Phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế: Từ cơ sở lý luận đến giá trị thực tiễn

Kinh tế 18:01 | 29/10/2026 Lê Hữu Đạt
Trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là 2 mặt của một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ nhân - quả, tương hỗ và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển.

TS. Lê Hữu Đạt

Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk

Email: [email protected]

Tóm tắt

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là định hướng chiến lược xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc Đổi mới. Trong bối cảnh phân mảnh kinh tế toàn cầu, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và gia tăng chủ nghĩa bảo hộ thương mại, việc củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với bảo vệ chủ quyền quốc gia và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Bài viết phân tích mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ kinh tế và hội nhập quốc tế, đồng thời nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch liên quan đến vai trò của tự chủ kinh tế, tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và năng lực nội sinh của nền kinh tế Việt Nam. Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ, phát huy hiệu quả hội nhập và góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Độc lập, tự chủ kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ nền tảng tư tưởng

Abstract

Building an independent and self-reliant economy while proactively pursuing international economic integration has been a consistent strategic orientation of the Communist Party of Viet Nam throughout the Doi Moi (Renewal) process. Against the backdrop of global economic fragmentation, the risk of supply chain disruptions and the rise of trade protectionism, strengthening the economy's capacity for self-reliance is crucial to safeguarding national sovereignty and maintaining the socialist orientation. This paper analyses the relationship between economic independence and self-reliance and international integration, while identifying and rebutting erroneous and hostile viewpoints concerning the role of economic self-reliance, the implications of new-generation free trade agreements, and the endogenous capacities of the Vietnamese economy. The paper also proposes several measures to strengthen economic self-reliance, enhance the effectiveness of international integration, and contribute to safeguarding the Party's ideological foundation in the new context.

Keywords: Economic independence and self-reliance, international economic integration, safeguarding the Party's ideological foundation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Qua 4 thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã kiến tạo những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một quốc gia chịu bao vây, cấm vận và khủng hoảng kinh tế - xã hội, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động hàng đầu khu vực Đông Nam Á, đồng thời trở thành mắt xích không thể thiếu trong chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, độ mở thương mại lớn trong một thế giới nhiều biến động địa chính trị cũng đặt nền kinh tế nước ta trước những thách thức mang tính sống còn. Tình trạng phân mảnh kinh tế toàn cầu, nguy cơ đứt gãy các chuỗi cung ứng vật tư chiến lược, sự biến động khó lường của thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ thương mại dưới nhiều hình thức tinh vi và xu hướng lạm dụng các biện pháp phòng vệ thương mại từ các thị trường nhập khẩu lớn đang đe dọa trực tiếp đến an ninh kinh tế quốc gia.

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII đã xác định rõ: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng” (Bộ Chính trị, 2018). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh phương châm chỉ đạo: “Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước... Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mặt trận kinh tế không thể tách rời cuộc đấu tranh lý luận sắc bén, gắn liền với việc hoạch định chính sách công nghiệp, thương mại và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước.

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ KINH TẾ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là 2 mặt của một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ nhân - quả, tương hỗ và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển:

Thứ nhất, độc lập, tự chủ là nền tảng, là điều kiện tiên quyết để hội nhập kinh tế quốc tế thành công (Nguyễn Quang Thuấn, 2025). Theo đó, một quốc gia chỉ có thể tự tin mở cửa, tham gia đàm phán các thỏa thuận quốc tế trên cơ sở bình đẳng khi sở hữu một nội lực kinh tế đủ mạnh, hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ và cộng đồng doanh nghiệp có sức cạnh tranh. Nếu bước vào sân chơi toàn cầu với một nền kinh tế yếu kém, lệ thuộc, đất nước sẽ nhanh chóng rơi vào thế bị chi phối, trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa cấp thấp, bị vắt kiệt tài nguyên thiên nhiên và rơi vào bẫy giá trị gia tăng thấp. Giữ vững độc lập, tự chủ chính là điều kiện bảo đảm cho quá trình hội nhập đi đúng quỹ đạo, phục vụ tối đa cho lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ hai, chủ động hội nhập quốc tế là con đường tất yếu để tăng cường tiềm lực độc lập, tự chủ của nền kinh tế: Hội nhập không hề đối lập với tự chủ, mà trái lại, chính là phương thức hữu hiệu để củng cố sức mạnh nội tại. Thông qua hội nhập, chúng ta có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn đầu tư quốc tế, tiếp thu công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản trị hiện đại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp của đất nước. Hơn thế nữa, hội nhập tạo ra sự đan xen lợi ích kinh tế chiến lược với các đối tác hàng đầu thế giới, hình thành “thế đứng” vững chắc để đất nước bảo vệ chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia từ sớm, từ xa (Nguyễn Phú Trọng, 2024).

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mặt trận kinh tế đòi hỏi trước hết phải nhận diện chính xác bản chất, thủ đoạn và kiên quyết vạch trần tính chất ngụy biện của các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh phân mảnh địa kinh tế và tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay, các thế lực phản động, cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng truyền thông xã hội và các diễn đàn quốc tế để tấn công trực diện vào đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Chúng tập trung xuyên tạc mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế qua 3 nhóm luận điệu cơ bản:

Luận điệu cho rằng trong thời đại toàn cầu hóa thì độc lập, tự chủ kinh tế đã trở thành khái niệm giáo điều, cản trở phát triển

Đây là một sự ngụy biện phi lịch sử và phản khoa học. Các đối tượng chống phá thường viện dẫn học thuyết tự do mới (Neoliberalism) để cổ xúy quan điểm xóa nhòa biên giới kinh tế quốc gia, đòi Việt Nam phải từ bỏ vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thả nổi thị trường để tư bản quốc tế tự do thao túng và từ bỏ mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng lập luận rằng, một nền kinh tế muốn phát triển thì phải “phi chính trị hóa”, không thể gắn với bất kỳ hệ tư tưởng hay sự lãnh đạo chính trị nào.

Tuy nhiên, cả lý luận chính trị - kinh tế học và thực tiễn vận hành của thế giới hiện đại đều bác bỏ hoàn toàn sự áp đặt phiến diện này:

Thứ nhất, mọi chính sách kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, dù công khai hay ngầm định, đều phục vụ cho lợi ích giai cấp và mục tiêu duy trì quyền lực của lực lượng cầm quyền tại xã hội đó. Thuyết “thị trường tự do tuyệt đối” thực chất chỉ là chiếc bình phong mà các nước tư bản phát triển sử dụng để thúc ép các nước đang phát triển gỡ bỏ hàng rào bảo hộ, mở toang cửa thị trường tài chính và tài nguyên nhằm biến các quốc gia này thành thị trường phụ thuộc.

Thứ hai, tự chủ kinh tế là nhu cầu sống còn và là xu thế tất yếu của mọi quốc gia có chủ quyền, đặc biệt trong các giai đoạn khủng hoảng. Đại dịch COVID-19 cùng các xung đột địa chính trị và sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ gần đây đã chứng minh rõ: ngay cả các cường quốc tư bản phát triển hàng đầu (như Mỹ, Nhật Bản hay các nước thành viên Liên minh châu Âu) đều ráo riết củng cố chủ quyền kinh tế. Họ đã ban hành hàng loạt đạo luật can thiệp trực tiếp bằng ngân sách nhà nước để kiểm soát chuỗi cung ứng, trợ cấp sản xuất công nghệ cốt lõi (điển hình như Đạo luật Khoa học và Bán dẫn, Đạo luật Giảm lạm phát của Mỹ). Khi khủng hoảng xảy ra, các nước này sẵn sàng áp đặt các lệnh cấm vận đơn phương, kiểm soát xuất khẩu năng lượng và lương thực để bảo vệ an ninh quốc gia.

Thứ ba, đối với Việt Nam, việc giữ vững độc lập, tự chủ kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng là lá chắn vững chắc nhất để bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc. Nếu buông lỏng trận địa tư tưởng, từ bỏ vai trò định hướng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế đất nước sẽ lập tức bị cuốn vào vòng xoáy đầu cơ tài chính, tư nhân hóa tràn lan các hạ tầng cốt lõi và trở thành nạn nhân trực tiếp của các cú sốc bên ngoài, dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội.

Luận điệu quy kết tham gia các FTA thế hệ mới làm xói mòn chủ quyền pháp lý và chệch hướng xã hội chủ nghĩa

Luận điểm cho rằng việc cam kết sâu rộng trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới tất yếu làm suy giảm chủ quyền quốc gia và dẫn tới việc “mất nước từ bên trong” là sự xuyên tạc thô thiển về bản chất pháp lý của quá trình hội nhập quốc tế. Các phần tử cơ hội chính trị thường vin vào các cam kết tiêu chuẩn cao trong Hiệp định CPTPP, EVFTA về mua sắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, thương mại điện tử, bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn lao động và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước (ISDS) để tung tin đồn thất thiệt. Họ quy chụp rằng Việt Nam đã “nhượng bộ chủ quyền lập pháp”, chấp nhận để các định chế tài chính và tòa án quốc tế đứng trên Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, từ đó suy diễn rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã bị triệt tiêu (Hội đồng Lý luận Trung ương, 2022).

Thực tiễn đàm phán, thực thi pháp luật và vị thế quốc tế của Việt Nam là minh chứng đanh thép đập tan sự xuyên tạc này:

Về mặt công pháp quốc tế, việc tham gia điều ước quốc tế là hành vi thực thi chủ quyền quốc gia của một quốc gia độc lập. Việc ký kết các FTA song phương và đa phương hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng và nguyên tắc cùng có lợi, phù hợp với Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế. Trong toàn bộ tiến trình đàm phán các FTA, Đảng và Nhà nước ta luôn giữ vững các nguyên tắc mang tính ranh giới đỏ: bảo đảm độc lập chính trị, an ninh quốc phòng, bảo lưu quyền ban hành chính sách công vì lợi ích của nhân dân, sức khỏe cộng đồng và trật tự an toàn xã hội. Không có bất kỳ cam kết quốc tế nào tước đoạt quyền tự quyết chính trị của Việt Nam.

Về mặt lập pháp nội địa, việc nội luật hóa các cam kết quốc tế là quá trình chủ động hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Việc Quốc hội sửa đổi, bổ sung các đạo luật quan trọng như Bộ Luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Sở hữu trí tuệ... không phải là sự “nhượng bộ ép buộc”, mà chính là đòi hỏi tự thân của công cuộc đổi mới nhằm xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, thúc đẩy sáng tạo khoa học - công nghệ và tiệm cận các chuẩn mực quản trị hiện đại của thế giới.

Về mặt bảo vệ định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập là phương thức phát triển lực lượng sản xuất phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Nhờ mở cửa và tận dụng hiệu quả các FTA, quy mô kinh tế của Việt Nam đã tăng trưởng vượt bậc, tiềm lực quốc phòng - an ninh được củng cố và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đan xen lợi ích kinh tế với hơn 60 nền kinh tế thông qua các FTA không hề làm mất đi tính độc lập, mà trái lại đã tạo ra một thế trận đối ngoại cân bằng, đa phương hóa, giúp đất nước tránh khỏi nguy cơ bị lệ thuộc vào một cực duy nhất, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền từ sớm, từ xa.

Luận điệu bi quan hóa, phủ nhận nội lực công nghiệp và chuỗi cung ứng của Việt Nam

Luận điệu rêu rao rằng nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn là “kinh tế gia công”, và chịu sự phụ thuộc tuyệt đối vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là cách nhìn phiến diện, quy chụp nhằm hạ thấp uy tín của ngành công thương và đường lối công nghiệp hóa của Đảng. Doanh nghiệp trong nước hoàn toàn bất lực và đất nước đang phụ thuộc vào chuỗi cung ứng nước ngoài.

Cách tiếp cận này cố tình phớt lờ tính quy luật của quá trình tích lũy tư bản và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Một là, giai đoạn gia công, lắp ráp ban đầu là bước đi tất yếu trong phân công lao động quốc tế của mọi nền kinh tế đi sau. Các nền kinh tế công nghiệp hóa thành công ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) trước đây đều phải trải qua giai đoạn tận dụng lợi thế lao động dồi dào để tham gia vào khâu lắp ráp, gia công, tích lũy ngoại tệ và vốn liếng trước khi chuyển dịch lên các nấc thang giá trị cao hơn. Việc thu hút FDI trong những thập kỷ qua đã giúp Việt Nam giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, tiếp nhận công nghệ và kỹ năng quản trị tiên tiến, đồng thời kết nối trực tiếp với mạng lưới thương mại toàn cầu.

Hai là, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận diện thẳng thắn các hạn chế và chủ động chuyển đổi mô hình phát triển công nghiệp. Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 2019) đã định hình rõ nguyên tắc thu hút FDI thế hệ mới: chuyển mạnh từ “thu hút số lượng” sang “hợp tác chất lượng”, ưu tiên công nghệ cao, thân thiện với môi trường, có tính lan tỏa và ràng buộc trách nhiệm liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Cùng với đó, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ mục tiêu tự chủ về công nghệ, phát triển công nghiệp nền tảng, công nghiệp vật liệu và công nghiệp hỗ trợ để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa (Bộ Chính trị, 2022).

Ba là, thực tiễn đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của lực lượng doanh nghiệp nội sinh. Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành Công Thương đã có những bước tiến nhảy vọt: tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành chế biến, chế tạo ngày càng gia tăng; nhiều doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế tư nhân, nhà nước của Việt Nam (như Viettel, VNPT, FPT, Thaco, VinFast...) đã tự chủ nghiên cứu, sản xuất các thiết bị công nghệ cao, thiết bị mạng viễn thông, linh kiện bán dẫn, phát triển phần mềm và phương tiện giao thông điện hóa vươn tầm thế giới. Khu vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp thực phẩm đã từng bước làm chủ thương hiệu, tiêu chuẩn an toàn sinh học quốc tế để xuất khẩu trực tiếp mà không cần qua trung gian. Những kết quả đó khẳng định nền kinh tế Việt Nam không hề “rỗng ruột”, mà đang tích lũy nội lực mạnh mẽ để tự chủ hóa chuỗi giá trị trong kỷ nguyên số.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Mọi thành quả phát triển kinh tế chỉ có thể phát huy tối đa giá trị khi được củng cố vững chắc bằng sự ổn định chính trị - xã hội và niềm tin vững chắc của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, các cơ quan báo chí ngành, các viện nghiên cứu và cơ quan truyền thông quốc gia cần chủ động đổi mới phương thức thông tin, tuyên truyền kinh tế; cung cấp thông tin minh bạch, kịp thời, đa chiều về tình hình kinh tế - xã hội, các cam kết FTA, những thời cơ cũng như những khó khăn tạm thời của nền kinh tế. Qua đó, tạo sự đồng thuận xã hội cao, khơi dậy tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến và niềm tự hào của cộng đồng doanh nhân, người lao động trong việc xây dựng thương hiệu quốc gia.

Đặc biệt, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chuyên gia lý luận kinh tế cần được chú trọng nâng cao. Cần xây dựng lực lượng chuyên trách am hiểu sâu sắc cả về lý luận Mác - Lênin, luật thương mại quốc tế và các xu hướng kinh tế học đương đại để có thể viết các công trình nghiên cứu, bài báo chuyên sâu, trực tiếp tranh biện và đấu tranh phản bác sắc bén với các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng bằng hệ thống luận cứ khoa học và số liệu thực tiễn thuyết phục.

Cuối cùng, việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong toàn bộ hệ thống cơ quan quản lý kinh tế là yêu cầu then chốt. Cần kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm và ngăn chặn mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong công tác xây dựng chính sách, đàm phán thương mại và quản lý tài sản công, bảo đảm đường lối phát triển kinh tế luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

KẾT LUẬN

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả là quy luật phát triển tất yếu khách quan, thể hiện bản lĩnh chính trị và tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới. Đây là lời giải mang tính khoa học cho bài toán phát triển nhanh, bền vững, giữ vững chủ quyền quốc gia và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh thế giới đầy biến động, bất định.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên phương diện kinh tế không thể chỉ dừng lại ở những lập luận trên trang sách hay diễn đàn lý luận, mà phải được hiện thực hóa bằng kết quả phát triển cụ thể: một nền kinh tế vĩ mô vững chắc, một nền công nghiệp nội sinh tự cường, một nền ngoại thương phát triển năng động và đời sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Giữ vững độc lập, tự chủ để hội nhập thành công; đồng thời tận dụng hiệu quả hội nhập để không ngừng gia tăng tiềm lực tự chủ quốc gia - đó chính là chân lý, là vũ khí lý luận đanh thép nhất để bẻ gãy mọi âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đưa đất nước tự tin tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

2. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

3. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995). Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập, tập 8, 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Hội đồng Lý luận Trung ương (2022). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

7. Nguyễn Quang Thuấn (2025). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế ở Việt Nam. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1092802/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-xay-dung-nen-kinh-te-doc-lap%2C-tu-chu-va-tich-cuc%2C-chu-dong-hoi-nhap-quoc-te-o-viet-nam.aspx.

8. Nguyễn Phú Trọng (2024). Xây dựng và phát triển nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

9. V.I. Lênin (1980). Toàn tập, tập 27, Nxb Tiến bộ.

Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/10/2026; Ngày duyệt đăng: 28/10/2026

Các tin khác

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp đề cập đến khái niệm “kinh tế di sản”, nhưng những quan điểm của Người về kinh tế, văn hóa, con người, nhân dân và bảo vệ các giá trị của dân tộc chứa đựng những giá trị phương pháp luận có thể vận dụng vào vấn đề này.
Số hóa và tăng trưởng vùng tại Việt Nam qua khung phân tích trung gian tuần tự

Số hóa và tăng trưởng vùng tại Việt Nam qua khung phân tích trung gian tuần tự

Nghiên cứu này thực hiện liên kết số hóa với kết quả kinh tế qua vốn nhân lực, năng suất và thu nhập bằng mô hình SEM đa nhóm trên dữ liệu bảng cấp tỉnh của Việt Nam, nơi hạ tầng số mở rộng nhanh nhưng năng suất và thu nhập vẫn chênh lệch lớn giữa các tỉnh.
Liên kết vùng trong thu hút FDI ở Đông Nam Bộ sau sắp xếp đơn vị hành chính

Liên kết vùng trong thu hút FDI ở Đông Nam Bộ sau sắp xếp đơn vị hành chính

Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng FDI, chú trọng năng suất, chuyển giao tri thức, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, phát triển kỹ năng và chuyển đổi xanh. Vì vậy, liên kết vùng Đông Nam Bộ cần chuyển từ lợi thế địa điểm sang lợi thế hệ sinh thái.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và tăng trưởng xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cùng yêu cầu khắt khe về thời gian giao hàng đang thu hẹp lợi thế cạnh tranh của các phương thức vận tải độc lập, buộc hệ thống logistics quốc gia phải chuyển dịch sang mô hình vận tải đa phương thức nhằm tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa.
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số đã và đang trở thành một trong những động lực then chốt tái định hình mô hình tăng trưởng kinh tế, gia tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Chủ trương phát triển các vùng động lực trong giai đoạn tới đã được khẳng định; đồng thời các vùng động lực được kỳ vọng sẽ có đóng góp quan trọng trong giai đoạn phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam cho các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam

Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực phát triển, cần có hệ thống thể chế phù hợp nhằm xác lập quyền, thúc đẩy chia sẻ, khai thác và bảo đảm an toàn dữ liệu
Quản trị chuyển đổi số trong doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Quản trị chuyển đổi số trong doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nghiên cứu làm rõ mối liên hệ giữa quản trị chuyển đổi số và năng lực chuỗi cung ứng, từ đó đề xuất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa tại Việt Nam nâng cao năng lực số, kết nối dữ liệu, phối hợp chuỗi cung ứng và khả năng thích ứng.
Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực định vị là một trong những trung tâm du lịch năng động hàng đầu khu vực Đông Nam Á, yêu cầu phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ toàn diện, đặc biệt là logistics du lịch ngày càng trở nên cấp thiết.
Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường carbon tại Việt Nam

Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường carbon tại Việt Nam

Thị trường carbon được xem là một công cụ kinh tế cho phép trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon, qua đó tạo động lực giảm phát thải, huy động nguồn lực tài chính cho các dự án phát triển xanh và nâng cao tính linh hoạt trong thực hiện các mục tiêu khí hậu