Pháp luật về ưu đãi thuế nhằm thúc đẩy giảm phát thải carbon của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
TS. Nguyễn Thị Mai Dung
Khoa Luật, Học viện Ngân hàng
Tóm tắt
Trong bối cảnh phát triển bền vững và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện chính sách, pháp luật về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, phát triển thị trường carbon và thúc đẩy chuyển đổi xanh trong khu vực doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhưng còn hạn chế về vốn, công nghệ và năng lực quản trị khi tham gia quá trình giảm phát thải carbon. Vì vậy, ưu đãi thuế được xem là công cụ tài chính cần thiết nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả và áp dụng mô hình sản xuất bền vững. Bài viết phân tích quy định pháp luật hiện hành về ưu đãi thuế liên quan đến giảm phát thải carbon của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam; đánh giá kết quả, hạn chế trong thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng chuyên biệt, minh bạch và phù hợp hơn với đặc thù của khu vực doanh nghiệp này.
Từ khóa: Ưu đãi thuế, giảm phát thải carbon, doanh nghiệp nhỏ và vừa, pháp luật thuế
Abstract
In the context of sustainable development and the commitment to achieving net-zero emissions by 2050, Viet Nam is gradually improving its policies and legal framework on greenhouse gas emission reduction, carbon market development, and green transition in the business sector. Small and medium-sized enterprises play a vital role in the economy but face significant constraints in capital, technology, and managerial capacity when participating in efforts to reduce carbon emissions. Therefore, tax incentives are considered an essential financial instrument to encourage enterprises to invest in clean technologies, improve energy efficiency, and adopt sustainable production models. This article analyzes the current legal regulations on tax incentives for carbon emission reduction for small and medium-sized enterprises in Viet Nam, evaluates their implementation achievements and limitations, and proposes several recommendations to improve the legal framework in a more specialized, transparent, and small- and medium-sized enterprise-oriented manner.
Keywords: Tax incentives, carbon emission reduction, small and medium-sized enterprises, tax law
ĐẶT VẤN ĐỀ
Biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức toàn cầu, tác động nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là sự gia tăng phát thải khí nhà kính, đặc biệt là CO2 từ hoạt động sản xuất, tiêu dùng và sử dụng năng lượng hóa thạch. Trước thực trạng đó, cộng đồng quốc tế đã thiết lập nhiều cơ chế kiểm soát phát thải, tiêu biểu là Thỏa thuận Paris năm 2015 với mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu. Cùng với các biện pháp quản lý hành chính, nhiều quốc gia đã sử dụng công cụ kinh tế như thuế carbon, thị trường carbon, tín chỉ carbon và các chính sách tài chính xanh nhằm thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp.
Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng rõ nét đến các vùng ven biển, đồng bằng và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và đang hoàn thiện khung pháp lý để thực hiện mục tiêu này. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường carbon. Trên cơ sở đó, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, cùng Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg về danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, đã tạo nền tảng pháp lý bước đầu cho quản lý phát thải và vận hành thị trường carbon trong nước.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là lực lượng kinh tế quan trọng nhưng còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiện chuyển đổi xanh do hạn chế về nguồn lực, công nghệ và năng lực tiếp cận chính sách. Việc xây dựng, hoàn thiện chính sách hỗ trợ, đặc biệt là ưu đãi thuế, nhằm thúc đẩy DNNVV giảm phát thải carbon là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
KHÁI QUÁT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ VÀ GIẢM PHÁT THẢI CARBON CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
Khái niệm về ưu đãi thuế
Ưu đãi thuế có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo UNCTAD (2000), ưu đãi thuế là các quy định pháp luật cho phép giảm gánh nặng thuế của nhà đầu tư nhằm khuyến khích họ thực hiện hoạt động đầu tư theo những định hướng nhất định. Keen (2005) cho rằng, ưu đãi thuế là việc áp dụng chính sách thuế khác với quy định chung nhằm tạo ra lợi ích cho một số đối tượng người nộp thuế cụ thể; theo đó, các quy định thuế áp dụng chung cho mọi đối tượng không được coi là ưu đãi thuế.
Trong bài viết này, ưu đãi thuế được hiểu là các quy định pháp luật đặc thù cho phép người nộp thuế đáp ứng điều kiện nhất định được hưởng mức thuế suất, miễn thuế, giảm thuế, khấu trừ hoặc cơ chế xử lý thuế thuận lợi hơn so với quy định thông thường, nhằm định hướng hành vi đầu tư, sản xuất, kinh doanh theo mục tiêu chính sách của Nhà nước.
Khái quát về giảm phát thải carbon
Giảm phát thải carbon là quá trình cắt giảm lượng khí carbon dioxide và các khí nhà kính quy đổi tương đương carbon phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng năng lượng và sử dụng tài nguyên. Hoạt động này có thể được thực hiện thông qua tiết kiệm năng lượng, cải tiến quy trình sản xuất, sử dụng năng lượng tái tạo, thay đổi công nghệ, tái chế chất thải, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn và tham gia các cơ chế bù trừ tín chỉ carbon.
Giảm phát thải carbon không chỉ có ý nghĩa về môi trường, mà còn gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng quan tâm đến tiêu chuẩn môi trường, quản trị bền vững và dấu chân carbon của sản phẩm, doanh nghiệp sớm chuyển đổi theo hướng ít phát thải có thể giảm chi phí vận hành, nâng cao khả năng tiếp cận vốn xanh, mở rộng cơ hội tham gia chuỗi cung ứng và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của đối tác quốc tế.
Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV là nhóm doanh nghiệp chiếm đa số trong cơ cấu doanh nghiệp tại Việt Nam, giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và phát triển cộng đồng doanh nghiệp. Theo Điều 5 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP, DNNVV được xác định trên cơ sở số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm và một trong hai tiêu chí là tổng doanh thu năm hoặc tổng nguồn vốn năm.
Với tỷ trọng khoảng 97-98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, DNNVV là lực lượng trung tâm góp phần duy trì sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Vai trò của khu vực này thể hiện ở các phương diện chủ yếu: tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập và giảm nghèo; bổ trợ cho doanh nghiệp lớn trong chuỗi cung ứng; lấp đầy các thị trường ngách; thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhờ tính linh hoạt; đồng thời lan tỏa hoạt động kinh tế tới nhiều địa phương, kể cả khu vực nông thôn và miền núi.
Tuy nhiên, DNNVV cũng là nhóm chịu nhiều ràng buộc khi thực hiện chuyển đổi xanh. Hạn chế về vốn, công nghệ, nhân lực chuyên môn và khả năng tiếp cận thông tin khiến nhiều doanh nghiệp chưa đủ điều kiện đầu tư vào thiết bị tiết kiệm năng lượng, công nghệ sạch hoặc hệ thống đo lường phát thải. Vì vậy, ưu đãi thuế đối với hoạt động giảm phát thải cần được thiết kế phù hợp với đặc thù của nhóm doanh nghiệp này.
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ NHẰM THÚC ĐẨY GIẢM PHÁT THẢI CARBON CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Thực trạng quy định pháp luật
Hiện nay, Việt Nam chưa xây dựng cơ chế ưu đãi thuế chuyên biệt nhằm trực tiếp điều chỉnh hoạt động giảm phát thải carbon của doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV. Các chính sách hiện hành chủ yếu được thiết kế theo hướng lồng ghép trong pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật thuế.
Trong đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đóng vai trò là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc kiểm soát và giảm phát thải khí nhà kính, khi quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải, đồng thời đặt cơ sở pháp lý cho việc hình thành và vận hành thị trường carbon trong nước. Bên cạnh đó, Luật cũng khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả và hướng tới mô hình sản xuất bền vững.
Trên cơ sở đó, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP đã cụ thể hóa các quy định liên quan, bao gồm nghĩa vụ kiểm kê khí nhà kính đối với các cơ sở có mức phát thải lớn, cơ chế phân bổ hạn ngạch phát thải và lộ trình phát triển thị trường carbon trong nước gắn với hoạt động trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu tập trung vào nhóm doanh nghiệp có mức phát thải lớn, trong khi phần lớn DNNVV chưa thuộc đối tượng bắt buộc thực hiện kiểm kê khí nhà kính, dẫn đến phạm vi tác động và hiệu quả điều chỉnh trên thực tế còn hạn chế.
Bên cạnh khung pháp luật về môi trường, chính sách thuế cũng là công cụ tài chính quan trọng nhằm khuyến khích doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất gắn với giảm phát thải carbon. Tuy nhiên, các quy định về ưu đãi thuế hiện chưa được thiết kế riêng cho mục tiêu giảm phát thải carbon, mà chủ yếu được lồng ghép trong các chính sách ưu đãi đối với hoạt động ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và phát triển sản xuất theo hướng bền vững.
Các ưu đãi này được thể hiện trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025. Theo đó, Điều 12 quy định về các đối tượng được hưởng ưu đãi thuế, trong đó có doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch; xử lý chất thải, bảo vệ môi trường; sản xuất vật liệu thân thiện với môi trường; đầu tư cơ sở hạ tầng hỗ trợ DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Điều 13 quy định về thuế suất ưu đãi, trong đó có mức thuế suất 17% trong 10 năm đối với một số dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực ưu tiên. Điều 14 quy định về miễn, giảm thuế, bao gồm miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong tối đa 9 năm tiếp theo.
Như vậy, trên thực tế, các doanh nghiệp thực hiện dự án “xanh” như năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, xử lý chất thải, bảo vệ môi trường có thể gián tiếp được hưởng ưu đãi thuế, qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động giảm phát thải carbon. Tuy nhiên, chính sách ưu đãi thuế hiện hành vẫn chưa gắn trực tiếp với kết quả giảm phát thải carbon của doanh nghiệp.
Thực tiễn thi hành
Trong xu thế toàn cầu hướng tới phát triển kinh tế ít phát thải carbon, năng lượng xanh, sạch ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chiến lược tăng trưởng bền vững. Để thúc đẩy hoạt động sản xuất gắn với giảm phát thải carbon, Nhà nước đã ban hành nhiều định hướng và chính sách hỗ trợ nhằm giúp doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng bền vững.
Trong bối cảnh đó, khu vực DNNVV chiếm khoảng 97-98% tổng số doanh nghiệp, đóng góp hơn 40% GDP và là nhóm chịu tác động rõ nét trong quá trình chuyển đổi xanh. DNNVV thường có quy mô hạn chế, năng lực chuyển đổi công nghệ còn yếu và gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu gần đây của World Bank và IMF, doanh nghiệp sớm áp dụng năng lượng sạch có xu hướng cải thiện biên lợi nhuận thông qua giảm chi phí vận hành, đồng thời tăng khả năng tiếp cận thị trường và đối tác quốc tế, đặc biệt trong các ngành xuất khẩu thâm dụng năng lượng. Vì vậy, việc nghiên cứu năng lượng xanh và các giải pháp phù hợp cho DNNVV tại Việt Nam là cần thiết, không chỉ dưới góc độ kỹ thuật - kinh tế, mà còn gắn với chiến lược phát triển dài hạn, năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập chuỗi cung ứng toàn cầu.
Để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh và giảm phát thải carbon, Nhà nước đã ban hành các chính sách trọng tâm như Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó nhấn mạnh hỗ trợ đầu tư công nghệ, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn; Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cùng Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030. Các chính sách này tập trung vào định hướng ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn và hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp.
Hiện nay, xu hướng chuyển đổi xanh đang có chuyển biến tích cực khi ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm đến ESG. Theo một khảo sát năm 2025, khoảng 54% doanh nghiệp tại Việt Nam đã triển khai hoạt động ESG và 89% doanh nghiệp có kế hoạch hoặc cam kết thực hiện trong vòng 2-4 năm tới.
Tuy nhiên, mức độ tham gia chuyển đổi xanh nhằm giảm phát thải carbon của DNNVV tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, dù đây là xu hướng tất yếu trong bối cảnh phát triển bền vững. Theo khảo sát của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, có tới 64% DNNVV chưa thực hiện bất kỳ hoạt động chuyển đổi xanh nào; chỉ khoảng 5,5% doanh nghiệp đã triển khai các biện pháp giảm phát thải và 3,8% thực hiện đo lường, công bố kết quả giảm phát thải. Điều này cho thấy, mặc dù khung chính sách đã bước đầu được hình thành, nhưng hiệu quả thực thi đối với khu vực DNNVV vẫn còn hạn chế, nhất là trong tiếp cận ưu đãi thuế và các công cụ hỗ trợ tài chính xanh.
Đánh giá thực trạng pháp luật
Kết quả đạt được
Thứ nhất, đã hình thành khung pháp lý bước đầu về kiểm soát phát thải khí nhà kính, phát triển thị trường carbon và khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực xanh. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục thiết kế các công cụ ưu đãi thuế gắn với mục tiêu giảm phát thải carbon.
Thứ hai, chính sách thuế đã bước đầu tiếp cận theo hướng khuyến khích đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ sạch thông qua lợi ích kinh tế. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng sử dụng công cụ tài chính để thúc đẩy chuyển đổi xanh, thay vì chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính.
Thứ ba, các quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực năng lượng tái tạo, xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, công nghệ cao và sản xuất thân thiện với môi trường đã tạo động lực nhất định cho doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động có tác động tích cực đến giảm phát thải.
Thứ tư, pháp luật đã bước đầu tạo sự liên kết giữa chính sách môi trường và chính sách thuế. Mặc dù sự liên kết này chưa trực tiếp và chưa hoàn chỉnh, nhưng đã mở ra cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế ưu đãi thuế gắn với kết quả giảm phát thải carbon trong thời gian tới.
Một số hạn chế
Một là, thiếu cơ chế ưu đãi thuế chuyên biệt dành cho các doanh nghiệp giảm phát thải carbon, chưa đưa ra các quy định trực tiếp về việc khấu trừ chi phí giảm phát thải, ưu đãi thuế lượng CO2 giảm được.
Hai là, phạm vi áp dụng chưa phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiện nay phần lớn các chính sách thường tập trung vào các doanh nghiệp lớn, dự án đầu tư qu mô lớn. Đối với DNNVV do đặc thù quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính để đầu tư vào công nghệ không lớn.
Ba là, các ưu đãi thuế hiện nay còn mang tình gián tiếp, doanh nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi thuế nếu đầu tư vào lĩnh vực được khuyến khích, không gắn trực tiếp với kết quả giảm phát thải trên thực tế.
Bốn là, khả năng tiếp cận các chính sách của doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện còn hạn chế, thủ tục ưu đãi còn phức tạp, chưa có hướng dẫn cụ thể.
GIẢI PHÁP
Từ thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành có thể thấy, chính sách ưu đãi thuế hiện hành chưa tạo được động lực đủ mạnh để thúc đẩy DNNVV tham gia giảm phát thải carbon. Do đó, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng xây dựng hệ thống ưu đãi thuế có mục tiêu rõ ràng, dễ tiếp cận và phù hợp hơn với đặc thù của khu vực doanh nghiệp này.
Thứ nhất, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế ưu đãi thuế chuyên biệt gắn trực tiếp với hoạt động giảm phát thải carbon. Pháp luật thuế có thể bổ sung công cụ tín dụng thuế carbon, cho phép doanh nghiệp được khấu trừ một phần chi phí đầu tư vào công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng, kiểm kê khí nhà kính hoặc cải tiến quy trình sản xuất nhằm giảm phát thải. Đồng thời, có thể xem xét cơ chế ưu đãi dựa trên kết quả, theo đó mức ưu đãi được xác định tương ứng với lượng phát thải khí nhà kính thực tế cắt giảm và được xác nhận theo tiêu chuẩn minh bạch.
Thứ hai, cần thiết kế ưu đãi thuế phù hợp với đặc thù của DNNVV. Pháp luật cần đơn giản hóa điều kiện tiếp cận ưu đãi, mở rộng phạm vi áp dụng đối với các hoạt động quy mô nhỏ nhưng có hiệu quả giảm phát thải như cải tiến thiết bị, sử dụng năng lượng tiết kiệm, tái chế chất thải, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn hoặc chuyển đổi sang nguồn năng lượng sạch. Có thể xem xét mức ưu đãi cao hơn, thời gian ưu đãi dài hơn hoặc cơ chế khấu trừ chi phí thuận lợi hơn đối với DNNVV để bù đắp hạn chế về nguồn lực.
Thứ ba, cần tăng cường sự liên kết giữa chính sách thuế và thị trường carbon. Trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành thị trường carbon trong nước, pháp luật cần làm rõ chính sách thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tín chỉ carbon, chi phí mua tín chỉ carbon hợp lệ và chi phí tham gia cơ chế bù trừ carbon. Việc miễn, giảm thuế hoặc cho phép khấu trừ hợp lý các chi phí này sẽ tạo động lực để DNNVV tham gia thị trường carbon, đồng thời góp phần nâng cao tính minh bạch của hoạt động giảm phát thải.
Thứ tư, cần hoàn thiện hệ thống hỗ trợ đồng bộ nhằm nâng cao khả năng tiếp cận ưu đãi thuế của DNNVV. Bên cạnh sửa đổi pháp luật thuế, Nhà nước cần phát triển tín dụng xanh, quỹ hỗ trợ chuyển đổi xanh, chương trình tư vấn kỹ thuật về kiểm kê khí nhà kính và hướng dẫn cụ thể về điều kiện, hồ sơ, thủ tục hưởng ưu đãi. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý ưu đãi thuế, công khai quy trình và chuẩn hóa biểu mẫu cũng cần được đẩy mạnh để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Thứ năm, cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế, cơ quan môi trường, cơ quan quản lý DNNVV và các tổ chức tài chính. Chính sách ưu đãi thuế chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu về phát thải, kết quả giảm phát thải, chi phí đầu tư xanh và điều kiện hưởng ưu đãi được xác nhận thống nhất. Do đó, cần xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu, công nhận kết quả kiểm kê và đánh giá giảm phát thải, đồng thời bảo đảm kiểm soát rủi ro lợi dụng ưu đãi, tránh tình trạng “tẩy xanh” trong thực thi chính sách.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
3. Chính phủ (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV.
4. Chính phủ (2022). Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
5. Chính phủ (2025). Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
6. IMF (2024). Climate policies and green transition for small and medium enterprises.
7. Keen, M. (2005). Taxation and development. International Monetary Fund.
8. Oxfam (2016). Báo cáo nghiên cứu đánh giá chính sách ưu đãi thuế ở Việt Nam. https://cng-cdn.oxfam.org/vietnam.oxfam.org/s3fs-public/file_attachments/Oxfam%20Tax%20incentive%20report%20VIE.pdf
9. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14.
10. Quốc hội (2025). Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.
11. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
12. Thủ tướng Chính phủ (2022a). Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.
13. Thủ tướng Chính phủ (2022b). Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.
14. UNCTAD (2000). Tax incentives and foreign direct investment: A global survey. United Nations.
15. World Bank (2024). Green transition and sustainable development for SMEs in emerging economies.
|
Ngày nhận bài: 19/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 17/5/2026; Ngày duyệt đăng: 30/5/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua các sản phẩm Oishi của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh
Bao trùm tài chính số và khả năng chống chịu tài chính của hộ gia đình: Vai trò của tiết kiệm chính thức và bằng chứng từ Global Findex
Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu so sánh chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc, Hàn Quốc và gợi ý cho Việt Nam
Đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn
Cá nhân hoá hành trình khách hàng dựa trên AI tác động đến lòng trung thành thương hiệu - Vai trò trung gian của niềm tin thương hiệu
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán tinh gọn tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh