Phát triển kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm chế biến thủy hải sản tại tỉnh An Giang: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu - Trao đổi 17:58 | 29/10/2026
Cốt lõi của kinh tế tuần hoàn trong chế biến thủy hải sản là đưa phụ phẩm trở lại chu trình sản xuất để kéo dài giá trị tài nguyên. Tiếp cận từ góc độ thu hồi và nâng cao giá trị phụ phẩm cá tra, tôm, bài viết phân tích thực trạng, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành này tại An Giang.

Nguyễn Huỳnh Phước Thiện (Tác giả chính)

Email: [email protected]

Lê Thị Nhả Ca (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Nguyễn Thị Thu An

Email: [email protected]

Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế tuần hoàn trong công nghiệp chế biến thủy hải sản tại tỉnh An Giang. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trên cơ sở dữ liệu thứ cấp, trong đó vận dụng kỹ thuật phân tích - tổng hợp và nghiên cứu trường hợp, kết quả nghiên cứu cho thấy, trong chuỗi cá tra, một số phụ phẩm đã được chế biến thành dầu ăn, collagen, gelatin, bột cá và thức ăn chăn nuôi; đối với tôm, đã ghi nhận việc sử dụng chitosan, axit amin và phân bón có nguồn gốc từ phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, mức độ tạo giá trị từ phụ phẩm chưa đồng đều, chế biến sâu mới thể hiện rõ ở một số doanh nghiệp và dữ liệu định lượng về các dòng phụ phẩm ở cấp tỉnh còn thiếu tính hệ thống. Từ đó, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp liên quan.

Từ khóa: Kinh tế tuần hoàn, phụ phẩm, chế biến thủy hải sản

Abstract

This study analyzes the current situation and proposes solutions for developing a circular economy in the seafood processing industry in An Giang Province. Using a qualitative research approach based on secondary data, the study applies analytical and synthesis techniques, as well as case study methods. The findings show that, in the pangasius value chain, some by-products have been processed into cooking oil, collagen, gelatin, fishmeal, and animal feed. In the shrimp industry, the use of chitosan, amino acids, and fertilizers derived from agricultural by-products has also been documented. However, value creation from by-products remains uneven, advanced processing is evident only in certain enterprises, and systematic quantitative data on by-product flows at the provincial level remain limited. Accordingly, the study proposes four groups of related solutions.

Keywords: Circular economy, by-products, seafood processing

GIỚI THIỆU

Công nghiệp chế biến thủy hải sản góp phần nâng cao giá trị nguyên liệu, tạo việc làm và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, ngành này cũng phát sinh lượng lớn phụ phẩm như đầu, xương, da, nội tạng cá, đầu và vỏ tôm. Nếu chỉ coi đây là chất thải hoặc dùng cho mục đích giá trị thấp, doanh nghiệp vừa tốn chi phí xử lý, vừa bỏ lỡ nguồn protein, lipid, collagen và khoáng chất có thể tiếp tục tạo giá trị. Vì vậy, cốt lõi của kinh tế tuần hoàn (KTTH) không chỉ là giảm chất thải. Đó là kéo dài giá trị tài nguyên, đưa phụ phẩm trở lại chu trình sản xuất thông qua thu hồi, tái sử dụng và chuyển hóa.

Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện KTTH đến năm 2035 đã đặt ra yêu cầu sử dụng hiệu quả tài nguyên, hạn chế phát sinh chất thải và thúc đẩy các mô hình sản xuất tuần hoàn (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Với lợi thế về nguyên liệu cá tra, tôm và năng lực chế biến, An Giang không chỉ cần tận dụng được nhiều phụ phẩm mà còn phải tạo thêm giá trị từ nguồn phụ phẩm đó. Nghiên cứu phân tích thực trạng, xác định kết quả, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất giải pháp phát triển KTTH trong ngành chế biến thủy hải sản của Tỉnh. Trong phạm vi nghiên cứu, KTTH được tiếp cận từ góc độ thu hồi và nâng cao giá trị phụ phẩm cá tra và tôm.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

KTTH được nhìn nhận như một hệ thống có tính tái tạo, hướng đến thu hẹp, làm chậm và khép kín các vòng vật chất và năng lượng, qua đó giảm nhu cầu đầu vào, chất thải và phát thải (Geissdoerfer và cộng sự, 2017). Kirchherr và cộng sự (2017) nhấn mạnh, KTTH không chỉ gồm giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi mà còn đòi hỏi sự thay đổi mang tính hệ thống ở cấp sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế. Prieto-Sandoval và cộng sự (2018) tiếp tục đặt cách tiếp cận này trong mối quan hệ giữa sử dụng tài nguyên và phát triển bền vững. Như vậy, KTTH không đơn thuần là xử lý chất thải mà là cách tiếp cận mang tính hệ thống nhằm sử dụng hiệu quả, duy trì và gia tăng giá trị của tài nguyên trong các chu trình kinh tế.

Trong công nghiệp chế biến thủy hải sản, phát triển KTTH không chỉ thể hiện ở việc giảm lượng chất thải mà còn ở khả năng thu hồi, tái sử dụng và chuyển hóa các phần nguyên liệu sau chế biến thành sản phẩm hoặc đầu vào mới có giá trị. Các dòng phụ phẩm có thể được sử dụng cho thực phẩm, dầu, protein, collagen, gelatin, chitin, chitosan, thức ăn chăn nuôi, phân bón, vật liệu sinh học hoặc năng lượng; giá trị tạo ra phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu, công nghệ, quy mô và thị trường (Cooney và cộng sự, 2023). Theo cách tiếp cận này, việc đánh giá phát triển KTTH trong công nghiệp chế biến thủy hải sản cần xem xét khả năng tận dụng, chế biến và tạo giá trị từ các dòng phụ phẩm, gắn với nguồn nguyên liệu, năng lực chế biến và các điều kiện hỗ trợ.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, trong đó vận dụng kỹ thuật phân tích - tổng hợp và nghiên cứu trường hợp, trên cơ sở dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các bài báo khoa học, báo cáo và tài liệu chính thức của các tổ chức, cơ quan quản lý và các đơn vị có liên quan đến KTTH trong công nghiệp chế biến thủy hải sản nhằm phân tích thực trạng và làm rõ một số trường hợp tận dụng, chế biến phụ phẩm điển hình tại An Giang. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá những kết quả đạt được, xác định các hạn chế và nguyên nhân tương ứng, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp phát triển KTTH trong công nghiệp chế biến thủy hải sản của tỉnh. Phạm vi không gian là tỉnh An Giang sau sắp xếp đơn vị hành chính; dữ liệu trước thời điểm ngày 1/7/2025 được tổng hợp theo địa giới 2 tỉnh cũ là An Giang và Kiên Giang.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng phát triển kinh tế tuần hoàn trong công nghiệp chế biến thủy hải sản tại An Giang

Nguồn nguyên liệu và công nghiệp chế biến thủy hải sản

An Giang có nguồn nguyên liệu thủy hải sản quy mô lớn và đa dạng. Năm 2025, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản của tỉnh đạt trên 1.616,9 nghìn tấn; trong đó tôm nước lợ 155,05 nghìn tấn; cá tra 648,9 nghìn tấn; nuôi nhuyễn thể 102,6 nghìn tấn, cá nuôi lồng trên biển 100 nghìn tấn; cua biển 32,1 nghìn tấn, nuôi cá các loại 320,1 nghìn tấn (Công Mạo, 2025). Quy mô sản xuất này tạo nguồn nguyên liệu đáng kể cho hoạt động chế biến, đồng thời cho thấy tiềm năng hình thành các dòng phụ phẩm có thể được thu hồi và tiếp tục chế biến, đặc biệt từ cá tra và tôm.

Giai đoạn 2026-2030, An Giang tiếp tục định hướng phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến và liên kết chuỗi. Theo đó, Tỉnh này đặt mục tiêu đến năm 2030 sản lượng tôm nước lợ đạt 172 nghìn tấn, cá tra trên 652 nghìn tấn; 70% sản lượng tôm nuôi tham gia chuỗi liên kết và tỷ lệ tôm được chế biến trong tỉnh đạt trên 30% tổng sản lượng (UBND tỉnh An Giang, 2026). Định hướng này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển chế biến và nâng cao giá trị các dòng phụ phẩm từ cá tra và tôm.

Về năng lực chế biến, năm 2025, sản lượng thủy hải sản đông lạnh của Tỉnh đạt hơn 309 nghìn tấn (Thái Nguyên, 2025). Quy mô chế biến này, kết hợp với nguồn nguyên liệu thủy sản lớn và đa dạng, tạo điều kiện hình thành các dòng phụ phẩm tập trung trong quá trình chế biến, đặc biệt đối với cá tra và tôm. Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh tiếp tục định hướng ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất thủy sản, với kế hoạch phát triển 15 vùng nuôi thủy sản và 2 doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao (UBND tỉnh An Giang, 2026). Đây là những điều kiện thuận lợi để tăng cường liên kết giữa vùng nguyên liệu và chế biến, đồng thời thúc đẩy thu hồi, tận dụng và nâng cao giá trị phụ phẩm theo hướng KTTH.

Tận dụng và chế biến phụ phẩm cá tra

Cá tra là nhóm nguyên liệu thể hiện khá rõ hoạt động tạo giá trị từ phụ phẩm tại An Giang. Một số phụ phẩm từ quá trình chế biến cá tra đã được tận dụng để sản xuất các sản phẩm như collagen, gelatin, dầu cá Ranee, da cá sấy và thức ăn chăn nuôi (UBND tỉnh An Giang, 2024). Điều này cho thấy phụ phẩm cá tra đã được khai thác theo nhiều hướng sử dụng và mức độ tạo giá trị khác nhau, từ sản phẩm phục vụ chăn nuôi đến thực phẩm và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Hoạt động tận dụng phụ phẩm cá tra tại An Giang đã hình thành nhiều hướng chế biến với mức độ tạo giá trị khác nhau. Đối với mỡ cá tra, công nghệ tinh luyện được ứng dụng để sản xuất dầu ăn và các sản phẩm như shortening, margarine, qua đó mở rộng hướng sử dụng và nâng cao giá trị của phụ phẩm trong công nghiệp thực phẩm (Nguyễn Thị Kim Hồng và cộng sự, 2020). Đối với da cá tra, công nghệ sinh học được ứng dụng để sản xuất collagen peptide và gelatin, cho thấy khả năng chuyển hóa phụ phẩm thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn (Sở Công Thương An Giang, 2026). Các kết quả này cho thấy việc phát triển KTTH trong chế biến cá tra không chỉ dừng ở thu hồi và tái sử dụng phụ phẩm mà còn gắn với ứng dụng công nghệ để chuyển hóa phụ phẩm thành các sản phẩm có giá trị cao hơn.

Tận dụng và chế biến phụ phẩm tôm

Tôm nước lợ là một trong những nguồn nguyên liệu thủy sản có quy mô đáng kể của An Giang, với sản lượng năm 2025 đạt 155,05 nghìn tấn (Công Mạo, 2025). Cùng với sự gia tăng sản lượng nguyên liệu, hoạt động nuôi tôm quy mô doanh nghiệp tại khu vực Kiên Giang trước sắp xếp cũng phát triển, với sản lượng tôm nuôi của các doanh nghiệp tăng từ 8.693 tấn năm 2020 lên 19.583 tấn năm 2025 (Trung tâm Khuyến nông An Giang, 2025). Quá trình chế biến tôm phát sinh một lượng phụ phẩm đáng kể, chiếm khoảng 40-60% khối lượng nguyên liệu, chủ yếu gồm đầu, vỏ, đuôi và các phần còn lại sau chế biến. Các phụ phẩm này chứa nhiều thành phần có giá trị như protein, chitin, khoáng chất và các hợp chất hoạt tính sinh học, tạo nguồn nguyên liệu cho việc thu hồi và chế biến thành chitin, chitosan, protein và các sản phẩm có giá trị gia tăng khác (Abuzar và cộng sự, 2023). Việc khai thác các thành phần có giá trị từ phụ phẩm tôm vì vậy không chỉ góp phần giảm lượng chất thải phát sinh trong chế biến mà còn tạo cơ sở cho việc hình thành các dòng sản phẩm mới theo hướng KTTH.

Bên cạnh đó, Đào Trung Chánh (2021) phản ánh rằng, chitosan và axit amin chiết xuất từ phụ phẩm ngành tôm đã được sử dụng để sản xuất nhiều loại phân bón phục vụ nông nghiệp. Trong vụ Hè Thu năm 2020, mô hình sử dụng phân hữu cơ chế biến từ phụ phẩm tôm trên cây lúa tại Tri Tôn, An Giang cho thấy khả năng giảm sử dụng phân hóa học, hạn chế phát thải khí nhà kính, giảm chi phí đầu tư và tăng năng suất lúa. Trường hợp này thể hiện sự kết nối giữa phụ phẩm chế biến tôm và sản xuất nông nghiệp, qua đó đưa vật chất từ một chuỗi sản xuất trở thành đầu vào cho chuỗi khác.

Tại khu vực Kiên Giang trước đây (nay thuộc tỉnh An Giang), phụ phẩm tôm đã được khai thác theo hướng chuyển hóa thành các sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đầu tôm được thủy phân để thu nhận axit amin sử dụng cho cây trồng và vật nuôi, trong khi chitosan chiết xuất từ vỏ tôm được ứng dụng trong sản xuất phân bón hữu cơ khoáng (Thùy Trang, 2020). Hoạt động này cho thấy phụ phẩm từ chế biến tôm có thể được chuyển hóa thành nguồn nguyên liệu thứ cấp cho các hoạt động sản xuất khác, qua đó mở rộng giá trị sử dụng của nguyên liệu và tăng cường sự liên kết giữa chế biến thủy sản với sản xuất nông nghiệp theo hướng KTTH.

Điều kiện hỗ trợ phát triển kinh tế tuần hoàn

An Giang đã hình thành nền tảng chính sách cho phát triển KTTH. Kế hoạch số 473/KH-UBND năm 2022 xác định phát triển KTTH gắn với đổi mới sáng tạo, cải thiện năng suất, huy động khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và tăng cường tính gắn kết giữa doanh nghiệp và các ngành kinh tế (UBND tỉnh An Giang, 2022). Địa phương đã lồng ghép nội dung KTTH vào quy hoạch, kế hoạch phát triển và một số chương trình, hoạt động liên quan (UBND tỉnh An Giang, 2024).

Giai đoạn 2026-2030, Chương trình số 206/CTr-UBND tiếp tục định hướng phát triển vùng nguyên liệu, tăng liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ và nâng tỷ lệ chế biến đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh, trong đó có cá tra và tôm (UBND tỉnh An Giang, 2026). Ở cấp quốc gia, Kế hoạch hành động thực hiện KTTH đến năm 2035 nhấn mạnh đổi mới công nghệ, hình thành thị trường cho hàng hóa và dịch vụ liên quan đến KTTH, tăng cường liên kết và phát triển công cụ đo lường, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Các định hướng này tạo cơ sở để địa phương chuyển từ những trường hợp tận dụng phụ phẩm riêng lẻ sang cách tiếp cận có hệ thống hơn.

Đánh giá thực trạng

Kết quả đạt được

An Giang đã hình thành những điều kiện tương đối thuận lợi cho phát triển KTTH trong công nghiệp chế biến thủy hải sản. Quy mô nguyên liệu cá tra và tôm lớn, cùng với năng lực chế biến đã được hình thành, tạo nền tảng cho việc thu hồi và tiếp tục khai thác giá trị từ các phần nguyên liệu sau chế biến. Đây là điều kiện quan trọng để phụ phẩm có thể được xem xét như nguồn nguyên liệu thứ cấp thay vì chỉ là phần còn lại cần xử lý.

Trong chuỗi cá tra, hoạt động tận dụng phụ phẩm đã phát triển theo nhiều hướng và ở các mức độ tạo giá trị khác nhau. Mỡ cá, da cá và các phần nguyên liệu sau phi lê đã được sử dụng để sản xuất dầu ăn, shortening, margarine, collagen, gelatin, bột cá và thức ăn chăn nuôi. Một số sản phẩm đã gắn với doanh nghiệp và dây chuyền chế biến chuyên biệt, cho thấy việc tận dụng phụ phẩm tại An Giang đã từng bước chuyển từ xử lý và sử dụng ở giá trị thấp sang chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Đối với tôm, phụ phẩm cũng bước đầu được chuyển hóa thành chitosan, axit amin và các sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp, qua đó cho thấy khả năng kết nối dòng vật chất giữa chế biến thủy sản với các hoạt động sản xuất khác.

Bên cạnh các hoạt động của doanh nghiệp, hệ thống chính sách và định hướng phát triển của Trung ương và Tỉnh đã tạo nền tảng hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi theo hướng tuần hoàn. Việc KTTH được gắn với đổi mới công nghệ, liên kết chuỗi, nâng cao giá trị sản phẩm và sử dụng hiệu quả tài nguyên tạo điều kiện để các hoạt động tận dụng phụ phẩm hiện có tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới.

Hạn chế và nguyên nhân

Mức độ tạo giá trị từ phụ phẩm chưa đồng đều giữa các dòng nguyên liệu. Đối với cá tra, chế biến sâu và thương mại hóa đã hình thành rõ ở một số sản phẩm như dầu cá, collagen và gelatin; trong khi đối với tôm, hoạt động chế biến phụ phẩm chủ yếu mới dừng ở mức ứng dụng, chuyển giao và tạo sản phẩm phục vụ nông nghiệp. Nguyên nhân nằm ở đặc điểm nguồn nguyên liệu, mức độ tập trung của phụ phẩm và yêu cầu về công nghệ, chất lượng, thị trường của từng loại sản phẩm. Bên cạnh đó, tỷ lệ tôm được chế biến trong Tỉnh còn thấp (mục tiêu đến năm 2030 mới đạt trên 30%) khiến phụ phẩm tôm phát sinh phân tán, khó thu gom đủ khối lượng cho chế biến sâu.

Hoạt động chế biến sâu phụ phẩm hiện mới thể hiện rõ ở một số doanh nghiệp và trường hợp điển hình. Các công nghệ tạo sản phẩm giá trị gia tăng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu ổn định, vốn đầu tư, năng lực công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và thị trường đầu ra - những yêu cầu có thể vượt quá khả năng của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thông tin định lượng về các dòng phụ phẩm còn thiếu tính hệ thống. Hiện chưa có bộ dữ liệu thống nhất ở cấp tỉnh về khối lượng từng loại phụ phẩm, tỷ lệ thu hồi, chất lượng, tính mùa vụ, giá giao dịch và hướng sử dụng. Nguyên nhân là hệ thống thống kê ngành thủy sản chủ yếu tập trung vào diện tích, sản lượng, chế biến và xuất khẩu, trong khi phụ phẩm phát sinh và di chuyển qua nhiều khâu, nhiều chủ thể nên khó tổng hợp.

Chuỗi giá trị của một số sản phẩm từ phụ phẩm chưa được hình thành đồng bộ từ nguồn nguyên liệu đến thị trường cuối cùng. Điều này rõ nhất ở phụ phẩm tôm và các dòng nguyên liệu phân tán, khi các khâu thu gom, bảo quản, chế biến và tiêu thụ chưa được kết nối thành chuỗi ổn định. Nguyên nhân là KTTH mang tính liên ngành, trong khi một doanh nghiệp chế biến thủy sản khó tự đảm nhận mọi khâu từ thu hồi phụ phẩm đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm ở các lĩnh vực khác.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Nâng cao giá trị và đa dạng hóa sản phẩm từ phụ phẩm thủy hải sản

Đối với cá tra, trên nền tảng các sản phẩm đã hình thành như dầu cá, collagen, gelatin, bột cá và thức ăn chăn nuôi, doanh nghiệp cần tiếp tục nâng mức độ tạo giá trị phù hợp với đặc tính từng dòng phụ phẩm. Da cá có thể ưu tiên sản phẩm collagen, gelatin khi đáp ứng yêu cầu về chất lượng và thị trường; mỡ cá tiếp tục được tinh luyện và đa dạng hóa sản phẩm; đầu, xương và các phần còn lại cần lựa chọn hướng chế biến phù hợp với thành phần và giá trị sử dụng. Mở rộng chế biến sâu phải dựa trên hiệu quả kinh tế, quy mô nguyên liệu và khả năng tiêu thụ, không nên đồng nhất KTTH với việc áp dụng công nghệ cao cho mọi loại phụ phẩm.

Đối với tôm, cần chuyển từ các trường hợp ứng dụng riêng lẻ sang phát triển sản phẩm có khả năng thương mại hóa. Trước hết cần xác định những dòng phụ phẩm có thể thu gom ổn định, đặc biệt là đầu và vỏ tôm từ cơ sở chế biến, từ đó lựa chọn hướng sản phẩm phù hợp như chitosan, axit amin, phân bón, chế phẩm sinh học hoặc nguyên liệu trung gian. Các mô hình hiện có cần được đánh giá về chi phí - hiệu quả và khả năng nhân rộng; nghiên cứu mới cần gắn với doanh nghiệp tiếp nhận và nhu cầu thị trường ngay từ đầu.

Nâng cao năng lực và mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp trong chế biến phụ phẩm

Do yêu cầu về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường có thể vượt quá khả năng của nhiều cơ sở chế biến, phát triển KTTH không nên đặt mục tiêu mọi doanh nghiệp đều tự đầu tư toàn bộ dây chuyền chế biến sâu. Doanh nghiệp đủ quy mô và năng lực có thể đầu tư công nghệ để tạo sản phẩm giá trị gia tăng cao; doanh nghiệp nhỏ hơn có thể tham gia thông qua phân loại, sơ chế, bảo quản phụ phẩm theo tiêu chuẩn, ký hợp đồng cung ứng dài hạn hoặc liên kết với cơ sở chuyên môn hóa.

Các chương trình hỗ trợ cần tập trung vào tư vấn, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và thương mại hóa. Cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và các tổ chức khoa học - công nghệ có thể kết nối doanh nghiệp có nguồn phụ phẩm với đơn vị có công nghệ và nhu cầu nguyên liệu, tránh đầu tư trùng lặp.

Hoàn thiện hệ thống thông tin và dữ liệu về phụ phẩm thủy hải sản

Tỉnh cần từng bước hình thành hệ thống thông tin về phụ phẩm theo nhóm nguyên liệu và cơ sở chế biến, theo dõi loại phụ phẩm, khối lượng phát sinh, địa điểm, tính mùa vụ, đặc tính chất lượng, tỷ lệ thu hồi, phương thức bảo quản, hướng sử dụng và giá giao dịch. Chỉ tiêu nào chưa thu thập thường xuyên được thì khảo sát định kỳ tại các cơ sở chế biến chủ lực.

Hệ thống này vừa phục vụ quản lý nhà nước, vừa giúp doanh nghiệp tìm nguồn nguyên liệu thứ cấp, đánh giá quy mô công nghệ và kết nối cung - cầu. Đồng thời, tỉnh có thể bổ sung các chỉ tiêu như tỷ lệ phụ phẩm được thu hồi, được đưa trở lại chuỗi sản xuất và được chế biến thành sản phẩm giá trị gia tăng để theo dõi mức độ phát triển KTTH của ngành.

Hoàn thiện chuỗi giá trị và tăng cường liên kết trong khai thác, chế biến và tiêu thụ phụ phẩm thủy hải sản

Đối với các dòng phụ phẩm chưa hình thành đầy đủ chuỗi giá trị, cần tổ chức liên kết theo toàn bộ quá trình từ phân loại tại nguồn, thu gom, bảo quản hoặc sơ chế, vận chuyển đến chế biến và tiêu thụ. Phụ phẩm cá tra phát sinh tập trung tại nhà máy nên ưu tiên phân loại và chuyển trực tiếp sang dây chuyền chế biến phụ phẩm hoặc cơ sở chuyên môn hóa. Với các dòng nguyên liệu phân tán hơn, có thể nghiên cứu điểm thu gom hoặc sơ chế theo cụm dựa trên khối lượng phát sinh, thời gian bảo quản, khoảng cách vận chuyển và giá trị nguyên liệu.

Liên kết cần được mở rộng từ doanh nghiệp chế biến thủy sản sang đơn vị thu gom, doanh nghiệp chế biến phụ phẩm, cơ sở nghiên cứu - công nghệ và các ngành sử dụng đầu ra như thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, phân bón, mỹ phẩm và vật liệu sinh học. Đồng thời, cần chú trọng tiêu chuẩn sản phẩm, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và xúc tiến thương mại. Thị trường nên được xác định trước hoặc song song với quyết định đầu tư công nghệ để sản phẩm từ phụ phẩm có đầu ra ổn định và chuỗi tuần hoàn có khả năng duy trì về kinh tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Abuzar, Sharif, H. R., Sharif, M. K., Arshad, R., Rehman, A., Ashraf, W., Karim, A., Awan, K. A., Raza, H., Khalid, W., Asar, T. O., & Al-Sameen, M. A. (2023). Potential industrial and nutritional applications of shrimp by-products: A review. International Journal of Food Properties, 26(2), 3407-3432.

2. Cooney, R., de Sousa, D. B., Fernández-Ríos, A., Mellett, S., Rowan, N., Morse, A. P., Hayes, M., Laso, J., Regueiro, L., Wan, A. H. L., & Clifford, E. (2023). A circular economy framework for seafood waste valorisation to meet challenges and opportunities for intensive production and sustainability. Journal of Cleaner Production, 392, Article 136283.

3. Công Mạo (2025). Ngành hàng cá tra hướng đến tăng trưởng bền vững. https://baotintuc.vn/nganh-hang-ca-tra-huong-den-tang-truong-ben-vung-post539052.html

4. Đào Trung Chánh (2021). Khai thác “mỏ vàng” phụ phẩm, chất thải ngành thủy sản. https://nongnghiepmoitruong.vn/khai-thac-mo-vang-phu-pham-chat-thai-nganh-thuy-san-d281320.html

5. Geissdoerfer, M., Savaget, P., Bocken, N. M. P., & Hultink, E. J. (2017). The circular economy - A new sustainability paradigm? Journal of Cleaner Production, 143, 757-768.

6. Kirchherr, J., Reike, D., & Hekkert, M. (2017). Conceptualizing the circular economy: An analysis of 114 definitions. Resources, Conservation and Recycling, 127, 221-232.

7. Nguyễn Thị Kim Hồng, Lương Công Lợi, Trương Vĩnh Thành, Lê Xuân Quế, Bùi Thị Thu Hiền, Phạm Thị Điềm, Lê Kiên Cường, Nguyễn Thanh Bình, Đặng Văn An, Lê Anh Tùng, Hồ Thanh Phương, Trịnh Thị Mỹ Tiên, Trần Thế Bửu và Vũ Phương Lan (2020). Hoàn thiện công nghệ, dây chuyền thiết bị để nâng cao chất lượng dầu ăn và sản xuất shortening, margarine từ mỡ cá tra. Đề tài cấp Quốc gia. Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai, An Giang.

8. Prieto-Sandoval, V., Jaca, C., & Ormazabal, M. (2018). Towards a consensus on the circular economy. Journal of Cleaner Production, 179, 605-615.

9. Sở Công Thương An Giang (2026). Xuất khẩu An Giang: Từ lợi thế tài nguyên đến năng lực cạnh tranh toàn cầu. https://sct.angiang.gov.vn/xuat-khau-an-giang-tu-loi-tai-nguyen-den-nang-luc-canh-tranh-toan-cau-0

10. Thái Nguyên (2025). An Giang: Công nghiệp tăng tốc, mở rộng đường bứt phá năm 2026. Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh An Giang.

11. Thùy Trang (2020). Phát triển mô hình nông nghiệp không chất thải. https://lmhtx.angiang.gov.vn/Trang/TinTuc/ChiTiet.aspx?nid=2215&chuyenmuc=137

12. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện KTTH đến năm 2035.

13. Trung tâm Khuyến nông An Giang (2025). Hội thảo phát triển nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao. https://khuyennongangiang.com.vn/hoi-thao-phat-trien-nuoi-tom-ung-dung-cong-nghe-cao/

14. UBND tỉnh An Giang (2022). Kế hoạch số 473/KH-UBND ngày 18/7/2022 triển khai thực hiện Đề án phát triển KTTH ở Việt Nam của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh An Giang.

15. UBND tỉnh An Giang (2024). Báo cáo số 808/BC-UBND ngày 23/8/2024 về tình hình thực hiện Đề án phát triển KTTH.

16. UBND tỉnh An Giang (2026). Chương trình số 206/CTr-UBND ngày 16/4/2026 về phát triển sản phẩm quốc gia, sản phẩm của tỉnh, mỗi xã một sản phẩm trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2026-2030.

Ngày nhận bài: 7/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 19/10/2026; Ngày duyệt đăng: 28/10/2026

Các tin khác

Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số

Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số

Sự bùng nổ của tự động hóa, học máy và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình bộ phận kế toán từ vận hành thủ công sang chiến lược số hóa.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post

Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post

Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp logistics trong bối cảnh khối lượng giao dịch gia tăng, chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và yêu cầu về tốc độ, độ chính xác của dịch vụ ngày càng cao.
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa

Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa

Trong kinh tế du lịch, các quần thể di sản văn hóa vừa là tài sản cần bảo tồn, vừa là nguồn lực tạo doanh thu và giá trị cho điểm đến.
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai

Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai

Thực hành Kế toán doanh nghiệp đóng vai trò cốt lõi trong việc trang bị năng lực nghề nghiệp, bao gồm các hợp phần: Tin học, soạn thảo văn bản, Excel, khai báo thuế, phần mềm kế toán và chuỗi chứng từ - sổ - báo cáo.
Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam

Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp xanh và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, quản lý sản xuất giống cây trồng là nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng của ngành trồng trọt.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường đã tạo ra áp lực mạnh mẽ, buộc xu hướng tiêu dùng phải chuyển dịch từ thời trang nhanh sang tiêu dùng xanh và phát triển bền vững nhằm bảo vệ môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG.
Lãnh đạo chuyển đổi và cam kết chất lượng dịch vụ: Vai trò trung gian của cam kết tình cảm với thay đổi tại các khách sạn Việt Nam

Lãnh đạo chuyển đổi và cam kết chất lượng dịch vụ: Vai trò trung gian của cam kết tình cảm với thay đổi tại các khách sạn Việt Nam

Mặc dù tác động tích cực của lãnh đạo chuyển đổi tới hiệu suất đã được ghi nhận, song vai trò trung gian của cam kết tình cảm với thay đổi trong việc kết nối phong cách lãnh đạo này với cam kết chất lượng dịch vụ tại ngành khách sạn Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ.
Góc nhìn lý thuyết về động cơ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của nhà quản lý

Góc nhìn lý thuyết về động cơ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của nhà quản lý

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt và phụ thuộc mạnh vào thông tin tài chính, lợi nhuận kế toán là chỉ tiêu then chốt, phản ánh toàn diện kết quả kinh doanh và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Tác động của ứng dụng IoT đến hiệu quả vận hành kho xanh: Vai trò trung gian của năng lực khai thác dữ liệu IoT

Tác động của ứng dụng IoT đến hiệu quả vận hành kho xanh: Vai trò trung gian của năng lực khai thác dữ liệu IoT

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử làm gia tăng đồng thời yêu cầu về tốc độ xử lý đơn hàng, độ chính xác tồn kho, khả năng truy xuất theo thời gian thực và hiệu quả sử dụng năng lượng tại các trung tâm phân phối.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ cho vay tại Vietcombank - Chi nhánh Sóc Trăng

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ cho vay tại Vietcombank - Chi nhánh Sóc Trăng

Sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ cho vay phản ánh chất lượng phục vụ và là cơ sở để ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh.