Thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam: Vai trò của hệ thống ngân hàng
Phạm Thế Hùng
Ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, làm rõ vai trò của hệ thống ngân hàng, những thách thức và khuyến nghị phát triển. Trên cơ sở tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp, kết quả cho thấy, thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng nhanh về quy mô giao dịch, đa dạng hóa phương thức thanh toán và mở rộng phạm vi ứng dụng. Hệ thống ngân hàng đóng vai trò nòng cốt trong phát triển hạ tầng, cung ứng dịch vụ số, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và bảo đảm an toàn cho giao dịch. Tuy nhiên, quá trình phát triển còn đối mặt với rủi ro gian lận, chênh lệch về khả năng tiếp cận, thói quen sử dụng tiền mặt, áp lực đầu tư công nghệ và hạn chế về tính liên thông. Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tăng cường bảo vệ khách hàng, nâng cấp hạ tầng, mở rộng khả năng tiếp cận và hoàn thiện hệ thống đánh giá nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt phát triển an toàn, bao trùm và bền vững.
Từ khóa: Thanh toán không dùng tiền mặt, ngân hàng thương mại, thanh toán số, tài chính toàn diện, Việt Nam
Abstract
This study analyzes the current state of cashless payments in Viet Nam, clarifying the role of the banking system, key challenges, and recommendations for further development. Based on a review and analysis of secondary data, the findings indicate that cashless payments have grown rapidly in terms of transaction volume, diversified payment methods, and expanded application scope. The banking system plays a central role in developing infrastructure, providing digital services, expanding access to financial services, and ensuring transaction security. However, further development faces challenges, including fraud risks, disparities in access, persistent cash-use habits, pressure to invest in technology, and limited interoperability. The study proposes improving the legal framework, strengthening customer protection, upgrading infrastructure, expanding access, and refining evaluation systems to promote the safe, inclusive, and sustainable development of cashless payments.
Keywords: Cashless payments, commercial banks, digital payments, financial inclusion, Viet Nam
GIỚI THIỆU
Chuyển đổi số đang thúc đẩy sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), góp phần nâng cao tính thuận tiện, hiệu quả và minh bạch trong các giao dịch kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, TTKDTM tiếp tục tăng trưởng mạnh và mở rộng phạm vi ứng dụng. Trong 8 tháng năm 2026, tổng số giao dịch tăng 34,56% về số lượng và 13,26% về giá trị so với cùng kỳ năm trước; thanh toán qua mã QR cũng tiếp tục được sử dụng rộng rãi trong giao dịch của người dân và doanh nghiệp (VnEconomy, 2026).
Những chuyển biến này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của hệ thống ngân hàng trong phát triển hạ tầng thanh toán, cung ứng dịch vụ số, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và bảo đảm an toàn giao dịch. Tuy nhiên, quá trình phát triển vẫn đối mặt với các thách thức về gian lận, an ninh mạng, chênh lệch khả năng tiếp cận, thói quen sử dụng tiền mặt, chi phí đầu tư công nghệ và tính liên thông giữa các hệ thống.
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp, nghiên cứu đánh giá thực trạng TTKDTM tại Việt Nam, làm rõ vai trò và đóng góp của hệ thống ngân hàng, nhận diện những thách thức còn tồn tại, từ đó đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao tính an toàn, hiệu quả và bao trùm của hoạt động thanh toán số.
THỰC TRẠNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
Những năm gần đây, TTKDTM tại Việt Nam phát triển nhanh, gắn với quá trình chuyển đổi số ngành ngân hàng và mở rộng dịch vụ tài chính số. Năm 2025, giá trị giao dịch TTKDTM đạt khoảng 28 lần GDP, tăng so với mức 13 lần GDP năm 2019 và vượt mục tiêu 25 lần GDP của Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021-2025. Bình quân giai đoạn 2021-2025, số lượng giao dịch tăng khoảng 59% mỗi năm và giá trị tăng khoảng 25% mỗi năm (Trần Hiếu, 2026).
So với năm 2024, trong năm 2025, giao dịch TTKDTM tăng 42,21% về số lượng và 22,65% về giá trị. Giao dịch qua Internet tăng 53,95% về số lượng và 35,75% về giá trị. Giao dịch qua điện thoại di động tăng 36,62% về số lượng và 20,07% về giá trị; riêng mã QR tăng 50,94% về số lượng và 124,06% về giá trị. Giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 6,07% về số lượng và 56,55% về giá trị. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 24,33% về số lượng và 7,71% về giá trị (Phan Linh, 2026).
Đà tăng trưởng tiếp tục trong năm 2026. Trong 2 tháng đầu năm, số lượng giao dịch TTKDTM tăng 40,74% và giá trị tăng 13,41% so với cùng kỳ năm 2025. Thanh toán qua Internet tăng 73,09% về số lượng và 28,11% về giá trị; qua điện thoại di động tăng tương ứng 34,37% và 10,51%; qua mã QR tăng 20,22% và 12,59%. Trong khi đó, giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 9,5% về số lượng và 69,07% về giá trị, cho thấy sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các phương thức thanh toán (Ngô Hải, 2026).
Trong 8 tháng năm 2026, thanh toán không dùng tiền mặt đạt hơn 21 tỷ giao dịch, trị giá trên 260,6 triệu tỷ đồng, tăng lần lượt 34,56% về số lượng và 13,26% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Thanh toán qua mã QR đã trở thành một phương thức quen thuộc đối với người dân và doanh nghiệp. Riêng giao dịch bằng mã QR đạt 311 triệu lượt, trị giá 274,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,66% về số lượng và 25,85% về giá trị (VNEconomy, 2026).
Trái với xu hướng mở rộng của các kênh số, giao dịch qua ATM có xu hướng giảm. Trong chín tháng năm 2025, số lượng giao dịch qua ATM giảm 16,77% và giá trị giảm 5,74%; trong hai tháng đầu năm 2026, số lượng tiếp tục giảm 6,40%, dù giá trị tăng 3,03% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy nhu cầu rút tiền qua ATM giảm về số lượt, nhưng chưa đủ để khẳng định tiền mặt đã giảm tương ứng trong mọi lĩnh vực và nhóm dân cư (Hồng Anh, 2025; Ngô Hải, 2026).
Mức độ phổ cập tài khoản thanh toán cũng được cải thiện. Đến cuối năm 2024, tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng đạt 86,97%. Tính đến tháng 12/2025, số lượng tài khoản thanh toán cá nhân vượt 232 triệu, tăng 13,68% so với cùng kỳ năm trước. Một số tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 95% giao dịch được thực hiện qua kênh số (Thanh Nga, 2025; Anh Minh, 2026). Tuy nhiên, số lượng tài khoản không đồng nghĩa với số người dùng thường xuyên, bởi một cá nhân có thể sở hữu nhiều tài khoản.
Bên cạnh dịch vụ ngân hàng truyền thống, tiền di động (Mobile Money) góp phần mở rộng thanh toán số tại những khu vực khó tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Đến cuối năm 2025, dịch vụ này có hơn 11,17 triệu tài khoản đăng ký và sử dụng; trong đó, khoảng 7,64 triệu tài khoản thuộc khách hàng ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, chiếm khoảng 68%. Tổng số giao dịch đạt hơn 326,75 triệu lượt, với giá trị khoảng 9.259 tỷ đồng (Ngô Hải, 2026). Kết quả này cho thấy vai trò bổ trợ của Mobile Money trong việc mở rộng khả năng tiếp cận thanh toán điện tử.
TTKDTM còn được mở rộng trong các lĩnh vực thiết yếu. Đến hết năm 2025, 100% cơ sở giáo dục đại học tại khu vực đô thị chấp nhận thanh toán học phí qua ngân hàng; 82% người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp tại đô thị được chi trả không dùng tiền mặt (Trần Hiếu, 2026). Việc mở rộng thanh toán điện tử trong giáo dục và an sinh xã hội góp phần giảm thao tác tiền mặt, hỗ trợ đối soát và nâng cao tính minh bạch trong quản lý dòng tiền.
Nhìn chung, TTKDTM tại Việt Nam có 3 xu hướng nổi bật: quy mô giao dịch tăng nhanh; các kênh thanh toán qua Internet, điện thoại di động và QR ngày càng phổ biến; phạm vi ứng dụng mở rộng sang dịch vụ công và an sinh xã hội. Tuy nhiên, những chỉ tiêu tăng trưởng này chủ yếu phản ánh sự mở rộng của hoạt động thanh toán, chưa chứng minh tiền mặt đã được thay thế hoàn toàn hoặc mọi nhóm dân cư đều có khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ số như nhau.
VAI TRÒ VÀ ĐÓNG GÓP CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và định hướng phát triển thanh toán số
Hệ thống ngân hàng giữ vai trò nòng cốt trong phát triển TTKDTM. Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam quản lý, định hướng chính sách và phát triển hạ tầng thanh toán; các ngân hàng thương mại và tổ chức trung gian trực tiếp cung ứng dịch vụ. Giai đoạn 2021-2025, Đề án theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg tạo cơ sở thúc đẩy thanh toán điện tử, ngân hàng số và ứng dụng công nghệ (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Sau khi Đề án kết thúc, NHNN tiếp tục xác định TTKDTM là nhiệm vụ thường xuyên, gắn với chuyển đổi số ngành ngân hàng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (Trần Hiếu, 2026).
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý giúp xác định trách nhiệm các bên, tạo điều kiện triển khai phương thức thanh toán mới và bảo vệ khách hàng. Chính sách cần theo kịp sự phát triển của công nghệ xác thực, mô hình cung ứng dịch vụ và kết nối giữa ngân hàng với các tổ chức trung gian, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống, bảo mật thông tin và tuân thủ pháp luật (Ngô Hải, 2026).
Phát triển hạ tầng thanh toán và đa dạng hóa phương thức giao dịch
Ngân hàng đầu tư, nâng cấp và vận hành hạ tầng TTKDTM thông qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử. Đồng thời, các ngân hàng thương mại phát triển dịch vụ chuyển khoản, thẻ, Internet Banking, Mobile Banking và thanh toán QR, mở rộng lựa chọn cho cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức cung ứng dịch vụ.
Trong 11 tháng năm 2025, giao dịch qua Internet tăng 52,91% về số lượng, qua điện thoại di động tăng 36,48%, trong khi thanh toán QR tăng 54,45% về số lượng và 141,02% về giá trị so với cùng kỳ. Hệ thống thanh toán liên ngân hàng, chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử cũng tiếp tục phát triển. Kết quả này cho thấy, TTKDTM phụ thuộc không chỉ vào mức độ tiếp cận ứng dụng, mà còn vào năng lực xử lý và kết nối giao dịch trong toàn hệ thống (Thanh Nga, 2025).
Bên cạnh việc cung ứng phương thức thanh toán, ngân hàng thúc đẩy hệ sinh thái dịch vụ số thông qua kết nối với giáo dục, y tế, giao thông, dịch vụ công và chi trả an sinh xã hội. Việc tích hợp thanh toán vào quy trình cung ứng dịch vụ giúp giảm thao tác trực tiếp, thuận tiện cho người dùng và hỗ trợ đối soát, qua đó mở rộng TTKDTM trong nền kinh tế.
Mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và thúc đẩy tài chính toàn diện
Ngân hàng góp phần phổ cập TTKDTM thông qua mở rộng tài khoản, phát triển ngân hàng số và đơn giản hóa quy trình xác thực. Đến cuối năm 2024, gần 87% người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng, cho thấy khả năng tiếp cận dịch vụ đã được cải thiện. Tuy nhiên, để thúc đẩy sử dụng thường xuyên, các tổ chức cung ứng cần tiếp tục nâng cao tính thuận tiện và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Anh Minh, 2026).
Mobile Money bổ trợ dịch vụ ngân hàng truyền thống tại những khu vực khó tiếp cận điểm giao dịch. Đến cuối năm 2025, khoảng 68% tài khoản Mobile Money đăng ký và sử dụng thuộc khách hàng ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Điều này cho thấy tiềm năng hỗ trợ tài chính toàn diện của phương thức này; tuy nhiên, cần tiếp tục nâng cao nhận thức, bảo đảm an toàn và mở rộng điểm chấp nhận thanh toán để tăng mức độ sử dụng thực tế (Ngô Hải, 2026).
Bên cạnh đó, xác thực điện tử góp phần chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao độ tin cậy của dịch vụ. Đến ngày 20/3/2026, ngành ngân hàng đã đối chiếu thông tin sinh trắc học với căn cước công dân gắn chip hoặc VNeID cho hơn 151,4 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và hơn 1,82 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức có tài khoản thanh toán (Ngô Hải, 2026).
Tăng cường an toàn giao dịch và bảo vệ khách hàng
Khi giao dịch điện tử gia tăng, xác thực khách hàng, giám sát giao dịch và cảnh báo rủi ro trở thành những biện pháp quan trọng để hạn chế tài khoản bị sử dụng trái phép, lừa đảo và thất thoát tài sản. Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) giúp chia sẻ thông tin về tài khoản, ví điện tử, thẻ và đơn vị chấp nhận thanh toán có dấu hiệu đáng ngờ.
Theo số liệu công bố tháng 3/2026, SIMO được triển khai tại 149 đơn vị, gồm 99 tổ chức tín dụng và 50 tổ chức trung gian thanh toán, với hơn 688 nghìn bản ghi nghi ngờ gian lận, lừa đảo hoặc vi phạm pháp luật. Hệ thống đã cảnh báo khoảng 3,5 triệu lượt khách hàng; hơn 1,1 triệu lượt tạm dừng hoặc hủy giao dịch, với giá trị trên 3,99 nghìn tỷ đồng (Tùng Thư, 2026). Đến ngày 26/8/2026, số lượt được cảnh báo vượt 5,1 triệu; gần 1,7 triệu lượt tạm dừng hoặc hủy giao dịch, với giá trị trên 5,7 nghìn tỷ đồng. Kết quả này cho thấy vai trò của cơ chế cảnh báo và phối hợp giữa các tổ chức, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục nâng cao năng lực phòng ngừa gian lận (VnEconomy, 2026).
Nhìn chung, hệ thống ngân hàng không chỉ cung cấp phương tiện thanh toán mà còn tổ chức hạ tầng, kết nối giao dịch, quản lý rủi ro và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính. Sự phát triển TTKDTM vì vậy phụ thuộc vào năng lực đầu tư công nghệ, đổi mới dịch vụ và phối hợp giữa NHNN, ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán cùng các chủ thể liên quan.
NHỮNG THÁCH THỨC CÒN TỒN TẠI
Rủi ro gian lận, lừa đảo và an ninh mạng. Giao dịch điện tử ngày càng đa dạng, làm gia tăng yêu cầu phát hiện, cảnh báo và xử lý gian lận. Số lượng lớn bản ghi nghi ngờ và lượt cảnh báo từ SIMO cho thấy nhu cầu phòng ngừa rủi ro còn cao. Hiệu quả kiểm soát phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, tốc độ chia sẻ thông tin và phối hợp giữa các tổ chức; đồng thời cần nâng cao nhận thức, kỹ năng nhận diện lừa đảo của khách hàng (Ngô Hải, 2026; VnEconomy, 2026).
Chênh lệch về khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ. Tỷ lệ sở hữu tài khoản tăng nhưng mức độ sử dụng TTKDTM chưa đồng đều do khác biệt về kết nối viễn thông, thiết bị, kỹ năng số và thói quen. Việc có tài khoản không đồng nghĩa với sử dụng thường xuyên; do đó, cần đánh giá cả tần suất giao dịch và khả năng tiếp cận dịch vụ, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa (Ngô Hải, 2026).
Thói quen và niềm tin đối với thanh toán điện tử. Tiền mặt vẫn thuận tiện trong giao dịch nhỏ, tại điểm bán thiếu phương tiện chấp nhận thanh toán hoặc nơi kết nối không ổn định. Vì vậy, giao dịch ATM giảm chưa đủ chứng minh tiền mặt đã mất vai trò. Ngân hàng cần cải thiện tính dễ sử dụng, minh bạch phí, hỗ trợ xử lý sự cố và bảo vệ khách hàng, đồng thời nâng cao nhận thức về lợi ích và rủi ro thanh toán số.
Hạ tầng công nghệ và tính liên thông. Tăng trưởng giao dịch tạo áp lực lên năng lực xử lý, độ ổn định và khả năng kết nối giữa ngân hàng, tổ chức trung gian và đơn vị chấp nhận thanh toán. Hệ thống cần được chuẩn hóa, kiểm thử an toàn, có phương án dự phòng và xử lý sự cố nhằm hạn chế gián đoạn, sai lệch đối soát và suy giảm niềm tin.
Áp lực đầu tư, vận hành và đổi mới. Ngân hàng phải liên tục đầu tư hạ tầng, bảo mật, quản trị dữ liệu và nhân lực công nghệ, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới dịch vụ và tuân thủ quy định. Khác biệt về nguồn lực khiến năng lực chuyển đổi số giữa các ngân hàng không đồng đều. Hợp tác với bên thứ ba có thể mở rộng dịch vụ nhưng đòi hỏi kiểm soát rủi ro, dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng.
Hoàn thiện thể chế và phối hợp giữa các chủ thể. Sự phát triển của công nghệ và mô hình thanh toán đặt ra yêu cầu cập nhật quy định về dịch vụ thanh toán, xác thực, bảo vệ dữ liệu và xử lý gian lận. Do nhiều chủ thể cùng tham gia, hiệu quả quản lý phụ thuộc vào cơ chế chia sẻ thông tin, phối hợp xử lý sự cố và phân định trách nhiệm rõ ràng (Ngô Hải, 2026).
Hạn chế trong đo lường mức độ phổ cập. Giá trị giao dịch so với GDP, tốc độ tăng số lượng và giá trị giao dịch, số tài khoản và tỷ lệ người có tài khoản phản ánh những khía cạnh khác nhau. Số tài khoản không đồng nghĩa với số người dùng thường xuyên; các kỳ thống kê khác nhau cũng không thể so sánh trực tiếp.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận
Thực trạng TTKDTM tại Việt Nam cho thấy sự mở rộng đáng kể về quy mô giao dịch, mức độ phổ cập tài khoản và phạm vi ứng dụng trong các hoạt động kinh tế - xã hội. Các kênh thanh toán qua Internet, điện thoại di động và QR tăng trưởng nhanh, trong khi giao dịch qua ATM có xu hướng giảm. Hệ thống ngân hàng đóng vai trò trung tâm trong quá trình này thông qua hoàn thiện cơ chế quản lý, phát triển hạ tầng, cung ứng dịch vụ số, mở rộng tiếp cận tài chính và tăng cường an toàn giao dịch.
Tuy nhiên, tăng trưởng giao dịch vẫn đi kèm những thách thức về gian lận, an ninh mạng, chênh lệch khả năng tiếp cận, thói quen sử dụng tiền mặt, chi phí đầu tư công nghệ và yêu cầu liên thông giữa các chủ thể. Do đó, giai đoạn tiếp theo cần chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô đơn thuần sang nâng cao chất lượng, độ an toàn, tính bao trùm và hiệu quả sử dụng thực tế của các phương thức thanh toán số. Việc kết hợp phát triển hạ tầng với bảo vệ khách hàng, giáo dục tài chính và hoàn thiện cơ chế phối hợp sẽ là điều kiện quan trọng để TTKDTM phát triển ổn định và bền vững.
Khuyến nghị phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam
Để phát triển TTKDTM bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau.
Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế phối hợp. NHNN cần thường xuyên rà soát, cập nhật quy định về thanh toán số, bảo vệ dữ liệu, xác thực khách hàng và xử lý gian lận; đồng thời tăng cường chia sẻ thông tin, phân định trách nhiệm giữa ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán và đơn vị chấp nhận thanh toán.
Thứ hai, nâng cao an toàn và năng lực phòng ngừa rủi ro. Các ngân hàng cần đầu tư hệ thống giám sát giao dịch, cảnh báo sớm, xác thực an toàn và cập nhật dữ liệu gian lận. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn khách hàng nhận diện thủ đoạn lừa đảo và bảo vệ thông tin cá nhân.
Thứ ba, nâng cấp hạ tầng và thúc đẩy liên thông. Ưu tiên nâng cao năng lực xử lý, tính ổn định và khả năng kết nối giữa các nền tảng thanh toán; xây dựng phương án dự phòng, xử lý sự cố và kiểm soát rủi ro từ bên thứ ba. Các ngân hàng cần lựa chọn lộ trình đầu tư phù hợp với nguồn lực và yêu cầu an toàn.
Thứ tư, mở rộng khả năng tiếp cận và sử dụng thực tế. Phát triển các phương thức thanh toán thuận tiện, chi phí hợp lý, phù hợp với người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa và nhóm hạn chế kỹ năng số; đồng thời mở rộng điểm chấp nhận thanh toán và tăng cường hỗ trợ khách hàng.
Thứ năm, hoàn thiện hệ thống đánh giá. Bên cạnh số lượng tài khoản và giá trị giao dịch, cần theo dõi tần suất sử dụng, mức độ tiếp cận, tỷ lệ gian lận và chất lượng dịch vụ để xác định đúng trọng tâm cải thiện.
Tài liệu tham khảo:
1. Anh Minh (2026). Thanh toán không tiền mặt bứt phá, ngân hàng dẫn dắt chuyển đổi số. https://baochinhphu.vn/thanh-toan-khong-tien-mat-but-pha-ngan-hang-dan-dat-chuyen-doi-so-102260202112121397.htm
2. Bảo Bình (2025). Thị trường thương mại điện tử Việt trở nên “biến hóa, đầy thử thách”. https://vneconomy.vn/techconnect/thi-truong-thuong-mai-dien-tu-viet-tro-nen-bien-hoa-day-thu-thach.htm
3. Hồng Anh (2025). Thanh toán không tiền mặt tăng trưởng ấn tượng. https://nhandan.vn/thanh-toan-khong-tien-mat-tang-truong-an-tuong-post919000.html
4. Ngô Hải. (2026). Giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng hơn 40%. Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ. https://thitruongtaichinhtiente.vn/giao-dich-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-tang-hon-40-80797.html
5. Phan Linh (2026). Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP. https://vneconomy.vn/gia-tri-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-nam-2025-gap-khoang-28-lan-gdp.htm
6. Thanh Nga (2025). Giao dịch thanh toán dùng không tiền mặt tăng tiếp cả về số lượng và giá trị. https://vietnamnet.vn/giao-dich-thanh-toan-dung-khong-tien-mat-tang-tiep-ca-ve-so-luong-va-gia-tri-2478257.html
7. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1813/QĐ-TTG ngày 28/10/2021 về việc phê duyệt đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025
8. Trần Hiếu (2026). Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam. https://vov.vn/kinh-te/thuc-day-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-o-viet-nam-post1322781.vov
9. Tùng Thư (2026). Cảnh báo gian lận thời gian thực chặn hơn 1,1 triệu giao dịch nghi lừa đảo. https://vneconomy.vn/canh-bao-gian-lan-thoi-gian-thuc-chan-hon-11-trieu-giao-dich-nghi-lua-dao.htm
10. VnEconomy. (2026). Việt Nam đã đạt được bước tiến rõ nét về thanh toán không dùng tiền mặt. https://vneconomy.vn/viet-nam-da-dat-duoc-buoc-tien-ro-net-ve-thanh-toan-khong-dung-tien-mat.htm
| Ngày nhận bài: 8/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026 |
Các tin khác
Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai
Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Lãnh đạo chuyển đổi và cam kết chất lượng dịch vụ: Vai trò trung gian của cam kết tình cảm với thay đổi tại các khách sạn Việt Nam
Góc nhìn lý thuyết về động cơ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của nhà quản lý
Tác động của ứng dụng IoT đến hiệu quả vận hành kho xanh: Vai trò trung gian của năng lực khai thác dữ liệu IoT