Phát huy động lực tăng trưởng trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
PGS, TS. Võ Hữu Phước
Trưởng khoa Kinh tế - Xã hội và Môi trường - Học viện Chính trị khu vực II
PGS, TS. Nguyễn Tấn Vinh
Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II
TS. Lê Quang Thông
Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam đứng trước “Kỷ nguyên vươn mình”, khát vọng thịnh vượng vào năm 2045, đặt ra yêu cầu chuyển dịch trong tư duy phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết trình bày quan điểm của Đảng về động lực tăng trưởng mới trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, khái quát thực trạng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp liên quan.
Từ khóa: Động lực tăng trưởng, nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo
Summary
In the context of globalization and the Fourth Industrial Revolution, Viet Nam is entering a “new era of advancement” with aspirations for prosperity by 2045, which requires a shift in the development mindset of the Communist Party of Viet Nam. This article presents the Party’s perspectives on new growth drivers based on science, technology, and innovation. It also reviews the current state of science, technology, and innovation development in Viet Nam, thereby proposing several related policy solutions.
Keywords: Growth drivers, science and technology foundation, innovation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào truyền thống theo chiều rộng: thâm dụng lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên thô và mở rộng tín dụng đầu tư. Đối với mô hình thâm dụng lao động giá rẻ: Lợi thế này đang mất dần khi mức sống tăng lên, chi phí nhân công không còn cạnh tranh so với các quốc gia mới nổi khác (như Bangladesh hay Ấn Độ) và đặc biệt là xu hướng già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Đối với mô hình thâm dụng tài nguyên và đất đai: Dư địa tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên và đất đai ngày càng thu hẹp, đồng thời gây ra những hệ lụy lớn về môi trường và biến đổi khí hậu. Đối với mô hình thâm dụng vốn: Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) vẫn ở mức cao, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế chưa thực sự tối ưu. Theo Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), năng suất lao động có tốc độ tăng trưởng bình quân 5,3%/năm (giai đoạn 2023-2024), nhưng xét về giá trị tuyệt đối vẫn còn khoảng cách rất lớn so với các nước trong khu vực. Theo Báo cáo năng suất lao động Việt Nam của Tổng cục Thống kê, nay là Cục Thống kê (2024), năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 11,2% so với Singapore, 60% so với Thái Lan và 52,8% so với Malaysia. Nếu tiếp tục duy trì mô hình tăng trưởng dựa trên gia công, lắp ráp và thâm dụng tài nguyên, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu xa hơn và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.
Bối cảnh quốc tế với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang tái định hình lại chuỗi giá trị toàn cầu. Động lực tăng trưởng và bứt phá của các quốc gia trên thế giới nằm ở sự cạnh tranh gay gắt về công nghệ lõi như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và các yêu cầu khắt khe về chuyển đổi xanh (Net Zero). Bối cảnh này đặt ra những thách thức sống còn nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam đi tắt đón đầu. Do đó, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả của khoa học công nghệ, trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI TRÊN NỀN TẢNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Điểm đột phá trong tư duy của Dự thảo đại hội XIV
Nghiên cứu các Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV (sau đây gọi tắt Dự thảo văn kiện), đặc biệt là Báo cáo Chính trị và Báo cáo Kinh tế - Xã hội, cho thấy một sự chuyển dịch mang tính cách mạng trong tư duy phát triển của Đảng. Điểm cốt lõi của sự chuyển dịch này là việc định vị lại vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST).
Theo Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đảng ta xác định: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy KHCN&ĐMST và chuyển đổi số làm động lực chính”.
Sự thay đổi từ việc mới chỉ đóng khung, định hình KHCN là “quốc sách hàng đầu” (định hướng chính sách) tiến lên một bước cụ thể hơn với sự xác định “động lực chính” (yếu tố cấu thành tăng trưởng) mang tính chất quyết định quan trọng đối với đóng góp của KHCN&ĐMST vào tăng trưởng. Điều này khẳng định rằng trong giai đoạn tới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ phụ thuộc chủ yếu vào TFP - thước đo hiệu quả của việc sử dụng vốn và lao động nhờ vào tiến bộ công nghệ và kỹ năng quản trị. Tư duy đổi mới sẽ đặt nền móng cho việc tái cơ cấu toàn bộ hệ thống chính sách, từ phân bổ ngân sách, xây dựng pháp luật đến phát triển nguồn nhân lực, nhằm tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho việc nâng cao năng lực công nghệ nội sinh và khả năng hấp thụ công nghệ tiên tiến của thế giới.
Nội hàm mới của công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV đã làm rõ và bổ sung nội hàm mới cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không đơn thuần từ nông nghiệp sang công nghiệp hay phát triển các ngành gia công, lắp ráp mà CNH-HĐH trong giai đoạn mới là phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử, các ngành công nghiệp chiến lược được nêu cụ thể trong văn kiện Đảng cấp cao nhất, thay vì các định hướng chung chung. Các ngành này bao gồm: (1) Công nghiệp bán dẫn, được coi là “hạt nhân” của kỷ nguyên số, nền tảng của mọi thiết bị điện tử; (2) Trí tuệ nhân tạo (AI), là công nghệ tạo ra sự đột phá về năng suất lao động trong mọi lĩnh vực; (3) Công nghiệp năng lượng mới, bao gồm: năng lượng tái tạo (điện gió ngoài khơi) và điện hạt nhân thế hệ mới, đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển bền vững; (4) Công nghiệp sinh học và công nghiệp dược, đảm bảo an ninh y tế và phát triển nông nghiệp hiện đại. Việc nêu cụ thể các ngành thể hiện tư duy “quản lý theo mục tiêu” rõ ràng của Đảng, cho phép tập trung nguồn lực quốc gia vào các mũi nhọn có khả năng tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ nhất.
Khung chiến lược “Bốn chuyển đổi”
Để hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới, Dự thảo Báo cáo Chính trị đề ra khung định hướng “4 bước chuyển đổi” đồng bộ, tạo nên sự cộng hưởng sức mạnh, đó là: (i) Chuyển đổi số; (ii) Chuyển đổi xanh; (iii) Chuyển đổi năng lượng; (iv) Chuyển đổi nguồn nhân lực. Khung chiến lược này cho thấy, sự nhìn nhận toàn diện của Đảng, coi công nghệ (số) là công cụ, môi trường (xanh) là mục tiêu bền vững, năng lượng là nền tảng vật chất và con người là chủ thể sáng tạo.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Những thành tựu bước đầu
Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện năng lực ĐMST, tạo đà cho giai đoạn bứt phá. Các đánh giá và các báo cáo của quốc tế cho thấy:
- Về chỉ số đổi mới sáng tạo (GII): Báo cáo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) năm 2024, Việt Nam xếp thứ 44/133 quốc gia và nền kinh tế. Đáng chú ý, Việt Nam liên tục được WIPO đánh giá là quốc gia có thành tích vượt trội về ĐMST so với mức độ phát triển kinh tế (innovation overperformer) trong nhiều năm liên tiếp. Việt Nam đứng đầu thế giới ở 3 chỉ số: nhập khẩu công nghệ cao, xuất khẩu công nghệ cao và xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Đây là bộ chỉ số vẽ nên bức tranh về mức độ hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu của Việt Nam.
- Về kinh tế số: Đây là điểm sáng nổi bật của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân 9%-10%/năm. Báo cáo e-Conomy SEA 2025 của Google, Temasek và Bain & Company cho thấy, quy mô kinh tế số Việt Nam dự kiến đạt 39 tỷ USD vào năm 2025, đóng góp khoảng 14%-15% GDP. Hạ tầng số phát triển mạnh với mạng lưới 4G/5G và cáp quang phủ rộng, cùng với tỷ lệ người dùng Internet và smartphone cao, tạo thị trường nội địa hấp dẫn cho các sản phẩm công nghệ.
- Về hệ sinh thái khởi nghiệp: Việt Nam hiện có khoảng 4.000 startup, với các kỳ lân công nghệ đã khẳng định tên tuổi, như: MoMo, Sky Mavis, VNG... Dòng vốn đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam duy trì ở mức tích cực, đạt hơn 500 triệu USD trong năm 2024 (Google, Temasek và Bain & Company, 2025), đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm khởi nghiệp sôi động nhất khu vực.
Nhận diện các điểm nghẽn cơ bản
Mặc dù có những thành tựu đáng khích lệ, nền tảng KHCN của Việt Nam vẫn đối mặt với những “điểm nghẽn” tạo thành nút cổ chai cản trở khả năng duy trì tăng trưởng trong dài hạn.
Thứ nhất, điểm nghẽn về thể chế và cơ chế thử nghiệm: Hệ thống pháp luật hiện hành chưa theo kịp tốc độ phát triển “nóng” của công nghệ. Các mô hình kinh doanh mới (Fintech, kinh tế chia sẻ, tài sản số...) thường vấp phải rào cản pháp lý hoặc rơi vào vùng “xám” do thiếu quy định. Cơ chế quản lý tài chính cho KHCN sử dụng ngân sách nhà nước còn nặng tính hành chính, yêu cầu hóa đơn chứng từ phức tạp và đặc biệt là tư duy “bảo toàn vốn”, chưa chấp nhận rủi ro. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ĐMST, rủi ro là đặc tính cố hữu. Việc thiếu vắng khung pháp lý cho cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đa ngành đang kìm hãm sự bứt phá của các startup công nghệ, khiến nhiều doanh nghiệp Việt phải ra nước ngoài gọi vốn.
Thứ hai, mức chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) thấp: Tổng chi tiêu xã hội cho R&D của Việt Nam tính đến hết 2023 mới chỉ đạt khoảng 0,4%-0,5% GDP. Con số này thấp hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (2,62%) và các nước trong khu vực như Trung Quốc (2,54%), Thái Lan (1,3%), Malaysia (1%) và Singapore (1,9%) (World Bank, 2024). Tỷ lệ đầu tư từ khu vực doanh nghiệp cho R&D còn khiêm tốn, phần lớn vẫn dựa vào ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp FDI, trong khi năng lực R&D nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam (trừ một số tập đoàn lớn) còn yếu.
Thứ ba, năng suất lao động và nhân lực chất lượng cao: Mặc dù năng suất lao động tăng bình quân 5,3%/năm, nhưng mức tăng này chưa đủ để thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ bằng 11,2% Singapore (thấp hơn gần 10 lần), 60% Thái Lan và 52,8% Malaysia (Tổng cục Thống kê, 2024). Sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ lõi (bán dẫn, AI) đang là rào cản lớn nhất. Dự báo Việt Nam cần 50.000 kỹ sư bán dẫn đến năm 2030, nhưng hiện tại mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ. Các trường đại học đối mặt với thách thức lớn về thiếu giảng viên trình độ cao, thiếu cơ sở vật chất phòng lab hiện đại và chương trình đào tạo chưa sát với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Từ việc nghiên cứu quan điểm của Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp chiến lược sau nhằm phát huy động lực tăng trưởng trên nền tảng KHCN&ĐMST:
Giải pháp hoàn thiện Luật Công nghiệp công nghệ số với cơ chế đột phá về “Sandbox”
Để Nhà nước thực sự chuyển từ vai trò “quản lý” sang “kiến tạo”, trở thành “bà đỡ” cho ĐMST, cần hoàn thiện đồng bộ các thể chế, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển KHCN&ĐMST sau:
- Xây dựng hệ thống thể chế đồng bộ cho cơ chế Sandbox: Mặc dù cơ chế thử nghiệm (Sandbox) đã được nâng tầm thành quy định theo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (năm 2025), nhưng cần cụ thể hóa các nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát áp dụng riêng cho Công nghiệp bán dẫn, AI, Kinh tế tuần hoàn, Fintech, Y tế số, Giáo dục số... và các mô hình kinh doanh mới khác.
- Tạo cơ chế xây dựng mô hình “Sandbox lồng nhau” (nested sandbox): Mô hình này bao gồm 3 tầng để quản trị rủi ro linh hoạt: (1) Tầng ngành, là tầng thử nghiệm trong phạm vi hẹp của từng ngành (ví dụ: Ngân hàng Nhà nước quản lý Fintech); (2) Tầng liên ngành, là tầng thử nghiệm các mô hình lai ghép, cần sự phối hợp liên bộ; (3) Tầng quốc gia, là tầng thử nghiệm các chính sách đột phá tại các đặc khu hoặc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), cho phép miễn trừ một số quy định luật định.
- Về tư duy quản lý: Chuyển hướng mạnh mẽ từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cho phép doanh nghiệp thực hiện những gì pháp luật không cấm, đồng thời sử dụng công nghệ để giám sát rủi ro theo thời gian thực (RegTech).
- Xây dựng hành lang pháp lý cho tài sản số: Sớm ban hành khung pháp lý quản lý tài sản ảo, tiền kỹ thuật số để khơi thông nguồn lực tài chính mới, bảo vệ nhà đầu tư và chống rửa tiền, phù hợp với xu hướng quốc tế.
- Cải cách thủ tục hành chính trong KHCN: Chấp nhận nguyên tắc “khoán chi” đến sản phẩm cuối cùng và “chấp nhận rủi ro” trong nghiên cứu khoa học sử dụng ngân sách nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia. Việc thực hiện hóa quan điểm này phải thể hiện bằng hệ thống pháp lý để đảm bảo quyền lợi của các nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà nước, nhà trường khi thực hiện cơ chế “chấp nhận rủi ro”. Đồng thời, hoàn thiện thể chế chính là gỡ bỏ các rào cản hành chính để nhà khoa học được tự chủ tối đa.
Giải pháp về phát triển lực lượng doanh nghiệp với chiến lược “Sếu đầu đàn”
Thứ nhất, doanh nghiệp phải là trung tâm của hệ thống ĐMST quốc gia vì vậy, cần tập trung xây dựng đội ngũ doanh nhân yêu nước, đứng đầu các doanh nghiệp dân tộc đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị. Để phát triển doanh nghiệp “Sếu đầu đàn” cần xây dựng hệ thống giải pháp thiết thực. Dự thảo văn kiện khẳng định kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng nhất”. Điều này cần hiện thực hóa qua việc thiết lập hệ thống chính sách đặc thù (về đất đai, thuế, tín dụng, đơn hàng từ khu vực công...) để nuôi dưỡng các tập đoàn kinh tế nhân lớn (có thể là FPT, Thaco, Vingroup, Hòa Phát...) trở thành các “Sếu đầu đàn”. Ngược lại, các doanh nghiệp này sẽ đóng vai trò người mua công nghệ, đặt hàng R&D và dẫn dắt các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi cung ứng, tạo nên hệ sinh thái công nghiệp tự chủ và giảm phụ thuộc vào FDI.
Thứ hai, xây dựng hệ thống thể chế và chính sách để mô hình hợp tác “Ba nhà” đi vào hiệu quả. Muốn đạt được mục tiêu này, hệ thống thể chế và chính sách cần tạo ra các điều kiện để thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước - Nhà trường (viện nghiên cứu) - Doanh nghiệp. Trong mô hình này, doanh nghiệp đặt hàng đầu ra và đầu tư vốn; Nhà trường đào tạo nhân lực và nghiên cứu giải pháp; Nhà nước hỗ trợ cơ chế chính sách và vốn mồi (seed funding). Thiết lập cơ chế khuyến khích thành lập các trung tâm R&D của doanh nghiệp ngay trong các trường đại học (ví dụ như mô hình hợp tác của FPT, Viettel với các đại học lớn) nhằm tận dụng trí tuệ của giảng viên, sinh viên, rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Giải pháp đột phá về nguồn nhân lực với chiến lược “Chiêu hiền đãi sĩ”
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, nhân tài là tài sản quý giá nhất, đó không chỉ là nhận thức riêng của một quốc gia, mà hiện nay, cuộc chiến giành nhân tài đang diễn ra khốc liệt trên toàn cầu. Điều này đặt ra yêu cầu về xây dựng chính sách Visa nhân tài (Talent Visa), chính sách này hướng đến mục tiêu thực thi hiệu quả Nghị định số 221/2025/NĐ-CP ngày 8/8/2025 của Chính phủ quy định về việc miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội về miễn thị thực có thời hạn cho chuyên gia, nhà khoa học, nhà đầu tư chiến lược. Từ bài học kinh nghiệm của Singapore (Tech.Pass) và Hàn Quốc (K-Star Visa), Việt Nam cần cấp thị thực dài hạn (5-10 năm), cho phép chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài được mua nhà, bảo lãnh người thân và làm việc linh hoạt cho nhiều chủ lao động.
Ngoài ra, hệ thống giáo dục cần tập trung nguồn lực nhiều hơn cho đào tạo STEM và chuyển đổi kỹ năng: Cần đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học theo định hướng của Dự thảo văn kiện . Cùng lúc và ngay lập tức, cần phổ cập đào tạo kỹ năng số, lập trình, tư duy AI từ bậc phổ thông và thiết lập liên kết với các tập đoàn công nghệ lớn (ví dụ như Synopsys, Cadence, Samsung) để đào tạo kỹ sư thực hành theo chuẩn quốc tế, giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực bán dẫn.
Giải pháp về hạ tầng chiến lược và tài chính cho KHCN
Để thực sự thúc đẩy sự phát triển của KHCN&ĐMST và khiến động lực tăng trưởng này đóng góp vào giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế, nhiệm vụ của Đại hội XIV phải thực hiện sớm và ngay việc phát triển hạ tầng số và dữ liệu. Các trung tâm dữ liệu số cần được đẩy nhanh tiến độ xây dựng cùng với hình thành hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC) phục vụ AI (như dự án AI Factory của FPT và NVIDIA). Thể chế cần thể hiện khẳng định dữ liệu là tài nguyên quốc gia bằng luật hóa việc chia sẻ và khai thác hiệu quả dữ liệu. Hạ tầng công nghệ đòi hỏi phải phủ sóng 5G toàn quốc (đặc biệt là mạng 5G SA do Viettel tiên phong) và chuẩn bị năng lực nghiên cứu cho 6G.
Về cơ chế tài chính, cần hình thành ngay và sớm các Quỹ đầu tư mạo hiểm: Triển khai hiệu quả Nghị định số 264/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương tạo ra cú hích lịch sử, cho phép vốn ngân sách nhà nước tham gia đầu tư mạo hiểm cùng với tư nhân theo nguyên tắc “đầu tư công, quản trị tư”, chấp nhận rủi ro để dẫn dắt thị trường vốn. Đồng thời, cơ chế này cũng khuyến khích các địa phương và tập đoàn tư nhân thành lập các quỹ đầu tư khởi nghiệp để đa dạng hóa nguồn lực.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Dự thảo Báo cáo đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.
5. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
6. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025). Báo cáo tình hình phát triển kinh tế số Việt Nam.
7. Chính phủ (2025). Nghị định số 264/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương.
8. Google, Temasek và Bain & Company (2025). Báo cáo e-Conomy SEA 2025.
9. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) (2024). Global Innovation Index 2024.
10. Tổng cục Thống kê (2024). Báo cáo năng suất lao động Việt Nam.
11. World Bank (2024). Data on Research and development expenditure (% of GDP).
| Ngày nhận bài: 6/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/12/2025; Ngày duyệt đăng: 25/12/2025 |
Các tin khác
Công nghệ thông tin và năng suất lao động trong khu vực công: Phân tích thực nghiệm tại TP. Hải Phòng
Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn: Đề xuất mô hình nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk
Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota
Tác động của các loại hình văn hóa tổ chức đến cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt: Cách tiếp cận từ mô hình PLS - SEM tại Việt Nam
Tác động của vốn trí tuệ đến hành vi đổi mới sáng tạo của nhân viên: Tổng quan lý thuyết và định hướng mô hình nghiên cứu
Định hướng ESG và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam: Tiếp cận hồi quy Bayes
Phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với phát triển du lịch bền vững tại Đặc khu Phú Quốc tỉnh An Giang
Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam chi nhánh Bình Dương
Kinh nghiệm phát huy các nhân tố tác động đến kinh tế số ở một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam