phố về cơ chế, chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản hàng hóa tập trung giai đoạn 2022-2025; Kế hoạch số 143/KH-UBND ngày 16/6/2021 của UBND Thành phố về phát triển HTX nông nghiệp giai đoạn 2021-2025…Bên cạnh đó, Thành phố đã trực tiếp hỗ trợ tín dụng cho các HTX nói chung, HTXNTTS nói riêng để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cấp hạ tầng, công nghệ sản xuất thông qua gói ngân sách 20 tỷ đồng từ Quỹ hỗ trợ phát triển HTX của Liên minh HTX Thành phố (Thanh Vân, 2024).
Sự tham gia của DN góp phần quan trọng trong việc ổn định đầu vào và đầu ra cho các HTX. Thông qua các hình thức liên kết hợp đồng, DN đã hỗ trợ HTX trên địa bàn Thành phố bảo đảm nguồn cung ổn định về con giống, thức ăn, vật tư đầu vào cũng như hỗ trợ việc chuyển giao kỹ thuật, quy trình nuôi tiên tiến. Nhờ có sự tham gia của DN, các HTXNTTS có đầu ra tương đối ổn định, giảm thiểu chi phí sản xuất, đồng thời hạn chế sự phụ thuộc vào thương lái và tác động bất lợi của biến động giá cả thị trường, từ đó đạt doanh thu, lợi nhuận tốt hơn.
Theo báo cáo của Liên minh HTX Hải Phòng, đến tháng 9/2025, Thành phố đã hình thành khoảng 22 chuỗi giá trị nông, thủy sản, trong đó nhiều chuỗi hướng đến xây dựng thương hiệu, tiêu thụ trong các hệ thống phân phối lớn và mở rộng thị trường nội địa (Quỳnh Thanh, 2025). Tiêu biểu là HTX Sản xuất và Thương mại Thủy sản Xuyên Việt, HTXNTTS Mắt Rồng, HTXNTTS công nghệ cao Tứ Kỳ…
Bên cạnh đó, sự tham gia của nhà khoa học, đặc biệt là các viện nghiên cứu, trường đại học và Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng trong những năm qua đã giúp các HTXNTTS trên địa bàn Thành phố tiếp cận và áp dụng rộng rãi, hiệu quả các quy trình, kỹ thuật nuôi tiên tiến, trong đó có các tiêu chuẩn, quy trình sản xuất theo VietGAP, VietGlobal; nâng cao năng lực vận hành thiết bị hiện đại, quản lý môi trường và phòng, trị dịch bệnh theo hướng an toàn sinh học, bền vững. Báo cáo của Liên minh HTX Hải Phòng cho thấy, trong 9 tháng năm 2025, cán bộ HTX được tham gia 10 lớp tập huấn các nội dung về quản lý - điều hành, ứng dụng chuyển đổi số và quảng bá sản phẩm trên sàn thương mại điện tử (Thanh Vân, 2025). Ngoài ra, Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng đã tổ chức một số lớp về kỹ thuật nuôi trồng các loại thuỷ sản như: kỹ thuật nuôi thâm canh lươn đồng trong bể không bùn ứng dụng Ozone xử lý nước; kỹ thuật nuôi rươi thương phẩm kết hợp cấy lúa gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm; kỹ thuật nuôi thâm canh ếch trên lồng trong ao nuôi cá rô phi theo VietGAP…
Mặc dù đạt được những chuyển biến tích cực, song liên kết “4 nhà” trong phát triển HTXNTTS tại TP. Hải Phòng thời gian qua vẫn bộc lộ một số hạn chế như: hợp tác giữa HTX và DN thiếu ổn định, chủ yếu mang tính thời vụ, thiếu ràng buộc pháp lý và cơ chế chia sẻ rủi ro; việc ứng dụng khoa học công nghệ chưa đồng đều giữa các HTX; năng lực quản trị, tổ chức sản xuất và khả năng tham gia chuỗi giá trị của nhiều HTX còn hạn chế.
Những hạn chế trong liên kết “4 nhà” của các HTXNTTS tại Hải Phòng chủ yếu xuất phát từ việc chưa hình thành được cơ chế điều phối liên kết thống nhất, đủ mạnh và có tính xuyên suốt giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị thủy sản.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Xuất phát từ những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong liên kết “4 nhà” thời gian qua, để thúc đẩy phát triển HTXNTTS theo hướng bền vững, hiện đại và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, Thành phố Hải Phòng cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, hình thành cơ chế điều phối liên kết “4 nhà” thống nhất ở cấp Thành phố. Theo đó, cần nghiên cứu thành lập đơn vị điều phối liên kết chuỗi giá trị thủy sản trực thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường hoặc Liên minh HTX Thành phố. Đơn vị này có vai trò kết nối, tư vấn và giám sát hoạt động liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, DN và HTX. Sự ra đời của cơ quan điều phối góp phần bảo đảm sự phối hợp thường xuyên, minh bạch và ổn định giữa các chủ thể, khắc phục tình trạng liên kết rời rạc, ngắn hạn.
Hai là, hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng tăng ràng buộc và thúc đẩy liên kết bền vững. Cụ thể, Thành phố cần xây dựng cơ chế bảo lãnh của Nhà nước đối với các hợp đồng liên kết giữa HTXNTTS và DN, đặc biệt là về tín dụng, tiêu thụ sản phẩm và đầu tư công nghệ; ban hành mẫu hợp đồng chuẩn có tính pháp lý cao; đồng thời tích hợp các chính sách khuyến khích liên kết vào chương trình mục tiêu địa phương, như: hỗ trợ lãi suất, chi phí chứng nhận chất lượng hoặc truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, quy định rõ vai trò, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan quản lý, Liên minh HTX, DN và nhà khoa học để bảo đảm cho cơ chế liên kết được vận hành đồng bộ, ổn định và hiệu quả.
Ba là, nâng cao năng lực nội tại của HTXNTTS. Thành phố cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng về quản trị HTX, kỹ năng lập kế hoạch sản xuất, thương thảo hợp đồng và quản trị rủi ro. Song song với đó, hỗ trợ HTX xây dựng vùng nuôi đạt chuẩn kỹ thuật, đầu tư hệ thống quan trắc môi trường, thiết bị tự động hóa và nhật ký điện tử phục vụ truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, hỗ trợ xây dựng thương hiệu tập thể, tiêu chuẩn chất lượng và bao bì sản phẩm giúp HTX tăng khả năng tiếp cận thị trường. Khi năng lực quản trị, kỹ thuật và công nghệ của HTX được cải thiện, HTX sẽ chủ động hơn trong hợp tác với DN, đáp ứng yêu cầu của thị trường và nâng cao vai trò trong chuỗi giá trị thủy sản.
Bốn là, thúc đẩy liên kết ổn định, dài hạn giữa HTXNTTS và DN. Thành phố cần khuyến khích DN đầu tư gắn bó lâu dài với HTX thông qua các chính sách ưu đãi về tín dụng, thuế và hạ tầng, đồng thời xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro trước biến động thị trường và dịch bệnh. Việc hình thành các DN đầu tàu trong chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu sẽ góp phần dẫn dắt, lan tỏa hiệu quả liên kết trong toàn chuỗi giá trị thủy sản.
Năm là, tăng cường vai trò của nhà khoa học trong đồng hành sản xuất cùng HTXNTTS. Thành phố cần triển khai cơ chế “đặt hàng khoa học” để các viện, trường nghiên cứu trực tiếp giải quyết các vấn đề mà HTXNTTS và các DN gặp phải, như: tiêu chuẩn sản phẩm, quy trình nuôi tiết kiệm chi phí, công nghệ xử lý nước tuần hoàn, phòng trị bệnh hoặc cải thiện giống chủ lực. Đồng thời, tăng cường sự tham gia thường xuyên của các viện, trường và hệ thống khuyến nông trong tư vấn kỹ thuật, đào tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ, góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của liên kết “4 nhà”.
KẾT LUẬN
Liên kết “4 nhà” giữ vai trò then chốt trong phát triển HTXNTTS theo hướng bền vững, hiện đại và hội nhập. Thực tiễn tại TP. Hải Phòng cho thấy mô hình này đã bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và cải thiện hiệu quả hoạt động của các HTXNTTS.
Tuy nhiên, liên kết vẫn còn thiếu ổn định và chiều sâu do chưa có cơ chế điều phối thống nhất, năng lực nội tại của nhiều HTX còn hạn chế, dẫn đến sự gắn kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị chưa chặt chẽ. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp hoàn thiện cơ chế điều phối, tăng cường ràng buộc chính sách, nâng cao năng lực HTX, thúc đẩy hợp tác bền vững với DN và phát huy vai trò đồng hành thực chất của nhà khoa học để củng cố liên kết 4 nhà theo hướng ổn định, lâu dài cho phát triển bền vững HTXNTTS tại Hải Phòng trong thời gian tới.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
3. Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 về nông nghiệp nông dân nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
5. HĐND TP. Hải Phòng (2025). Nghị quyết số 15/2021/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 về Cơ chế, chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản hàng hóa tập trung giai đoạn 2022-2025.
6. Quỳnh Thanh (2025). Hải Phòng: Liên kết sản xuất tiêu thụ, tạo sức bật cho ngành nông nghiệp. Tạp chí điện tử thiên nhiên & môi trường. https://thiennhienmoitruong.vn/hai-phong-lien-ket-san-xuat-tieu-thu-tao-suc-bat-cho-nganh-nong-nghiep.html
7. Thanh Vân (2024). Hải Phòng: Sát cánh, đồng hành cùng các HTX phát triển bền vững. tạp chí Vnbusiness. https://vnbusiness.vn/hop-tac-xa/lien-minh-htx-tp-hai-phong-sat-canh-dong-hanh-cung-cac-htx-phat-trien-ben-vung-1099166.html
8. Thanh Vân (2025). Liên minh HTX Hải Phòng sắp xếp tổ chức, triển khai nhiệm vụ cuối năm 2025. Tạp chí Vnbusiness. https://vnbusiness.vn/hop-tac-xa/lien-minh-htx-hai-phong-sap-xep-to-chuc-trien-khai-nhiem-vu-cuoi-nam-2025-1109951.html
9. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/1/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
10. UBND TP. Hải Phòng (2021). Kế hoạch số 143/KH-UBND ngày 16/6/2021 về phát triển hợp tác xã nông nghiệp giai đoạn 2021-2025.
11. UBND TP. Hải Phòng (2021). Kế hoạch số 215/KH-UBND ngày 21/9/2021 về Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2025.
|
Ngày nhận bài: 12/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/12/2025; Ngày duyệt đăng: 5/1/2026 |
Các tin khác
Cơ hội thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại Vĩnh Long
Quản trị tri thức và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp
Hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội
Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam
Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp
Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam