Quản trị chuyển đổi số trong doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Kinh tế 08:43 | 26/10/2026 Lê Hoàng Như Uyên
Nghiên cứu làm rõ mối liên hệ giữa quản trị chuyển đổi số và năng lực chuỗi cung ứng, từ đó đề xuất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa tại Việt Nam nâng cao năng lực số, kết nối dữ liệu, phối hợp chuỗi cung ứng và khả năng thích ứng.

Lê Hoàng Như Uyên

Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH)

Email: [email protected]

TS. Lưu Thanh Tâm

Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH)

PGS. TS. Hồ Thị Thu Hòa

Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị và vận hành đối với các doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa tại Việt Nam. Nghiên cứu nhằm làm rõ các nội dung quản trị chuyển đổi số gắn với năng lực chuỗi cung ứng và đề xuất hàm ý chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Trên cơ sở tổng quan tài liệu, phân tích chính sách và kết quả nghiên cứu định tính với 15 nhà quản lý, chuyên gia trong lĩnh vực logistics và chuỗi cung ứng, bài viết tập trung xem xét năm nhóm nội dung gồm chuyển đổi số, tích hợp chuỗi cung ứng, chia sẻ dữ liệu, khả năng chống chịu và hiệu quả hoạt động logistics. Kết quả tổng hợp cho thấy sự cần thiết phải cụ thể hóa chuyển đổi số thông qua thay đổi cơ cấu tổ chức và quy trình vận hành; làm rõ khả năng phối hợp với đối tác trong chuỗi cung ứng; phân biệt năng lực chia sẻ dữ liệu với kết quả sử dụng dữ liệu; gắn khả năng điều chỉnh kế hoạch logistics với thông tin vận hành và phân biệt năng lực thích ứng với hiệu quả hoạt động logistics thông qua các chỉ tiêu về thời gian, chi phí và chất lượng dịch vụ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng hỗ trợ về năng lực quản trị số, kết nối dữ liệu, phối hợp chuỗi cung ứng và nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa.

Từ khóa: Chuyển đổi số, logistics, doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuỗi cung ứng, quản lý nhà nước

Abstract

Digital transformation requires small and medium-sized logistics enterprises in Viet Nam to reform their management practices and operational processes. This study examines digital transformation management in relation to supply chain capabilities and proposes policy implications to support these enterprises. Drawing on a literature review, policy analysis, and qualitative research involving 15 managers and experts in logistics and supply chain management, the study focuses on five areas: digital transformation, supply chain integration, data sharing, resilience, and logistics performance. The findings highlight the need to specify digital transformation in terms of organizational and operational changes; clarify coordination with supply chain partners; distinguish data-sharing capabilities from data utilization outcomes; link logistics planning adjustments to operational information; and differentiate adaptive capabilities from logistics performance measured by time, cost, and service quality. Based on these findings, the study proposes policy directions to strengthen digital management capabilities, data connectivity, supply chain coordination, and the adaptive capacity of medium-sized logistics enterprises.

Keywords: Digital transformation, logistics, small and medium-sized enterprises, supply chain, public administration

GIỚI THIỆU

Chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức vận hành và quản trị doanh nghiệp thông qua việc ứng dụng các công nghệ số và tái cấu trúc quy trình tạo lập giá trị. Theo Vial (2019), chuyển đổi số không chỉ là việc ứng dụng công nghệ mà còn bao hàm những thay đổi về tổ chức, chiến lược và năng lực doanh nghiệp. Bharadwaj và cộng sự (2013) cũng nhấn mạnh sự gắn kết giữa chiến lược kinh doanh và công nghệ số.

Đối với ngành logistics, chuyển đổi số tạo điều kiện tăng cường kết nối giữa các bộ phận, doanh nghiệp và đối tác trong chuỗi cung ứng. Năng lực tích hợp chuỗi cung ứng có liên hệ với hiệu quả hoạt động (Flynn et al., 2010), trong khi chất lượng chia sẻ thông tin góp phần hỗ trợ phối hợp giữa các chủ thể (Li et al., 2006). Bên cạnh đó, khả năng chống chịu chuỗi cung ứng thể hiện năng lực chuẩn bị, ứng phó và phục hồi trước các gián đoạn (Ponomarov & Holcomb, 2009). Những khía cạnh này cho thấy chuyển đổi số cần được xem xét gắn với năng lực quản trị và vận hành, thay vì chỉ tập trung vào đầu tư công nghệ.

Tại Việt Nam, chuyển đổi số được xác định là một định hướng phát triển quốc gia theo Quyết định số 749/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Đối với ngành logistics, Nghị quyết số 163/NQ-CP (Chính phủ, 2022) và Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2025) đặt ra định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển logistics bền vững.

Tuy nhiên, doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa có thể gặp khó khăn về nguồn lực tài chính, nhân lực công nghệ, tích hợp hệ thống và khai thác dữ liệu. Việc ứng dụng các phần mềm riêng lẻ chưa đồng nghĩa với chuyển đổi số toàn diện, bởi hiệu quả còn phụ thuộc vào khả năng điều chỉnh quy trình và phát triển năng lực tổ chức (Vial, 2019). Do đó, cần chú trọng ba năng lực: tích hợp chuỗi cung ứng, chia sẻ dữ liệu và chống chịu chuỗi cung ứng.

Mặc dù các nghiên cứu trước đã làm rõ những khía cạnh riêng biệt của chuyển đổi số, tích hợp chuỗi cung ứng, chia sẻ thông tin và khả năng chống chịu, việc kết nối các năng lực này trong một khung phân tích quản trị phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa tại Việt Nam vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu. Đặc biệt, các nghiên cứu được tổng quan chưa làm rõ đầy đủ cách thức chuyển hóa những yêu cầu quản trị ở cấp doanh nghiệp thành các ưu tiên hỗ trợ chính sách đối với nhóm doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế. Từ khoảng trống đó, bài viết hướng đến hai mục tiêu: thứ nhất, làm rõ các nội dung quản trị chuyển đổi số thông qua tổng quan lý thuyết và kết quả nghiên cứu định tính; thứ hai, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển năng lực tổ chức, tích hợp chuỗi cung ứng, chia sẻ dữ liệu và thích ứng trong vận hành.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tiếp cận quản trị chuyển đổi số trong doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa trên nền tảng lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) và lý thuyết năng lực động. Theo Barney (1991) và Teece (2018), lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng khai thác, phối hợp và tái cấu hình nguồn lực để thích ứng với biến động môi trường. Theo đó, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn bao hàm sự thay đổi về chiến lược, cơ cấu tổ chức và quy trình vận hành (Vial, 2019; Bharadwaj và cộng sự, 2013; Warner & Wäger, 2019).

Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu của Flynn và cộng sự (2010), Li và cộng sự (2006), Ponomarov và Holcomb (2009) và Gunasekaran và cộng sự (2001), bài viết xác định năm nhóm nội dung gồm chuyển đổi số, tích hợp chuỗi cung ứng, chia sẻ dữ liệu, khả năng chống chịu và hiệu quả hoạt động logistics. Trong đó, tích hợp chuỗi cung ứng và chia sẻ dữ liệu phản ánh năng lực phối hợp, khai thác thông tin; khả năng chống chịu thể hiện năng lực ứng phó và phục hồi trước gián đoạn; còn hiệu quả logistics phản ánh kết quả vận hành thông qua thời gian, chi phí và chất lượng dịch vụ. Sự phân định này góp phần hạn chế chồng lấn giữa năng lực tổ chức, khả năng thích ứng và kết quả hoạt động.

Tổng quan nghiên cứu cho thấy 2 khoảng trống trong phạm vi các công trình được xem xét: thiếu sự kết nối đồng thời các năng lực chuỗi cung ứng trong khung phân tích quản trị chuyển đổi số phù hợp với doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa tại Việt Nam; và chưa làm rõ đầy đủ việc chuyển hóa yêu cầu quản trị doanh nghiệp thành các ưu tiên hỗ trợ chính sách. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đóng góp về xây dựng khung phân tích tích hợp, cụ thể hóa nội hàm năm nhóm khái niệm thông qua nghiên cứu định tính và đề xuất định hướng chính sách gắn với chủ thể thực hiện, điều kiện triển khai và tiêu chí đánh giá. Tính mới chủ yếu thể hiện ở cách tiếp cận tích hợp giữa năng lực chuỗi cung ứng, quản trị chuyển đổi số và chính sách hỗ trợ trong bối cảnh Việt Nam, không nhằm khẳng định quan hệ nhân quả giữa các yếu tố nghiên cứu.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, kết hợp tổng quan tài liệu và phân tích văn bản chính sách về chuyển đổi số, logistics tại Việt Nam. Khung phân tích kế thừa các nghiên cứu của Vial (2019), Teece (2018), Flynn et al. (2010), Li et al. (2006) và Ponomarov và Holcomb (2009).

Dữ liệu được thu thập qua 15 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc, gồm 5 lãnh đạo doanh nghiệp, 7 quản lý cấp trung và 3 chuyên gia logistics, được lựa chọn có chủ đích theo kinh nghiệm chuyên môn. Nội dung phỏng vấn tập trung vào năm chủ đề: chuyển đổi số, tích hợp chuỗi cung ứng, chia sẻ dữ liệu, khả năng chống chịu và hiệu quả logistics.

Dữ liệu được tổng hợp, mã hóa theo chủ đề và đối chiếu với cơ sở lý thuyết nhằm xác định điểm tương đồng, khác biệt và đề xuất điều chỉnh các nội dung đo lường. Nghiên cứu phân biệt rõ giữa luận điểm kế thừa, kết quả tổng hợp từ phỏng vấn và đề xuất của nhóm tác giả. Do sử dụng mẫu có chủ đích, kết quả mang tính khám phá, không nhằm suy rộng thống kê hoặc kiểm định quan hệ nhân quả.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu được trình bày trên cơ sở phân biệt 3 cấp độ: (i) các luận điểm kế thừa từ tài liệu khoa học; (ii) những vấn đề được tổng hợp từ nghiên cứu định tính với 15 người tham gia phỏng vấn; và (iii) các đề xuất điều chỉnh nội dung đo lường của nhóm tác giả. Cách tiếp cận này nhằm làm rõ nguồn gốc của các nhận định, đồng thời tránh đồng nhất kết quả tổng hợp định tính với những đề xuất mang tính diễn giải và hoàn thiện khung phân tích (Bảng 1).

Bảng 1: Kết quả nghiên cứu định tính

Chủ đề nghiên cứu

Mã người tham gia

Phát biểu

Nội dung rút ra

Chuyển đổi số

LD01 – Lãnh đạo doanh nghiệp

Chuyển đổi số không chỉ là đầu tư phần mềm mà còn đòi hỏi doanh nghiệp điều chỉnh quy trình làm việc, phân công trách nhiệm và cách phối hợp giữa các bộ phận.

Chuyển đổi số gắn với thay đổi cơ cấu tổ chức và quy trình vận hành.

Tích hợp chuỗi cung ứng

QL01 – Quản lý cấp trung

Khó khăn không chỉ nằm ở hệ thống công nghệ mà còn ở việc phối hợp thông tin và quy trình giữa doanh nghiệp với khách hàng, nhà vận chuyển và các đối tác liên quan.

Năng lực tích hợp thể hiện ở khả năng phối hợp liên doanh nghiệp.

Chia sẻ dữ liệu

QL02 – Quản lý cấp trung

Dữ liệu được chia sẻ chưa chắc đã mang lại hiệu quả nếu thông tin không được cập nhật kịp thời hoặc không được sử dụng để hỗ trợ quyết định điều hành.

Cần phân biệt chia sẻ dữ liệu với khả năng sử dụng dữ liệu.

Khả năng chống chịu chuỗi cung ứng

CG01 – Chuyên gia

Khi phát sinh gián đoạn vận chuyển, doanh nghiệp cần có thông tin kịp thời để điều chỉnh kế hoạch giao nhận và phối hợp với các đối tác nhằm hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động.

Thông tin vận hành hỗ trợ năng lực thích ứng và ứng phó gián đoạn.

Hiệu quả hoạt động logistics

LD02 – Lãnh đạo doanh nghiệp

Hiệu quả hoạt động cần được đánh giá bằng thời gian xử lý đơn hàng, chi phí thực hiện, tỷ lệ giao hàng đúng hạn và chất lượng dịch vụ, chứ không chỉ bằng số lượng phần mềm đã triển khai.

Hiệu quả logistics phản ánh kết quả vận hành, khác với năng lực thích ứng.

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

Trước hết, về chuyển đổi số, Vial (2019) nhấn mạnh sự thay đổi về tổ chức và phương thức tạo lập giá trị dựa trên công nghệ số. Kết quả tổng hợp định tính gợi mở yêu cầu cụ thể hóa những thay đổi trong tổ chức và vận hành logistics. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất điều chỉnh nội dung đo lường thành “Chuyển đổi số làm thay đổi cơ cấu tổ chức và quy trình vận hành logistics của doanh nghiệp”. Cách diễn đạt này giúp xác định rõ các phương diện thay đổi cần xem xét, thay vì chỉ phản ánh việc ứng dụng công nghệ.

Đối với tích hợp chuỗi cung ứng, Flynn và cộng sự (2010) làm rõ vai trò của tích hợp nội bộ và tích hợp với các đối tác bên ngoài. Kết quả tổng hợp định tính cho thấy cần nhấn mạnh sự phối hợp giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động logistics. Theo đó, nhóm tác giả đề xuất nội dung “Doanh nghiệp có khả năng tích hợp và phối hợp các quy trình logistics giữa nội bộ doanh nghiệp và các đối tác trong chuỗi cung ứng”, nhằm phân biệt năng lực phối hợp quy trình với hoạt động kết nối công nghệ đơn thuần.

Về chia sẻ dữ liệu, kế thừa nghiên cứu của Li và cộng sự (2006), kết quả tổng hợp định tính gợi mở yêu cầu làm rõ vai trò của dữ liệu trong hoạt động quản trị. Nhóm tác giả đề xuất điều chỉnh thành “Dữ liệu logistics được chia sẻ và hỗ trợ quá trình ra quyết định của doanh nghiệp”. Nội dung này tập trung vào khả năng chia sẻ và sử dụng thông tin, đồng thời hạn chế sự chồng lấn giữa năng lực chia sẻ dữ liệu và kết quả quản trị.

Đối với khả năng chống chịu chuỗi cung ứng, Ponomarov và Holcomb (2009) nhấn mạnh năng lực chuẩn bị, ứng phó và phục hồi trước gián đoạn. Kết quả tổng hợp định tính gợi mở vai trò của thông tin vận hành đối với việc điều chỉnh kế hoạch logistics. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất nội dung “Doanh nghiệp linh hoạt điều chỉnh kế hoạch logistics dựa trên thông tin và dữ liệu trong quá trình vận hành”. Sự điều chỉnh này cụ thể hóa cơ sở của năng lực thích ứng, nhưng chưa phản ánh đầy đủ các phương diện của khả năng chống chịu.

Cuối cùng, đối với hiệu quả hoạt động logistics, trên cơ sở tiếp cận của Gunasekaran và cộng sự (2001), nghiên cứu xác định hiệu quả hoạt động cần được phân biệt với năng lực thích ứng trong vận hành. Theo đó, khả năng linh hoạt điều chỉnh hoạt động logistics trước biến động nhu cầu thị trường phản ánh năng lực đáp ứng của doanh nghiệp, trong khi hiệu quả hoạt động logistics thể hiện thông qua các kết quả cụ thể như thời gian xử lý đơn hàng, tỷ lệ giao hàng đúng hạn, chi phí thực hiện và chất lượng dịch vụ. Sự phân định này góp phần làm rõ nội hàm khái niệm và hạn chế sự chồng lấn giữa năng lực tổ chức với kết quả hoạt động trong khung phân tích nghiên cứu.

MỘT SỐ HÀM Ý ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và kết quả nghiên cứu tại Bảng 2 cho thấy, để quản trị chuyển đổi số an toàn, hiệu quả trong doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa ở Việt Nam cần chú trọng:

Quản trị chuyển đổi số

Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh yêu cầu gắn ứng dụng công nghệ với thay đổi cơ cấu tổ chức và quy trình vận hành logistics. Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước về logistics và chuyển đổi số cần xem xét thí điểm chương trình hỗ trợ đánh giá mức độ trưởng thành số, tư vấn cải tiến quy trình và hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng lộ trình chuyển đổi số phù hợp với nguồn lực. Việc triển khai cần có bộ tiêu chí đánh giá thống nhất, đội ngũ tư vấn chuyên môn và cơ chế lựa chọn doanh nghiệp tham gia. Kết quả có thể được theo dõi thông qua tỷ lệ doanh nghiệp hoàn thành đánh giá, xây dựng lộ trình và thực hiện cải tiến quy trình sau hỗ trợ.

Tích hợp chuỗi cung ứng

Nghiên cứu gợi mở nhu cầu tăng cường phối hợp quy trình giữa doanh nghiệp và các đối tác. Vì vậy, cơ quan quản lý chuyên ngành có thể phối hợp với hiệp hội logistics và doanh nghiệp công nghệ triển khai thí điểm các hướng dẫn về tiêu chuẩn kết nối, trao đổi dữ liệu và phối hợp nghiệp vụ liên doanh nghiệp. Điều kiện thực hiện bao gồm sự thống nhất về quy trình, khả năng tương thích của hệ thống và yêu cầu bảo mật thông tin. Các chỉ tiêu đánh giá có thể gồm số doanh nghiệp tham gia kết nối, tỷ lệ giao dịch trao đổi dữ liệu tự động và mức độ giảm thao tác xử lý thủ công.

Chia sẻ dữ liệu

Cần phân biệt việc trao đổi dữ liệu với khả năng sử dụng dữ liệu phục vụ ra quyết định. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể nghiên cứu hướng dẫn về quản trị dữ liệu logistics, tiêu chuẩn thông tin và cơ chế chia sẻ dữ liệu phù hợp với quy định bảo vệ dữ liệu. Việc triển khai cần xác định trách nhiệm của các bên tham gia, quyền truy cập và yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin. Hiệu quả thí điểm có thể được đánh giá thông qua mức độ đầy đủ, kịp thời và khả năng sử dụng dữ liệu trong các quy trình phối hợp.

Khả năng chống chịu chuỗi cung ứng

Cơ quan quản lý chuyên ngành và hiệp hội doanh nghiệp có thể thí điểm cơ chế cảnh báo gián đoạn, hướng dẫn xây dựng phương án ứng phó và hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho doanh nghiệp logistics. Việc triển khai cần dựa trên dữ liệu đáng tin cậy, được cập nhật thường xuyên và có sự tham gia của doanh nghiệp. Hiệu quả có thể được đánh giá thông qua thời gian phát cảnh báo, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng thông tin và thời gian điều chỉnh kế hoạch khi xảy ra gián đoạn. Định hướng này xuất phát từ kết quả nghiên cứu, cho thấy vai trò của thông tin vận hành đối với khả năng điều chỉnh kế hoạch logistics.

Hiệu quả hoạt động logistics

Các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cần gắn với bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vận hành, thay vì chỉ dựa vào số lượng công nghệ được triển khai. Cơ quan quản lý có thể phối hợp với doanh nghiệp thu thập dữ liệu trước và sau hỗ trợ, tập trung vào thời gian xử lý đơn hàng, tỷ lệ giao hàng đúng hạn, chi phí dịch vụ và chất lượng phục vụ khách hàng. Việc đánh giá cần phân biệt năng lực thích ứng với kết quả vận hành, đồng thời xem xét sự khác biệt về quy mô và loại hình dịch vụ logistics.

Bên cạnh đó, đào tạo nhân lực số, phối hợp liên ngành và hỗ trợ tài chính là những giải pháp bổ trợ cho chuyển đổi số, song hiệu quả chưa được kiểm chứng trong nghiên cứu này. Vì vậy, cần thí điểm, xác định rõ trách nhiệm và đánh giá kết quả trước khi nhân rộng, nhằm bảo đảm tính khả thi và trách nhiệm giải trình trong hỗ trợ doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa.

Bảng 2: Ma trận liên kết kết quả nghiên cứu với hàm ý chính sách

Kết quả làm căn cứ

Vấn đề chính sách

Giải pháp đề xuất

Chủ thể thực hiện

Điều kiện triển khai

Chỉ tiêu đánh giá

Thay đổi tổ chức và quy trình vận hành

Hỗ trợ công nghệ cần gắn với cải tiến quản trị

Thí điểm đánh giá trưởng thành số và tư vấn quy trình

Cơ quan quản lý logistics, hiệp hội

Bộ tiêu chí, chuyên gia tư vấn, kinh phí

Tỷ lệ doanh nghiệp có lộ trình và cải tiến quy trình

Tích hợp chuỗi cung ứng

Khó khăn trong phối hợp liên doanh nghiệp

Thí điểm tiêu chuẩn kết nối và liên thông nghiệp vụ

Cơ quan quản lý chuyên ngành, hiệp hội, doanh nghiệp công nghệ

Chuẩn kết nối, thỏa thuận hợp tác, bảo mật

Số doanh nghiệp kết nối, tỷ lệ giao dịch tự động

Chia sẻ dữ liệu

Cần bảo đảm dữ liệu có thể phục vụ phối hợp và ra quyết định

Hướng dẫn quản trị và chia sẻ dữ liệu

Cơ quan quản lý liên quan, hiệp hội

Phân quyền, an toàn thông tin, tiêu chuẩn dữ liệu

Mức độ đầy đủ, kịp thời và khả năng sử dụng dữ liệu

Khả năng chống chịu

Nhu cầu tiếp cận thông tin để ứng phó gián đoạn

Thí điểm cảnh báo rủi ro và hướng dẫn ứng phó

Cơ quan quản lý chuyên ngành, hiệp hội

Dữ liệu tin cậy, cơ chế cập nhật

Thời gian cảnh báo, thời gian điều chỉnh kế hoạch

Hiệu quả logistics

Cần đánh giá kết quả thay vì chỉ ghi nhận đầu tư công nghệ

Bộ chỉ tiêu đánh giá trước và sau hỗ trợ

Cơ quan quản lý chương trình, doanh nghiệp

Dữ liệu đo lường và phương pháp thống nhất

Thời gian xử lý, giao hàng đúng hạn, chi phí, chất lượng dịch vụ

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

KẾT LUẬN

Chuyển đổi số trong doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa là quá trình đổi mới tổng thể về tổ chức, quy trình vận hành và năng lực phối hợp, không chỉ giới hạn ở ứng dụng công nghệ. Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy cần chú trọng sự điều chỉnh cơ cấu tổ chức, tích hợp chuỗi cung ứng, chia sẻ dữ liệu phục vụ ra quyết định và khả năng thích ứng trước biến động. Những kết quả này gợi mở vai trò của năng lực tổ chức và chuỗi cung ứng trong chuyển đổi số, đồng thời cung cấp cơ sở ban đầu cho việc đề xuất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, chuyển đổi số không chỉ phụ thuộc vào năng lực nội tại của doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng từ môi trường thể chế và hệ sinh thái số của ngành logistics. Những hạn chế về tiêu chuẩn dữ liệu, hạ tầng kết nối, nhân lực và khả năng tương tác giữa các hệ thống cho thấy sự cần thiết của vai trò điều phối và hỗ trợ từ Nhà nước.

Trong giai đoạn triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025–2035, chính sách cần hướng đến phát triển năng lực chuyển đổi số thay vì chỉ hỗ trợ ứng dụng công nghệ riêng lẻ. Các ưu tiên gồm hoàn thiện hạ tầng và tiêu chuẩn dữ liệu, thiết kế hỗ trợ phù hợp với mức độ trưởng thành số của doanh nghiệp, phát triển nhân lực kết hợp kiến thức logistics và dữ liệu, nâng cao khả năng chống chịu và tăng cường phối hợp liên ngành. Tuy nhiên, các định hướng này mới là đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu và phân tích chính sách; tính khả thi và hiệu quả cần được đánh giá thông qua triển khai thí điểm trước khi nhân rộng.

Nghiên cứu có 3 hạn chế chính. Thứ nhất, mẫu định tính gồm 15 nhà quản lý và chuyên gia được lựa chọn có chủ đích nên kết quả mang tính khám phá, không đại diện thống kê cho toàn bộ doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa tại Việt Nam. Thứ hai, nghiên cứu chưa kiểm định định lượng mối quan hệ giữa chuyển đổi số, năng lực chuỗi cung ứng và hiệu quả hoạt động logistics. Thứ ba, các khuyến nghị chính sách chưa được đánh giá qua triển khai thực tế. Do đó, nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi khảo sát, kiểm định các mối quan hệ trong mô hình và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các công cụ chính sách được đề xuất.

Tài liệu tham khảo:

1. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108.

2. Bharadwaj, A., El Sawy, O. A., Pavlou, P. A., & Venkatraman, N. (2013). Digital business strategy: Towards a next generation of insights. MIS Quarterly, 37(2), 471–482. https://doi.org/10.25300/MISQ/2013/37:2.3.

3. Chính phủ. (2022). Nghị quyết số 163/NQ-CP ngày 16/12/2022 về nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam.

4. Flynn, B. B., Huo, B., & Zhao, X. (2010). The impact of supply chain integration on performance: A contingency and configuration approach. Journal of Operations Management, 28(1), 58–71. https://doi.org/10.1016/j.jom.2009.06.001.

5. Gunasekaran, A., Patel, C., & Tirtiroglu, E. (2001). Performance measures and metrics in a supply chain environment. International Journal of Operations & Production Management, 21(1/2), 71–87. https://doi.org/10.1108/01443570110358468.

6. Li, S., Ragu-Nathan, B., Ragu-Nathan, T. S., & Rao, S. S. (2006). The impact of supply chain management practices on competitive advantage and organizational performance. Omega, 34(2), 107–124. https://doi.org/10.1016/j.omega.2004.08.002

7. Ponomarov, S. Y., & Holcomb, M. C. (2009). Understanding the concept of supply chain resilience. The International Journal of Logistics Management, 20(1), 124–143. https://doi.org/10.1108/09574090910954873.

8. Teece, D. J. (2018). Business models and dynamic capabilities. Long Range Planning, 51(1), 40–49. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2017.06.007.

9. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

10. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 09/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050.

11. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda. The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118–144. https://doi.org/10.1016/j.jsis.2019.01.003.

12. Warner, K. S. R., & Wäger, M. (2019). Building dynamic capabilities for digital transformation: An ongoing process of strategic renewal. Long Range Planning, 52(3), 326–349. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2018.12.001.

Ngày nhận bài: 26/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/10/2026; Ngày duyệt đăng: 23/10/2026

Các tin khác

Phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế: Từ cơ sở lý luận đến giá trị thực tiễn

Phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế: Từ cơ sở lý luận đến giá trị thực tiễn

Trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là 2 mặt của một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ nhân - quả, tương hỗ và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp đề cập đến khái niệm “kinh tế di sản”, nhưng những quan điểm của Người về kinh tế, văn hóa, con người, nhân dân và bảo vệ các giá trị của dân tộc chứa đựng những giá trị phương pháp luận có thể vận dụng vào vấn đề này.
Số hóa và tăng trưởng vùng tại Việt Nam qua khung phân tích trung gian tuần tự

Số hóa và tăng trưởng vùng tại Việt Nam qua khung phân tích trung gian tuần tự

Nghiên cứu này thực hiện liên kết số hóa với kết quả kinh tế qua vốn nhân lực, năng suất và thu nhập bằng mô hình SEM đa nhóm trên dữ liệu bảng cấp tỉnh của Việt Nam, nơi hạ tầng số mở rộng nhanh nhưng năng suất và thu nhập vẫn chênh lệch lớn giữa các tỉnh.
Liên kết vùng trong thu hút FDI ở Đông Nam Bộ sau sắp xếp đơn vị hành chính

Liên kết vùng trong thu hút FDI ở Đông Nam Bộ sau sắp xếp đơn vị hành chính

Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng FDI, chú trọng năng suất, chuyển giao tri thức, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, phát triển kỹ năng và chuyển đổi xanh. Vì vậy, liên kết vùng Đông Nam Bộ cần chuyển từ lợi thế địa điểm sang lợi thế hệ sinh thái.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cùng yêu cầu khắt khe về thời gian giao hàng đang thu hẹp lợi thế cạnh tranh của các phương thức vận tải độc lập, buộc hệ thống logistics quốc gia phải chuyển dịch sang mô hình vận tải đa phương thức nhằm tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa.
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số đã và đang trở thành một trong những động lực then chốt tái định hình mô hình tăng trưởng kinh tế, gia tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Chủ trương phát triển các vùng động lực trong giai đoạn tới đã được khẳng định; đồng thời các vùng động lực được kỳ vọng sẽ có đóng góp quan trọng trong giai đoạn phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam cho các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam

Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực phát triển, cần có hệ thống thể chế phù hợp nhằm xác lập quyền, thúc đẩy chia sẻ, khai thác và bảo đảm an toàn dữ liệu
Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực định vị là một trong những trung tâm du lịch năng động hàng đầu khu vực Đông Nam Á, yêu cầu phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ toàn diện, đặc biệt là logistics du lịch ngày càng trở nên cấp thiết.
Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường carbon tại Việt Nam

Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường carbon tại Việt Nam

Thị trường carbon được xem là một công cụ kinh tế cho phép trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon, qua đó tạo động lực giảm phát thải, huy động nguồn lực tài chính cho các dự án phát triển xanh và nâng cao tính linh hoạt trong thực hiện các mục tiêu khí hậu