Phân bổ nguồn lực tài chính theo vòng đời khu công nghiệp: Bằng chứng từ Nghệ An và hàm ý phát triển bền vững

Nghiên cứu - Trao đổi 15:11 | 08/11/2026
Nghệ An hiện có 9 KCN được thành lập, diện tích 2.752,7 ha và tỷ lệ lấp đầy 50,13%. Câu hỏi đặt ra là: tỷ lệ bình quân có phản ánh đúng nhu cầu tài trợ từng KCN, và cần ưu tiên sử dụng nguồn vốn hiện có như thế nào?

Trương Công Đạt

NCS ngành Tài chính Ngân hàng, Học viện Tài chính

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích sự phù hợp của phân bổ nguồn lực tài chính với các giai đoạn phát triển khu công nghiệp tại Nghệ An. Nghiên cứu kết hợp phân tích tài liệu, so sánh nội tỉnh và đối chiếu trường hợp chuyển đổi xanh. Bằng chứng cho thấy doanh nghiệp giữ vai trò chủ yếu trong đầu tư hạ tầng, trong khi tỷ lệ lấp đầy và trạng thái phát triển giữa các khu khác biệt lớn. Tuy nhiên, các dữ liệu này chưa đủ để xác định tác động riêng của chính sách tài chính hoặc mức độ thiếu hụt tín dụng xanh. Nghiên cứu đề xuất phân bổ nguồn lực tài chính theo 3 nhóm nhu cầu: nâng cấp khu đang khai thác, hoàn thiện khu đang thu hút đầu tư và chuẩn bị khu mới; đồng thời gắn nguồn vốn với dòng tiền và kết quả xác minh. Đóng góp của nghiên cứu là kết nối trạng thái phát triển với ưu tiên tài trợ, thay vì áp dụng hỗ trợ đồng loạt.

Từ khóa: Phân bổ tài chính, vòng đời khu công nghiệp, đầu tư hạ tầng, phát triển bền vững, Nghệ An

Abstract

This study examines the alignment between financial resource allocation and the development stages of industrial parks in Nghe An Province. It employs document analysis, intra-provincial comparisons, and a comparative case study of green transformation. The findings indicate that enterprises play a predominant role in infrastructure investment, while occupancy rates and development status vary considerably across industrial parks. However, the available evidence is insufficient to isolate the effects of financial policies or determine the extent of the green credit gap. The study proposes allocating financial resources according to three categories of demand: upgrading operational industrial parks, completing infrastructure in parks undergoing investment attraction, and preparing newly planned industrial parks. It further recommends linking financing to cash flows and verified performance outcomes. The study contributes to the literature by establishing a link between industrial park development status and financing priorities, rather than applying uniform financial support across all parks.

Keywords: Financial resource allocation, industrial park life cycle, infrastructure investment, sustainable development, Nghe An

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển khu công nghiệp (KCN) đòi hỏi huy động đủ và phân bổ nguồn lực đúng nhu cầu. KCN chuẩn bị đầu tư cần vốn cho mặt bằng và hạ tầng ban đầu; KCN khai thác ổn định cần nâng cấp công nghệ, dịch vụ và môi trường. Chính sách chỉ chú trọng quy mô vốn thu hút có thể che khuất khác biệt này. Vì thế, sự phù hợp giữa thời điểm đầu tư, cấu trúc vốn và nhu cầu vận hành trở thành vấn đề nghiên cứu.

Nghệ An hiện có 9 KCN được thành lập, diện tích 2.752,7 ha và tỷ lệ lấp đầy 50,13% (Thanh Lê, 2026). Câu hỏi đặt ra là: tỷ lệ bình quân có phản ánh đúng nhu cầu tài trợ từng KCN, và cần ưu tiên sử dụng nguồn vốn hiện có như thế nào?

Nghiên cứu sử dụng khung phân bổ theo vòng đời KCN, tức sự thay đổi nhu cầu tài chính qua các giai đoạn chuẩn bị, mở rộng khai thác và vận hành ổn định. Mục tiêu là nhận diện khác biệt nhu cầu, đánh giá giới hạn minh chứng và đề xuất nguyên tắc lựa chọn công cụ. Trọng tâm là chất lượng phân bổ, bổ sung cho phân tích thu hút vốn. Tỷ lệ lấp đầy cao không tự chứng minh phát triển bền vững.

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết

Khung quốc tế về KCN sinh thái đặt yêu cầu về quản lý và kết quả kinh tế, xã hội, môi trường (World Bank Group và cộng sự, 2021). Tài chính là điều kiện thực hiện các mục tiêu này. Nghiên cứu đánh giá chất lượng phân bổ qua khả năng hoàn thành hạng mục thiết yếu, duy trì vận hành và tạo lợi ích bền vững. Đầu tư có doanh thu tích cực vẫn cần xem xét chi phí tài nguyên và khả năng tiếp cận dịch vụ của người lao động.

Khung phân tích nối 4 thành phần: trạng thái phát triển KCN, nhu cầu đầu tư, cấu trúc tài trợ và kết quả vận hành. Đây là đề xuất nghiên cứu, chưa phải mô hình nhân quả được kiểm định. Giai đoạn chuẩn bị cần chi trước khi có doanh thu cho thuê; giai đoạn khai thác có thể tạo dòng thu dịch vụ hỗ trợ trả nợ; giai đoạn ổn định cần lựa chọn mở rộng hoặc cải tạo. Mỗi chuyển tiếp đòi hỏi đánh giá lại kỳ hạn vốn và rủi ro.

Lý thuyết tài trợ đổi mới giải thích khác biệt giữa các doanh nghiệp. Hall và Lerner (2009) tổng hợp bằng chứng về chi phí vốn cao đối với doanh nghiệp đổi mới nhỏ và mới, đồng thời lưu ý kết quả ở doanh nghiệp lớn không đồng nhất. Nghiên cứu vận dụng để phân loại đối tượng hỗ trợ công nghệ. Bằng chứng quốc tế không khẳng định mọi doanh nghiệp trong KCN Nghệ An đều bị hạn chế tín dụng.

Cộng sinh công nghiệp đặt yêu cầu tài trợ liên kết. Chertow (2007) nhấn mạnh giá trị nhận diện các trao đổi nguồn lực hiện hữu để phát triển mạng lưới. Nghiên cứu suy luận rằng đầu tư tuần hoàn cần cả thiết bị, hợp đồng và cơ chế chia sẻ lợi ích. Dòng tiền hệ thống tái sử dụng phụ thuộc độ ổn định của đối tác cung ứng và sử dụng; phương án tài trợ phải xem xét rủi ro liên kết.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phân tích tài liệu và so sánh có cấu trúc. Dữ liệu định lượng mô tả chủ yếu năm 2024 và tháng 11/2025; thông tin năm 2026 cập nhật bối cảnh. Chín KCN được so sánh về mức độ khai thác, không xếp hạng hiệu quả tài chính. Trường hợp Amata đối chiếu cách chứng minh kết quả chuyển đổi.

Quy trình phân biệt vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện ước tính và kết quả vận hành; ghi rõ phạm vi KCN hay KCN cùng khu kinh tế (KKT). Các tỷ lệ từng KCN chưa có bảng gốc của Ban Quản lý để kiểm tra độc lập. Số liệu công bố lại năm 2026 không mặc nhiên là quan sát mới. Thiếu dữ liệu dư nợ, chi phí vốn hoặc nhóm đối chứng, nghiên cứu chỉ chẩn đoán và suy luận chính sách có điều kiện.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Doanh nghiệp giữ vai trò lớn, nhưng tỷ trọng vốn chưa đo được hiệu quả

Đến tháng 12/2024, đầu tư xây dựng hạ tầng KKT, KCN Nghệ An đạt 2.047,06 tỷ đồng; vốn ngân sách chiếm 11,13%, vốn doanh nghiệp chiếm 88,87% (Nguyên Nguyên, 2024). Đây là cơ cấu 1 năm của KKT và KCN, không phải toàn giai đoạn; chưa xác định vốn doanh nghiệp huy động nhờ từng khoản đầu tư công.

Bảng 1: Cơ cấu đầu tư hạ tầng năm 2024

Nguồn vốn

Ước tính (tỷ đồng)

Tỷ trọng (%)

Ngân sách nhà nước

227,932

11,13

Doanh nghiệp

> 1.819,127

88,87

Tổng cộng

2.047,06

100,00

Nguồn: Nguyên Nguyên (2024)

Tỷ trọng vốn doanh nghiệp lớn gợi mở mô hình phối hợp, giảm gánh nặng ngân sách, nhưng chưa cho phép kết luận ngân sách thiếu hay thừa. Khoản chi nhỏ có thể quyết định hoàn thành đường kết nối; vốn lớn nhưng phân tán có thể chưa giải quyết điểm nghẽn. Đánh giá hiệu quả cần nối từng khoản chi với tiến độ công trình, công suất sử dụng và mức giảm chi phí doanh nghiệp.

So với cách đánh giá bằng tổng vốn, phân tích theo chức năng chi làm rõ hơn trách nhiệm các bên. Hạ tầng phục vụ kinh doanh cần phương án doanh thu và nghĩa vụ của chủ đầu tư; công trình có lợi ích lan tỏa cần xác định phần trách nhiệm công theo thẩm quyền. Việc một khoản chi nằm trong hay ngoài hàng rào chưa đủ để quyết định nguồn tài trợ. Tiêu chí lựa chọn phải gồm đối tượng hưởng lợi, khả năng thu phí, nghĩa vụ đầu tư và chi phí duy trì sau hoàn thành.

Chênh lệch khai thác đòi hỏi phân bổ theo trạng thái phát triển

Tháng 11/2025, tại Nghệ An, KCN Bắc Vinh đã lấp đầy, trong khi Hoàng Mai II đạt 7,94%; VSIP Nghệ An đạt 89,63%, còn VSIP Nghệ An 2 đạt 20,04%. Thời gian hình thành, tiến độ mặt bằng và điều kiện thu hút dự án vẫn cần được kiểm soát.

Bảng 2: So sánh mức độ khai thác các KCN Nghệ An năm 2025

KCN

Lấp đầy (%)

Phân nhóm nhu cầu phân tích

Bắc Vinh

100,00

Khai thác cao; xem xét cải tạo

Nam Cấm

92,79

Khai thác cao; xem xét cải tạo

VSIP Nghệ An

89,63

Khai thác cao; nâng chất lượng dịch vụ

Hoàng Mai I

82,94

Khai thác cao; nâng chất lượng dịch vụ

WHA Industrial Zone 1

57,61

Tiếp tục hoàn thiện và khai thác

VSIP Nghệ An 2 (Thọ Lộc, giai đoạn 1)

20,04

Tiếp tục hoàn thiện và thu hút dự án

Hoàng Mai II

7,94

Tiếp tục đầu tư và thu hút dự án

Nguồn: Tác giả tính toán

Nhóm khai thác cao cần ưu tiên cải tạo tài sản hiện hữu, nâng hiệu quả diện tích đã sử dụng. Hạng mục có thể gồm tiết kiệm năng lượng, nâng cấp xử lý nước thải hoặc dịch vụ cho người lao động, tùy khảo sát. Nền khách hàng giúp đánh giá doanh thu dịch vụ, nhưng không bảo đảm mọi dự án cải tạo đều trả được nợ. Cần phân biệt lợi ích tài chính của chủ đầu tư với lợi ích môi trường cộng đồng.

Đối với nhóm đang mở rộng khai thác, quyết định tài chính cần dựa trên tiến độ hoàn thiện mặt bằng và nhu cầu thuê được xác nhận. Đầu tư theo giai đoạn giúp hạn chế tài sản xây dựng trước nhu cầu quá xa, song phải bảo đảm các công trình thiết yếu hoạt động đồng bộ.

Đối với nhóm chuẩn bị, trọng tâm là hồ sơ, nguồn đối ứng và mốc triển khai. Chuyển vốn từ chuẩn bị sang thi công cần bằng chứng đủ điều kiện, thay vì dựa vào diện tích đã được chấp thuận.

Bình quân 50,13% không đủ xác định mức vốn từng KCN. Nguồn công bố tháng 4/2026 nêu quỹ đất sẵn sàng 1.019,98 ha (Thanh Lê, 2026). Diện tích chưa lấp đầy không đồng nghĩa quỹ đất sẵn sàng, bởi diện tích quy hoạch, đất công nghiệp và đất có hạ tầng khác nhau. Phân bổ cần hồ sơ từng khu, ghi rõ mẫu số tỷ lệ lấp đầy và hạ tầng diện tích còn lại.

Từ định hướng xanh đến minh chứng vận hành và trách nhiệm xã hội

Chuyển đổi sinh thái và khả năng tiếp cận tài chính xanh còn hạn chế. Tuy nhiên, tài liệu chưa cung cấp bảng dư nợ xanh, hồ sơ bị từ chối hoặc nhu cầu vốn đủ điều kiện để định lượng khoảng thiếu hụt. Do đó, nghiên cứu giữ nhận định này ở mức vấn đề cần kiểm chứng. Có thể tồn tại trở ngại vốn, nhưng cũng có thể có dự án thiếu hồ sơ, hợp đồng hoặc hiệu quả tài chính; mỗi nguyên nhân đòi hỏi công cụ xử lý khác nhau.

Trang công bố của WHA Vietnam mô tả định hướng xử lý nước thải, điện mặt trời và giám sát hạ tầng thông minh (WHA Vietnam, n.d.). Thông tin này thể hiện cam kết của chủ đầu tư, chưa thay thế số liệu xác minh riêng tại Nghệ An. Trong khi đó, trường hợp Amata được UNIDO công bố năm 2023 ghi nhận 12 cơ hội cải thiện hiệu quả tài nguyên, 6 biện pháp đã thực hiện (Ekafitrina và Arthur, 2023). So sánh 2 dạng bằng chứng cho thấy cần tách cam kết thiết kế khỏi biện pháp vận hành; không dùng chúng để xếp hạng 2 KCN.

Tài liệu về tài trợ KCN sinh thái đề cập phương án tài chính, trả nợ và đánh giá tính khả thi (United Nations Industrial Development Organization, 2021). Bài học vận dụng là hỗ trợ chuẩn bị dự án cần đi cùng lựa chọn nguồn vốn. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg bổ sung tiêu chí môi trường và xác nhận dự án thuộc danh mục phân loại xanh (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Xác nhận xanh không tự chứng minh khả năng trả nợ. Bởi vậy, đề xuất tín dụng phải kiểm tra đồng thời tiêu chí môi trường và nguồn thu, không chỉ dựa trên tên gọi dự án.

Khía cạnh xã hội cũng cần được đặt vào quyết định phân bổ. Thông tin cuộc làm việc tháng 4/2026 ghi nhận cuối năm 2025 KKT, KCN có 64.337 lao động, trong đó khu vực FDI chiếm 86%; nhà ở công nhân là một nội dung được thảo luận (Thành Duy, 2026). Quy mô lao động cho thấy cần đánh giá nhu cầu dịch vụ, nhưng chưa chứng minh số lượng người thiếu nhà ở. Phương án tài trợ phải dựa trên khả năng chi trả, vị trí và mức sử dụng dự kiến, thay vì suy nhu cầu trực tiếp từ tổng lao động.

Hàm ý chính sách

Nghệ An cần danh mục ưu tiên theo trạng thái KCN và mức sẵn sàng dự án. Hồ sơ cần ghi nhu cầu, trách nhiệm đầu tư, vốn đối ứng, tiến độ và chi phí vận hành. Dự án tháo gỡ điểm nghẽn chung được xem xét theo lợi ích lan tỏa; dự án có doanh thu trực tiếp cần phương án thương mại. Cách lựa chọn này đòi hỏi thẩm định kỹ hơn hỗ trợ đồng loạt, nhưng giúp kiểm tra mục đích sử dụng vốn và hạn chế tài trợ trùng lặp.

Tiếp theo, cấu trúc vốn cần phù hợp nguồn trả nợ. Công trình dịch vụ có thể cân nhắc vốn chủ sở hữu và tín dụng theo vòng đời tài sản; hoạt động tạo lợi ích công cộng cần nguồn chi hợp pháp. Với dự án cải tiến nhỏ, hỗ trợ đo lường, tư vấn và lập hồ sơ có thể được thí điểm trước hỗ trợ lãi suất. Trái phiếu xanh hoặc mô hình hợp tác khác chỉ nên xem xét sau khi kiểm tra điều kiện pháp lý, năng lực phát hành và quy mô dự án; chúng không phải giải pháp mặc định cho mọi chủ đầu tư.

Giải ngân và đánh giá hỗ trợ cần gắn với mốc thực hiện và kết quả vận hành. Chỉ tiêu cần theo dõi đầu tư thực hiện, công suất sử dụng, tiết kiệm tài nguyên và khả năng tiếp cận dịch vụ. Báo cáo môi trường cần lượng tuyệt đối và cường độ theo sản lượng, tránh nhầm giảm sản xuất với cải thiện công nghệ. Thông tin tổng hợp cấp KCN phải truy nguyên được về dự án, bảo mật dữ liệu doanh nghiệp và quy định rõ trách nhiệm kiểm tra.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu làm rõ sự cần thiết của phân bổ tài chính theo trạng thái phát triển KCN Nghệ An. Bằng chứng năm 2024 cho thấy doanh nghiệp giữ vai trò lớn trong đầu tư hạ tầng; dữ liệu tháng 11/2025 cho thấy mức độ khai thác phân hóa. Các quan sát này hỗ trợ việc phân biệt nhu cầu nâng cấp, hoàn thiện và chuẩn bị đầu tư, nhưng chưa đo tác động nhân quả của chính sách hoặc mức thiếu hụt tài chính xanh. Tỷ lệ lấp đầy cần được sử dụng cùng dữ liệu dòng tiền và kết quả kinh tế, xã hội, môi trường.

Hàm ý chính sách là chọn dự án theo điểm nghẽn và mức sẵn sàng, ghép nguồn vốn với khả năng thu hồi, kiểm tra kết quả sau hỗ trợ. Nghiên cứu tiếp theo cần bảng gốc, hồ sơ khoản vay, dữ liệu vận hành và ý kiến doanh nghiệp để kiểm định vai trò của chi phí vốn, tiến độ mặt bằng và năng lực quản trị. Tách được các yếu tố này mới có cơ sở xác định công cụ tạo hiệu quả bổ sung và quyết định mở rộng hỗ trợ toàn tỉnh.

Tài liệu tham khảo:

1. Chertow, M. R. (2007). “Uncovering” industrial symbiosis. Journal of Industrial Ecology, 11(1), 11-30. https://doi.org/10.1162/jiec.2007.1110

2. Ekafitrina, N., & Arthur, C. (2023, December 13). Eco-industrial parks: Resource efficiency and industrial symbiosis. UNIDO. https://www.unido.org/stories/eco-industrial-parks-resource-efficiency-and-industrial-symbiosis

3. Hall, B. H., & Lerner, J. (2009). The financing of R&D and innovation (NBER Working Paper No. 15325). National Bureau of Economic Research. https://doi.org/10.3386/w15325

4. Nguyên Nguyên. (2024). Ban Quản lý Khu Kinh tế Đông Nam Nghệ An: Bước tiến mạnh mẽ trong phát triển khu kinh tế, các khu công nghiệp và thu hút đầu tư. https://baonghean.vn/ban-quan-ly-khu-kinh-te-dong-nam-nghe-an-buoc-tien-manh-me-trong-phat-trien-khu-kinh-te-cac-khu-cong-nghiep-va-thu-hut-dau-tu-10287382.html

5. Thanh Lê. (2026). Nghệ An và Quảng Ngãi chia sẻ kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp. https://baonghean.vn/nghe-an-va-quang-ngai-chia-se-kinh-nghiem-phat-trien-khu-cong-nghiep-10332106.html

6. Thành Duy. (2026). Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bùi Thanh An làm việc với Ban Quản lý KKT Đông Nam. https://baonghean.vn/pho-chu-tich-thuong-truc-ubnd-tinh-bui-thanh-an-lam-viec-voi-ban-quan-ly-kkt-dong-nam-10331869.html

7. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.

8. United Nations Industrial Development Organization. (2021). Funding sources to support investments in eco-industrial parks in Viet Nam. https://www.unido.org/sites/default/files/unido-publications/2023-02/funding-sources-to-support-investments-in-eco-industrial-parks-in-viet-nam-en.pdf

9. WHA Vietnam. (n.d.). Sustainability overview. https://www.whavietnam.com/en/sustainability/sustainability-overview

10. World Bank Group, United Nations Industrial Development Organization, & Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit. (2021). An international framework for eco-industrial parks (Version 2.0). https://documents1.worldbank.org/curated/en/350851612561873572/pdf/An-International-Framework-for-Eco-Industrial-Parks-Version-2-0.pdf

Ngày nhận bài: 10/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/10/2026; Ngày duyệt đăng: 6/11/2026

Các tin khác

Tài chính xanh, ESG và tiêu dùng bền vững vùng Đông Nam Bộ: Vai trò trung gian của thái độ

Tài chính xanh, ESG và tiêu dùng bền vững vùng Đông Nam Bộ: Vai trò trung gian của thái độ

Tiêu dùng bền vững là một trụ cột của tăng trưởng xanh, đặc biệt tại các vùng đô thị - công nghiệp có mật độ tiêu dùng cao như Đông Nam Bộ.
Trải nghiệm trò chơi hóa và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z: Mô hình lý thuyết về vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu

Trải nghiệm trò chơi hóa và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z: Mô hình lý thuyết về vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu

Trải nghiệm trò chơi hóa góp phần nâng cao sự tương tác và thúc đẩy ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z. Các bằng chứng thực nghiệm ghi nhận tác động tích cực của trò chơi hóa đến khả năng duy trì người dùng và hành vi mua sắm. Tuy nhiên, hiệu quả của trò chơi hóa không phải lúc nào cũng tích cực.
Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế

Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế

Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hóa phân biệt lưu ký với tự doanh. Thông tư số 15/2026/TT-BTC đã hướng dẫn nguyên tắc kế toán cho 2 hoạt động này. Tuy nhiên, đối chiếu quốc tế vẫn cần thiết vì việc ghi nhận tài sản lưu ký và đo lường tài sản tự doanh được xử lý khác nhau.
Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro

Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro

AI đang dịch chuyển từ vị trí một công nghệ chuyên biệt sang một hạ tầng hỗ trợ phổ biến cho nhiều loại công việc. Vì vậy, tác động của AI đối với công việc không còn chỉ là vấn đề công nghệ mà đã trở thành vấn đề của thiết kế công việc, năng lực nghề nghiệp và quản trị tổ chức.
Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP

Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP

Trải nghiệm của du khách tại thành phố không chỉ hình thành từ một điểm tham quan hay một dịch vụ riêng lẻ, mà từ sự kết hợp của nhiều tài nguyên, hoạt động và điều kiện tiếp cận trong toàn bộ hành trình.
Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai

Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai

Sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi toàn diện hành vi người tiêu dùng, biến marketing số thành hệ thống điểm chạm đa kênh giúp doanh nghiệp tối ưu trải nghiệm và duy trì kết nối bền vững với khách hàng.
Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch

Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch

Bệnh viện vừa là nơi chữa bệnh vừa là nguồn tiêu thụ năng lượng và phát sinh chất thải lớn. Vì vậy, thực hành xanh giúp cơ sở y tế giảm cả tác động môi trường lẫn chi phí vận hành.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp

Lựa chọn ngành học là một trong những quyết định quan trọng trong quá trình định hướng nghề nghiệp của người học, có ảnh hưởng đến kết quả học tập, mức độ gắn bó với ngành và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp.
Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội

Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội

Ý định khởi nghiệp số là yếu tố tiền đề quan trọng đối với sự tham gia khởi nghiệp trong tương lai, bởi nó phản ánh mức độ sẵn sàng và cam kết của sinh viên trong việc theo đuổi các hoạt động khởi nghiệp thông qua công nghệ số.
Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tại Việt Nam, mức độ ứng dụng AI chuyên sâu còn hạn chế. Đặc biệt, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn trong khi các doanh nghiệp xây dựng chịu áp lực đòn bẩy tài chính cao. Câu hỏi đặt ra là liệu AI có thực sự tác động tích cực đến hiệu quả tài chính và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp hay không?