Phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới: Tiếp cận từ Lý luận kinh tế chính trị Mác – Lênin về thành phần kinh tế
TS. Đặng Thành Chung
Trường Đại học Điện lực
Email: [email protected]
Tóm tắt
Thực tiễn Việt Nam cho thấy khu vực tư nhân đóng góp lớn cho tăng trưởng, ngân sách và việc làm, đồng thời là lực lượng quan trọng trong đầu tư chuyển đổi số giai đoạn 2020 - 2025. Trong kỷ nguyên kinh tế số, chuyển đổi xanh và hội nhập sâu, trên cơ sở vận dụng Lý luận kinh tế chính trị Mác – Lênin về tính tất yếu của kinh tế nhiều thành phần và vai trò điều tiết/định hướng của Nhà nước. Cho thấy, khu vực này vẫn đối mặt các điểm nghẽn về quy mô (chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa), năng suất lao động còn thấp, năng lực công nghệ và tham gia chuỗi giá trị còn hạn chế, tỷ lệ doanh nghiệp có nghiên cứu và phát triển chưa cao. Trên cơ sở kết quả phân tích, bài viết đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm gồm hoàn thiện thể chế và môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng chất lượng nhân lực và liên kết tư nhân – doanh nghiệp nhà nước – doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Đồng thời, cần gắn phát triển kinh tế tư nhân với mục tiêu bền vững (xanh, tuần hoàn, ESG) và nâng hiệu lực quản trị nhà nước nhằm tạo động lực tăng trưởng dài hạn.
Từ khóa: Kinh tế tư nhân, kỷ nguyên mới, kinh tế chính trị, phát triển bền vững, Việt Nam
Summary
In Viet Nam, the private sector has made substantial contributions to economic growth, state budget revenue, and employment, while also playing a pivotal role in digital transformation investment during the 2020-2025 period. In the era of the digital economy, green transformation, and deep international integration, this study draws upon Marxist - Leninist political economy Theory regarding the inevitability of a multi-sector economy and the regulatory and guiding role of the State. The analysis indicates that despite its growing significance, the private sector continues to face structural bottlenecks, including limited scale (with a predominance of small and medium-sized enterprises), low labor productivity, constrained technological capabilities, limited participation in global value chains, and a low proportion of firms engaged in research and development activities. Based on these findings, the paper proposes key policy solutions, including improving institutions and ensuring a level playing field, fostering innovation and digital transformation, enhancing human capital quality, and strengthening linkages among private enterprises, state-owned enterprises, and foreign-invested enterprises (FDI). Furthermore, the development of the private sector should be aligned with sustainability objectives—such as green growth, circular economy principles, and ESG standards—while enhancing state governance effectiveness to create long-term growth momentum.
Keywords: Private sector, new era, political economy, sustainable development, Viet Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kinh tế tư nhân (KTTN) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng góp lớn vào tăng trưởng, việc làm và đổi mới sáng tạo. Bước vào kỷ nguyên kinh tế số, chuyển đổi xanh và hội nhập sâu rộng, yêu cầu phát triển khu vực này càng trở nên cấp thiết, đòi hỏi sự soi chiếu từ nền tảng lý luận khoa học. Kinh tế chính trị Mác - Lênin khẳng định tính tất yếu của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, coi cạnh tranh và động lực lợi ích là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất. Lênin, đặc biệt qua Chính sách kinh tế mới (NEP), nhấn mạnh sự cần thiết của KTTN trong phục hồi và phát triển kinh tế. Vận dụng sáng tạo tư tưởng đó, Đảng ta xác định KTTN là động lực quan trọng của nền kinh tế, song thực tiễn vẫn còn nhiều hạn chế về quy mô, năng suất, năng lực đổi mới và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Do đó, việc tiếp cận phát triển KTTN từ lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin trong bối cảnh thực tiễn mới của đất nước có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bài viết nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất định hướng phát triển KTTN trong kỷ nguyên mới.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân được hiểu là khu vực kinh tế dựa trên quyền sở hữu tư nhân về vốn, tài sản và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các chủ thể như hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (không thuộc sở hữu Nhà nước), hợp tác xã kiểu mới do tư nhân góp vốn chi phối…
Trong nền kinh tế thị trường, phát triển KTTN là quá trình gia tăng cả quy mô (số lượng doanh nghiệp/hộ kinh doanh, vốn, lao động), chất lượng (năng suất, đổi mới sáng tạo, quản trị, khả năng cạnh tranh), và đóng góp (GDP, ngân sách, việc làm, xuất khẩu, liên kết chuỗi giá trị) của khu vực này; đồng thời mở rộng mức độ tham gia của KTTN vào các ngành/lĩnh vực và mạng lưới thị trường trong nước và quốc tế.
Về mặt lý thuyết, KTTN thường được xem là "động lực vi mô" thúc đẩy tăng trưởng nhờ cơ chế khuyến khích lợi nhuận, tính linh hoạt, khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả và đổi mới. Tuy nhiên mức độ đóng góp phụ thuộc mạnh vào chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh (bảo đảm quyền tài sản, thực thi hợp đồng, chi phí tuân thủ, cạnh tranh bình đẳng, tiếp cận vốn/đất đai/thông tin). Do đó, phát triển KTTN không chỉ là tăng số lượng chủ thể mà còn là nâng cấp năng lực nội tại và tạo lập hệ sinh thái chính sách thị trường thuận lợi để khu vực tư nhân phát triển bền vững và lan tỏa sang các khu vực khác của nền kinh tế.
Cơ sở lý luận Mác – Lênin về thành phần kinh tế
Theo kinh tế chính trị Mác - Lênin, sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, bắt nguồn từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. C. Mác chỉ rõ rằng "quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất" (C. Mác - Ph. Ăngghen, 1993, tr.13), do đó ở những xã hội chưa phát triển cao, sự đa dạng của các hình thức sở hữu, từ sở hữu nhỏ, sở hữu tư nhân đến các hình thức hợp tác, là hiện tượng tự nhiên, phản ánh đúng quy luật phát triển của kinh tế hàng hóa. Đồng thời, C. Mác nhấn mạnh vai trò thúc đẩy của cạnh tranh, coi đó là "động lực mạnh mẽ của sản xuất tư bản chủ nghĩa" (C. Mác - Ph. Ăngghen, 2002, tr.23), cho thấy ngay cả khi phê phán chủ nghĩa tư bản, ông vẫn thừa nhận yếu tố tiến bộ của KTTN trong phát triển lực lượng sản xuất.
V.I. Lênin đã kế thừa và phát triển lý luận của Mác khi phân tích tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ tại các nước có trình độ phát triển thấp. Trong Chính sách kinh tế mới (NEP), Lênin chỉ rõ rằng các hình thức kinh tế như kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế hàng hóa nhỏ, kinh tế hỗn hợp hay "chủ nghĩa tư bản nhà nước" không phải là bước thụt lùi, mà là biện pháp khoa học nhằm khơi thông sản xuất, huy động nguồn lực xã hội, phát triển lực lượng sản xuất và tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Theo Lênin, điều cốt lõi là Nhà nước vô sản phải nắm vai trò điều tiết, quản lý, định hướng để bảo đảm sự phát triển của các thành phần kinh tế không đi chệch khỏi con đường xã hội chủ nghĩa (V.I. Lênin, 2006).
Có thể thấy, lý luận của Mác và Lênin đều xác nhận tính lâu dài và tất yếu của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ. Đây cũng chính là tư duy nền tảng khẳng định "phát triển KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Sự khẳng định này không chỉ phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, mà còn cho thấy quan điểm nhất quán của Đảng ta về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc phát triển hài hòa, đúng hướng các thành phần kinh tế, trong đó có KTTN, là yêu cầu khách quan nhằm phát huy mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước (Bộ Chính trị, 2025)
THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
Hiện nay, khu vực KTTN đóng góp khoảng 51% GDP, tạo hơn 30% nguồn thu ngân sách nhà nước, huy động gần 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, và tạo việc làm cho trên 40 triệu lao động (khoảng 82% lực lượng lao động) (Nguyễn Sĩ Dũng, 2025). Đồng thời, khu vực tư nhân hiện có gần một triệu doanh nghiệp cùng khoảng 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, phản ánh độ phủ rộng và sức lan tỏa lớn của khu vực trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Đến cuối năm 2025, quy mô cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục tăng, với tổng số doanh nghiệp đang hoạt động được nêu đạt gần 1,1 triệu, củng cố thêm vai trò "trụ cột" của khu vực doanh nghiệp trong bối cảnh phát triển mới.
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, xanh hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và yêu cầu năng suất cao hơn, KTTN ở Việt Nam vừa thể hiện vai trò trụ cột, vừa bộc lộ những "điểm nghẽn" phát triển theo chiều sâu. Giai đoạn 2020–2025 cho thấy, KTTN ở Việt Nam vận động theo "đường cong sốc – phục hồi – tái tăng tốc", đồng thời bộc lộ rõ bài toán phát triển theo chiều sâu trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu xanh hóa và cạnh tranh chuỗi cung ứng.
Năm 2020, cú sốc COVID-19 khiến cầu tiêu dùng và dòng tiền doanh nghiệp suy giảm, nhưng động lực khởi sự vẫn đáng kể, Việt Nam ghi nhận gần 135.000 doanh nghiệp đăng ký mới trong năm 2020 (VietnamPlus, 2021). Năm 2021, làn sóng dịch và giãn cách kéo dài làm gia tăng chi phí tuân thủ, đứt gãy lao động–logistics, khiến sức chịu đựng của khu vực nhỏ và siêu nhỏ bị thử thách; số liệu 9 tháng đầu năm 2021 cho thấy doanh nghiệp đăng ký mới giảm so với cùng kỳ, phản ánh mức độ giảm sút và trì hoãn đầu tư trong khu vực tư nhân. Từ 2022 đến 2023, bức tranh chuyển sang phục hồi nhưng không đồng đều. Khi nền kinh tế mở cửa và cầu thế giới dần cải thiện, nhiều doanh nghiệp tư nhân tận dụng số hóa kênh bán hàng, thương mại điện tử và dịch vụ giao vận để phục hồi doanh thu. Tuy vậy, giai đoạn này cũng chịu sức ép lãi suất, thị trường vốn và bất động sản trầm lắng, khiến doanh nghiệp tư nhân (đặc biệt nhóm vừa và nhỏ) gặp khó trong tiếp cận tín dụng trung dài hạn, tái cơ cấu nợ và duy trì dòng tiền. Độ "mỏng" về quản trị, minh bạch tài chính và năng lực hấp thụ công nghệ làm khoảng cách giữa nhóm doanh nghiệp dẫn dắt và nhóm còn lại nới rộng, kéo theo năng suất tăng chậm và mức độ tham gia chuỗi giá trị còn hạn chế. Năm 2024–2025 là giai đoạn tái tăng tốc rõ hơn, gắn với phục hồi vĩ mô và các tín hiệu cải cách thúc đẩy khu vực tư nhân. Năm 2024, kinh tế tăng trưởng mạnh tạo nền cho cầu nội địa và hoạt động sản xuất - xuất khẩu phục hồi. Đồng thời, năm 2024 có 76.179 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, góp phần củng cố khu vực tư nhân. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính chung năm 2025, cả nước có 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.919,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.151,4 nghìn lao động (Ngô Hoàn, 2026).
Ở bình diện cấu trúc, các tổng hợp công bố năm 2025 cho thấy khu vực tư nhân (kèm hộ kinh doanh) đã trở thành "trụ cột" khi đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% thu ngân sách nhà nước, sử dụng hơn 40 triệu lao động và chiếm khoảng 82% lực lượng lao động, cùng gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội. Tuy nhiên, rủi ro "phát triển lệch" cũng nổi lên, định hướng tạo "doanh nghiệp đầu đàn" theo các chính sách thúc đẩy mới có thể làm gia tăng lo ngại về thiên lệch ưu đãi, tập trung tín dụng và minh bạch cạnh tranh nếu thiếu cơ chế giám sát phù hợp.
Tóm lại, giai đoạn 2020-2025 khẳng định KTTN lớn mạnh về quy mô và vai trò, nhưng yêu cầu giai đoạn tới là chuyển từ "nhiều về lượng" sang "mạnh về chất" tạo nền tảng tăng năng suất, đổi mới, quản trị chuẩn mực và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn xanh - số để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Thực tiễn trên cho thấy khu vực KTTN đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản mô hình phát triển để đáp ứng bối cảnh kỷ nguyên mới. Điều này đòi hỏi việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao vai trò của Nhà nước kiến tạo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết các chủ thể kinh tế, bảo đảm khu vực tư nhân phát triển đúng hướng, bền vững, phù hợp mục tiêu phát triển đất nước mà Đảng đã xác định trong Văn kiện Đại hội XIII.
THẢO LUẬN KẾT QUẢ
Từ những phân tích lý luận và thực tiễn nêu trên, việc phát triển KTTN trong kỷ nguyên mới cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước mà Đảng đã xác định, đồng thời vận dụng sáng tạo các luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, cụ thể:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đồng bộ, hiện đại, minh bạch; đặc biệt chú trọng cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, xóa bỏ các rào cản bất hợp lý và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Những yêu cầu này phù hợp với định hướng của Văn kiện Đại hội XIII về xây dựng "môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, an toàn, minh bạch", tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát triển lành mạnh, bền vững.
Hai là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong khu vực tư nhân. Nhà nước cần thiết kế các cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn như ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D), quỹ đầu tư mạo hiểm công - tư, các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số, cũng như mô hình sandbox cho các mô hình kinh doanh mới. Điều này sẽ giúp khu vực tư nhân bắt kịp các xu thế công nghệ toàn cầu, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Đây cũng là cách để phát huy đúng tinh thần của Mác về vai trò của đổi mới công nghệ đối với phát triển lực lượng sản xuất, và tư tưởng của Lênin về việc sử dụng các yếu tố kinh tế tiên tiến nhằm thúc đẩy phát triển quốc gia.
Ba là, xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực số, nhân lực quản trị và nhân lực kỹ thuật cao. Nhà nước cần tăng cường kết nối giữa hệ thống giáo dục - đào tạo với doanh nghiệp tư nhân; đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, kỹ năng quản lý hiện đại; mở rộng các chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp. Đồng thời, cần có chính sách thu hút và giữ chân nhân tài trong khu vực tư nhân, tạo điều kiện hình thành đội ngũ doanh nhân có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc tế, phù hợp với định hướng của Đảng về "xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).
Bốn là, tăng cường liên kết giữa khu vực KTTN với doanh nghiệp nhà nước, khu vực FDI và các tổ chức khoa học, công nghệ. Thông qua các chương trình hợp tác chuỗi giá trị, liên kết sản xuất, tiêu thụ, chuyển giao công nghệ, khu vực tư nhân có thể nâng cao năng lực, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, điều phối và hỗ trợ thông qua các cơ chế hợp tác công - tư (PPP), các trung tâm đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia.
Năm là, cần gắn với yêu cầu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội. Nhà nước cần khuyến khích doanh nghiệp tư nhân áp dụng mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thực hiện các tiêu chuẩn ESG; đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường để bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Điều này phù hợp với cảnh báo của Mác về hệ quả tiêu cực của phát triển tư bản chủ nghĩa nếu không có sự điều tiết xã hội, và với quan điểm của Đảng về "phát triển nhanh gắn với bền vững".
Sáu là, tiếp tục nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, thúc đẩy kỷ luật, kỷ cương hành chính, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lợi ích nhóm và tạo dựng niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức đại diện doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề trong phản biện chính sách, hỗ trợ kết nối thị trường và nâng cao năng lực cho doanh nghiệp tư nhân. Đây là những điều kiện bảo đảm để khu vực KTTN phát triển đúng hướng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như Đảng đã nhiều lần khẳng định trong các văn kiện quan trọng.
KẾT LUẬN
Phát triển KTTN trong kỷ nguyên mới vừa là yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới, vừa là sự vận dụng sáng tạo các luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn hơn 30 năm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cho thấy khu vực tư nhân ngày càng giữ vị trí quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, để khu vực này phát triển đúng hướng, tương xứng với tiềm năng và đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường liên kết và phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Báo cáo năng suất lao động Việt Nam.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Báo cáo phát triển doanh nghiệp Việt Nam
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia.
5. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993). Toàn tập, Tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia.
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (2002). Toàn tập, Tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Nguyễn Sĩ Dũng (2025). Thông điệp của Tổng Bí Thư về phát triển kinh tế tư nhân: Tư duy và tầm nhìn chiến lược. https://baochinhphu.vn/thong-diep-cua-tong-bi-thu-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-tu-duy-va-tam-nhin-chien-luoc-102250319134003758.htm.
9. Ngô Hoàn (2026). Infographic: 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới năm 2025. https://tapchikinhtetaichinh.vn/infographic-1951-nghin-doanh-nghiep-dang-ky-thanh-lap-moi-nam-2025-141907.html.
10. V.I. Lênin (2006). Toàn tập, Tập 44 - 45. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
11. VietnamPlus (2021). Năm 2020, cả nước có gần 135.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. https://www.vietnamplus.vn/nam-2020-ca-nuoc-co-gan-135000-doanh-nghiep-dang-ky-thanh-lap-moi-post687599.vnp.
| Ngày nhận bài: 19/01/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 01/3/2026; Ngày duyệt đăng: 04/3/2026 |
Các tin khác
Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam
Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội
Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội
Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong bối cảnh số hóa quản lý thuế: Bằng chứng từ Đồng Nai
Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ