Phát triển thang đo những yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quy tắc 3R tại các doanh nghiệp thực phẩm và đồ uống trên địa bàn TP. Huế
TS. Nguyễn Thị Diệu Linh (Tác giả liên hệ)
Email: [email protected]
ThS. Nguyễn Ánh Dương
ThS. Cái Vĩnh Chi Mai
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Tóm tắt
Nghiên cứu xây dựng và kiểm định thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quy tắc 3R tại các cơ sở ngành thực phẩm và đồ uống (F&B) trên địa bàn TP. Huế, dựa trên lý thuyết Hành vi có kế hoạch mở rộng. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp được áp dụng qua 4 giai đoạn: tổng quan lý thuyết, phỏng vấn chuyên gia, khảo sát định lượng (N = 220) và phân tích nhân tố khám phá, nhân tố khẳng định. Kết quả cho thấy, mô hình gồm 6 nhân tố: Thái độ với thực hành 3R, Chuẩn mực chủ quan về 3R, Nhận thức kiểm soát hành vi, Cam kết môi trường, Chính sách kinh tế xanh và Lợi ích kinh tế, đều có độ tin cậy và giá trị hội tụ, phân biệt cao. Nghiên cứu khẳng định vai trò của các yếu tố tâm lý và chính sách trong thúc đẩy thực hành 3R, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách thiết thực cho doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách.
Từ khóa: Thực hành 3R, doanh nghiệp F&B, EFA, CFA
Summary
The study develops and validates measurement scales for factors influencing 3R practices at food and beverage (F&B) establishments in Hue City, basing on the Extended Theory of Planned Behavior (ETPB). A mixed-methods approach was employed in four stages: theoretical review, expert interviews, quantitative survey (N = 220), and exploratory and confirmatory factor analyses. The results show that the model includes six factors, Attitude toward 3R practices, Subjective Norms about 3R, Perceived Behavioral Control, Environmental Commitment, Green Economic Policies, and Economic Benefits, all of which demonstrate high reliability and strong convergent and discriminant validity. The study highlights the roles of psychological and policy-related factors in promoting 3R practices, and proposes practical policy implications for both businesses and policymakers.
Keywords: 3R practices, F&B enterprises, EFA, CFA
GIỚI THIỆU
Trước sự gia tăng quan tâm toàn cầu về các vấn đề môi trường và xã hội, ngày càng nhiều doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống (F&B) tại Huế bắt đầu quan tâm đến các giải pháp phát triển bền vững như: sử dụng nguyên liệu hữu cơ, giảm thiểu nhựa và bao bì cũng như tái chế và tái sử dụng sản phẩm phụ. Mô hình 3R (Giảm thiểu, Tái sử dụng, Tái chế) được xem là một giải pháp chiến lược vì giúp tối ưu hóa vòng đời sản phẩm, giảm chi phí vận hành, nâng cao hình ảnh doanh nghiệp và thể hiện trách nhiệm xã hội. Hơn nữa, việc thực hành 3R không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình “tái sinh” tài nguyên, văn hóa và môi trường sống. Trong bối cảnh Huế đang triển khai các chương trình về kinh tế tuần hoàn, mô hình 3R trở nên dễ tiếp cận và dễ triển khai, đặc biệt là trong ngành dịch vụ ăn uống (UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, 2022). Việc nâng cao nhận thức cho nhân viên và khách hàng trong các cơ sở F&B tại Huế sẽ góp phần hình thành hành vi tiêu dùng bền vững và ngăn ngừa lãng phí thực phẩm (FAO, 2011).
Bên cạnh đó, khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang được xem là giá trị đạo đức cốt lõi trong kinh doanh hiện đại. Do vậy, việc áp dụng 3R không chỉ nâng cao hiệu quả vận hành trong các cơ sở F&B, mà còn thể hiện cam kết của doanh nghiệp với cộng đồng và môi trường. Đây chính là lý do thôi thúc tác giả thực hiện nghiên cứu sâu hơn về việc áp dụng mô hình 3R tại các cơ sở F&B ở TP. Huế, nhằm đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của ngành và địa phương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết hành vi dự định (TPB), xuất phát từ Lý thuyết hành động hợp lý (TRA), cung cấp khung lý thuyết để hiểu cách các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến việc thực hành 3R của doanh nghiệp (Ajzen, 1991). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng TPB cơ bản chưa đủ để phản ánh đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng trong bối cảnh doanh nghiệp (Singh và cộng sự, 2018; Nguyen và cộng sự, 2024). Do đó, việc mở rộng mô hình TPB là cần thiết nhằm nâng cao khả năng dự đoán hành vi thực hành quy tắc 3R. Các yếu tố mở rộng được đề xuất bao gồm: Thứ nhất, cam kết môi trường, vốn đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy hành động bền vững của doanh nghiệp (Singh và cộng sự, 2018); Thứ hai, chính sách kinh tế xanh từ chính phủ, như: các ưu đãi tài chính và hỗ trợ công nghệ, giúp tăng cường động lực hành vi (Nguyen và cộng sự, 2024); Thứ ba, lợi ích kinh tế, là yếu tố thiết thực luôn được doanh nghiệp cân nhắc khi quyết định áp dụng quy tắc 3R.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp định tính và định lượng, được thực hiện qua 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: Tổng quan tài liệu từ các tạp chí uy tín trong và ngoài nước trên hệ thống cơ sở dữ liệu WoS, các tạp chí trong danh mục Scopus nhằm xác định, làm rõ khái niệm và nội hàm của các yếu tố đánh giá mức độ thực hành 3R. Giai đoạn 2: Trên cơ sở các biến quan sát tổng hợp được, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 15 chuyên gia (bao gồm: giảng viên, chuyên gia môi trường, chủ hoặc quản lý cơ sở kinh doanh F&B) để kiểm định sơ bộ nội dung và cấu trúc thang đo đề xuất. Giai đoạn 3: tập trung vào thu thập dữ liệu sơ cấp: Theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (1998), cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 135 mẫu (do có 27 biến quan sát, với tỷ lệ 5:1); nghiên cứu đã phát ra tổng cộng 230 phiếu khảo sát bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thu về 220 phiếu hợp lệ từ các cơ sở F&B (chủ yếu là nhà hàng ăn nhanh - chiếm 45%, cơ sở kinh doanh đồ uống chiếm 35% và nhà hàng dịch vụ đầy đủ chiếm 20%). Giai đoạn 4: sử dụng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm định cấu trúc lý thuyết của các thang đo, từ đó xác nhận mối quan hệ giữa các biến quan sát và các khái niệm tiềm ẩn.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả kiểm định độ phù hợp của thang đo
Bảng 1: Kết quả Crobach’s Alpha
|
Nhân tố |
Mã hoá |
Hệ số Crobach’s Alpha |
|
Thái độ với thực hành quy tắc 3R |
ATT |
0,867 |
|
Nhận thức chủ quan về thực hành quy tắc 3R |
SNR |
0,926 |
|
Nhận thức kiểm soát hành vi |
PCB |
0,895 |
|
Cam kết môi trường |
ECM |
0,940 |
|
Chính sách kinh tế xanh |
GEI |
0,923 |
|
Lợi ích kinh tế |
EBT |
0,884 |
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả, 2025
Tổng cộng có 27 biến quan sát được đưa vào kiểm định. Kết quả Bảng 1 cho thấy, tất cả các thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0,6 - ngưỡng chấp nhận tối thiểu đối với nghiên cứu khám phá (Peterson, 1994); đồng thời, các biến đều có hệ số tương quan biến - tổng > 0,3, đảm bảo tiêu chí về tính tương quan nội tại.
Kết quả kiểm định KMO và Bartlett đã bác bỏ giả thuyết này, với giá trị Sig. = 0,000 và hệ số KMO = 0,928, vượt ngưỡng tối thiểu 0,5. Điều này cho thấy mức độ tương quan giữa các biến là đủ cao để tiến hành phân tích nhân tố. Phương pháp trích Principal Component kết hợp với xoay Varimax đã xác định được 6 nhân tố chính từ tổng số 27 biến quan sát, với giá trị Eigenvalue thấp nhất là 1,029 (lớn hơn ngưỡng 1,0 theo tiêu chuẩn Kaiser). Tổng phương sai trích đạt 76,66%, vượt mức yêu cầu tối thiểu 50%, cho thấy mô hình có khả năng giải thích phần lớn biến thiên trong dữ liệu. Ngoài ra, ma trận xoay nhân tố cho thấy tất cả các biến đều có hệ số tải nhân tố > 0,5, bảo đảm tính hội tụ và phân biệt rõ ràng giữa các nhân tố được trích xuất.
Kết quả CFA thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành 3R
Kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của mô hình
Bảng 2: Kiểm định giá trị hội tụ của mô hình
|
Nhân tố |
Độ tin cậy tổng hợp (CR) |
Tổng phương sai rút trích (AVE) |
|
Thái độ với thực hành quy tắc 3R |
0,883 |
0,653 |
|
Nhận thức chủ quan về thực hành quy tắc 3R |
0,940 |
0,724 |
|
Nhận thức kiểm soát hành vi |
0,896 |
0,634 |
|
Cam kết môi trường |
0,928 |
0,764 |
|
Chính sách kinh tế xanh |
0,924 |
0,751 |
|
Lợi ích kinh tế |
0,868 |
0,622 |
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra năm 2025
Kết quả kiểm định giá trị hội tụ (Bảng 2) cho thấy, giá trị CR của các nhân tố dao động từ 0,868-0,940, đều vượt ngưỡng 0,7 theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (1998), cho thấy thang đo có độ tin cậy nội tại cao. Đồng thời, các giá trị AVE đều > 0,5 - mức tối thiểu cần thiết để khẳng định giá trị hội tụ (Fornell và Larcker, 1981).
Bảng 3: Kiểm định giá trị phân biệt của mô hình
|
|
EBT |
ECM |
PBC |
SNR |
GEI |
ATT |
|
EBT |
0,808 |
|
|
|
|
|
|
ECM |
0,600 |
0,851 |
|
|
|
|
|
PBC |
0,608 |
0,554 |
0,797 |
|
|
|
|
SNR |
0,315 |
0,350 |
0,487 |
0,874 |
|
|
|
GEI |
0,310 |
0,301 |
0,513 |
0,405 |
0,867 |
|
|
ATT |
0,717 |
0,668 |
0,700 |
0,462 |
0,483 |
0,789 |
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra năm 2025
Kết quả Bảng 3 cho thấy, căn bậc hai AVE của ECM (0,851) lớn hơn hệ số tương quan cao nhất giữa ECM và ATT (0,668), trong khi ATT có hệ số tự tương quan là 0,789, cao hơn mức tương quan cao nhất với các nhân tố còn lại (EBT = 0,717). Điều này khẳng định rằng, mỗi cấu trúc trong mô hình đo lường đại diện cho một khái niệm riêng biệt và không có sự chồng lấp đáng kể giữa các nhân tố.
Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Bảng 4: Kiểm định sự phù hợp của mô hình
|
Chỉ số |
CMIN/df |
GFI |
TLI |
CFI |
RMSEA |
PCLOSE |
|
Giá trị |
1,284 |
0,888 |
0,978 |
0,981 |
0,036 |
0,991 |
|
Tiêu chuẩn tham chiếu |
< 3 |
≥ 0,8 |
≥ 0,9 |
≥ 0,9 |
≤ 0,08 |
≥ 0,05 |
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra năm 2025
Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (Bảng 4) cho thấy mô hình có sự phù hợp tổng thể tốt. Các chỉ số phù hợp tuyệt đối và tương đối như GFI = 0,888; TLI = 0,978 và CFI = 0,981 đều vượt mức tiêu chuẩn ≥ 0,8 hoặc ≥ 0,9, cho thấy mức độ khớp cao giữa mô hình giả thuyết và dữ liệu thực nghiệm. Ngoài ra, chỉ số sai số xấp xỉ trung bình bình phương (RMSEA) đạt mức thấp 0,036 (≤ 0,08), kết hợp với giá trị PCLOSE = 0,991 (≥ 0,05), càng củng cố bằng chứng cho thấy mô hình không bị sai lệch nghiêm trọng và có thể được chấp nhận với độ tin cậy cao.
Kết quả nghiên cứu đã xác nhận tính phù hợp của mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành 3R tại các cơ sở kinh doanh F&B trên địa bàn TP. Huế, cho thấy yếu tố Cam kết môi trường và Lợi ích kinh tế được xác định là có hệ số tải cao trong mô hình đo lường, cho thấy động lực đạo đức và lợi ích tài chính là 2 động cơ quan trọng chi phối hành vi 3R. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2025), khi phân tích thực hành kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam, đã khẳng định rằng những cam kết môi trường xuất phát từ lãnh đạo doanh nghiệp góp phần mạnh mẽ trong việc triển khai hành vi bền vững. Tương tự, Xie và cộng sự (2022) nhấn mạnh vai trò của lợi ích tài chính dài hạn trong việc khuyến khích doanh nghiệp tái đầu tư vào hoạt động giảm thiểu chất thải. Ngoài ra, các yếu tố chính sách khuyến khích kinh tế xanh cho thấy có ảnh hưởng đáng kể, phù hợp với nhận định của Esfahbodi và cộng sự (2016) về vai trò then chốt của hệ thống hỗ trợ từ Chính phủ trong quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng xanh. Bên cạnh đó, vai trò của Nhận thức kiểm soát hành vi cũng được củng cố trong kết quả nghiên cứu này, phản ánh đúng bản chất của TPB - nơi niềm tin vào năng lực cá nhân quyết định mức độ hành vi được thực hiện (Ajzen, 1991). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Singh và cộng sự (2018) khi chỉ ra rằng, các rào cản về nguồn lực (tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất) là những yếu tố quyết định khả năng áp dụng các biện pháp môi trường trong lĩnh vực khách sạn và nhà hàng. Đồng thời, yếu tố Chuẩn mực xã hội cũng đóng vai trò tích cực, củng cố phát hiện của Susanto và cộng sự (2019) khi cho rằng, ảnh hưởng từ đồng nghiệp, đối tác và cộng đồng có thể thúc đẩy sự tuân thủ thực hành 3R trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, để nâng cao hiệu quả thực hành 3R tại các doanh nghiệp F&B, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nâng cao nhận thức và thái độ của nhân viên, tăng cường hỗ trợ từ phía cộng đồng và khách hàng cũng như phát huy tác động từ các chính sách ưu đãi kinh tế xanh. Từ góc độ chính sách, nghiên cứu kiến nghị Nhà nước cần xây dựng hệ thống ưu đãi tài chính rõ ràng như: miễn giảm thuế, hỗ trợ vay vốn và trợ giá đầu tư cho các doanh nghiệp áp dụng 3R. Các chương trình truyền thông - giáo dục về phát triển bền vững và quản lý chất thải cần được mở rộng để hình thành thái độ tích cực và cam kết tự nguyện từ phía doanh nghiệp. Song song đó, việc tổ chức tập huấn kỹ thuật và tư vấn chuyên sâu sẽ giúp các cơ sở F&B nâng cao năng lực thực hành 3R, vượt qua các rào cản về cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính. Cuối cùng, việc tích hợp 3R vào khung pháp lý phát triển kinh tế tuần hoàn và các chiến lược phát triển ngành dịch vụ là hướng đi cần thiết để đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.
(*) Lời cảm ơn: Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Kinh tế, Đại học Huế đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện nghiên cứu này thông qua đề tài mang mã số DHKT2025-03-17.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211, https://doi.org/https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T.
2. Esfahbodi, A., Zhang, Y., and Watson, G. (2016). Sustainable Supply Chain Management in Emerging Economies: Trade-Offs Between Environmental and Cost Performance. International Journal of Production Economics, 181, 350-366, https://doi.org/10.1016/j.ijpe.2016.02.013.
3. FAO (2011). Global Food losses and Food waste. http://www.unep.org/wed/2013/ quickfacts.
4. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Structural equation models with unobservable variables and measurement error: Algebra and statistics. Sage publications Sage CA: Los Angeles, CA.
5. Hair Jr., J. F., Anderson, R. E., Tatham, R. L., & Black, W. C. (1998). Multivariate Data Analysis (5th ed.). Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall.
6. Nguyen, T. K., Khue, N. T. M., Tran, Q. P., Anh, N. T. Q., Cuong, L. K., Du, N. C., Cuong, C. V., Thuong, V. T., Anh, D. H., & Vu, N. A. (2024). Examining the Factors Influencing the Level of Circular Economy Adoption in Agriculture: Insights from Vietnam. Research on World Agricultural Economy, 5(1), 48-57.
7. Nguyen, T. M. D., Vu, M. T., Dang, P. T., Tran, C. L., & Nguyen, T. L. H. (2025). Examining the Factors Influencing the Adoption of Circular Economy Models in the Food Industry among Small and Medium-Sized Enterprises in Vietnam. International Journal of Multidisciplinary, 10(2), 200-210, https://doi.org/10.31305/rrijm.2025.v10.n2.023.
8. Peterson, R. A. (1994). A Meta-Analysis of Cronbach’s Coefficient Alpha. Journal of Consumer Research, 21(2), 381-391, https://doi.org/https://doi.org/10.1086/209405.
9. Singh, M. P., Chakraborty, A., & Roy, M. (2018). Developing an extended theory of planned behavior model to explore circular economy readiness in manufacturing MSMEs, India. Resources, Conservation and Recycling, 135, 313-322, https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2017.07.015.
10. Susanto, A., & Meiryani, M. (2019). Antecedents of environmental management accounting and environmental performance: Evidence from Indonesian small and medium enterprises. International Journal of Energy Economics and Policy, 9(6), 401-407, https://doi.org/10.32479/ijeep.8366.
11. UNND tỉnh Thừa Thiên Huế (2022). Kế hoạch số: 491/KH-UBND ngày 30/12/2022 triển khai Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
12. Xie, Y., Zhang, S., & Zhao, H. (2022). Green investment as a strategy for competitive advantage in the hospitality sector. Journal of Cleaner Production, 363.
| Ngày nhận bài: 9/10/2015; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/12/2025; Ngày duyệt đăng: 10/12/2025 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán PayPal của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Đồng Nai
Xu hướng nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy việc duy trì sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh: Phân tích trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị
Đào tạo liên ngành trong các chương trình marketing bậc đại học: Từ tích hợp học phần đến phát triển năng lực
Tác động của văn hóa học tập tổ chức theo cảm nhận của nhân viên đến hiệu suất thích ứng của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số
Chuyển đổi số trong quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Thực trạng và hàm ý chính sách
Phát triển nguồn nhân lực cho chuyển đổi xanh ở Việt Nam: Thực trạng, điểm nghẽn và hàm ý chính sách
Tác động của thu hồi đất đến sinh kế hộ gia đình và giải pháp phục hồi bền vững tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Giải pháp hoàn thiện công tác chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn