Nhận thức về biến đổi khí hậu và các rào cản thích ứng của cộng đồng miền núi tỉnh Quảng Trị, Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 17:06 | 19/12/2025
Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm hộ, trong đó nhóm lâm nghiệp có mức nhận thức cao nhất do phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên tự nhiên, trong khi nhóm phi nông nghiệp có mức nhận thức thấp hơn.

Đào Duy Minh, Bùi Đức Tính

Khoa Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

Email: [email protected]

Lê Ngọc Lưu Quang

Khoa Kế toán - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

Tóm tắt

Nghiên cứu này đánh giá nhận thức về biến đổi khí hậu và các rào cản trong thực hiện biện pháp thích ứng của 3 nhóm sinh kế gồm hộ lâm nghiệp, hộ hỗn hợp và hộ phi nông nghiệp tại miền núi tỉnh Quảng Trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm hộ, trong đó nhóm lâm nghiệp có mức nhận thức cao nhất do phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên tự nhiên, trong khi nhóm phi nông nghiệp có mức nhận thức thấp hơn. Tuy nhiên, nhóm lâm nghiệp lại gặp nhiều rào cản nhất về tài chính, hạ tầng, thông tin và thị trường, hạn chế khả năng chuyển nhận thức thành hành động thích ứng. Nhóm hỗn hợp có mức độ trung gian, phản ánh lợi thế của đa dạng hóa sinh kế. Kết quả nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chính sách thích ứng có trọng tâm, phù hợp từng nhóm hộ nhằm tăng cường khả năng chống chịu và phát triển sinh kế bền vững.

Từ khoá: Biến đổi khí hậu, nhận thức, thích ứng, rào cản

Summary

This study assesses perceptions of climate change and the barriers to implementing adaptation measures among three livelihood groups: forestry households, mixed households, and non-agricultural households, in the mountainous areas of Quang Tri Province. The results reveal apparent differences across groups: forestry households exhibit the highest level of awareness due to their direct dependence on natural resources, whereas non-agricultural households show lower levels of awareness. However, forestry households also face the most significant barriers in terms of finance, infrastructure, information, and market access, which constrain their ability to translate awareness into adaptive action. Mixed households display an intermediate level, reflecting the advantages of livelihood diversification. The findings underscore the need for targeted, group-specific adaptation policies to enhance resilience and promote sustainable livelihood development.

Keywords: Climate change, perception, adaptation, barriers

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chủ đề sinh kế và biến đổi khí hậu (BĐKH) đã từ lâu nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay, BĐKH diễn ra với những biến động bất thường theo xu hướng không thể dự báo trước. Sinh kế và BĐKH là 2 khía cạnh tối quan trọng liên quan trực tiếp đến sự phát triển bền vững của cộng đồng dân cư trên toàn thế giới. Trong khi sinh kế là cấu thành quan trọng trong việc tạo thu nhâp - đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cộng đồng thì BĐKH tạo ra những thách thức lớn đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của nhân loại. Thời gian gần đây, thế giới chứng kiến những tác động to lớn thông qua các biểu hiện của sự nóng lên toàn cầu, sự gia tăng về cường độ và tầng suất của các cơn bão, hiện tượng thời tiết cực đoan, triều cường (C. D. Nguyen và cộng sự, 2021; Uy và cộng sự, 2015; Waibel và cộng sự, 2018). Tầm quan trọng của việc hiểu và giải quyết mối quan hệ cân bằng giữa sinh kế và BĐKH ngày càng trở nên cấp bách hơn (Minh và cộng sự, 2019; Mishra và Pede, 2017). Theo đó, việc phát triển các chiến lược sinh kế, đề xuất các giải pháp thích ứng phù hợp được xem là chìa khóa quan trọng hướng đến xây dựng một tương lai có sự cân bằng giữa sự phát triển và bảo tồn.

Tỉnh Quảng Trị là một trong những địa bàn chịu tác động mạnh nhất bởi hạn hán kéo dài, mưa cực đoan, lũ quét và suy thoái tài nguyên rừng. Các cộng đồng cư dân có sinh kế phụ thuộc nhiều hoặc một phần vào lâm nghiệp và nông nghiệp tại Hướng Hóa và Đakrông (tỉnh Quảng Trị cũ) có nguy cơ tổn thương cao hơn trước các cú sốc khí hậu và biến động môi trường. Bên cạnh đó, sự thay đổi về kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập khu vực (như tác động của Hành lang Kinh tế Đông - Tây, hoạt động thương mại biên giới, chuyển đổi mục đích sử dụng đất) tạo ra những áp lực mới, làm gia tăng rủi ro và bất bình đẳng trong khả năng thích ứng giữa các nhóm hộ. Vì vậy, các địa phương này nhận được nhiều sự quan tâm từ các cấp chính quyền trung ương và địa phương về các vấn đề liên quan đến chính sách hỗ trợ để cải thiện sinh kế và nâng cao năng lực chống chọi và thích ứng với bối cảnh tổn thương.

Trên góc độ khoa học, một số nghiên cứu đã phân tích tác động của BĐKH tại Quảng Trị nói chung với trọng tâm hướng vào vào nông nghiệp, rừng hoặc nghèo đói (Ho và cộng sự, 2025; T. T. Nguyen, 2023). Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa xem xét đầy đủ tính phân hóa giữa các nhóm sinh kế. Đặc biệt, rất ít nghiên cứu đánh giá mức độ nhận thức về BĐKH và rào cản thích ứng - 2 yếu tố quan trọng quyết định khả năng chuyển hóa kiến thức thành hành động thích ứng. Khoảng trống này trở nên cấp thiết trong bối cảnh các chương trình PFES, REDD+, giảm nghèo bền vững và phục hồi sinh kế sau thiên tai đang được triển khai mạnh tại tỉnh.

Do đó, nghiên cứu đánh giá nhận thức - rào cản thích ứng của 3 nhóm sinh kế (lâm nghiệp, hỗn hợp, phi nông nghiệp) không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn quan trọng. Những kết quả này giúp nhận diện nhóm dễ tổn thương nhất, hiểu nguyên nhân gốc rễ và cung cấp bằng chứng cần thiết cho việc thiết kế chính sách thích ứng có trọng tâm trong thời gian tới.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp (mixed-method) nhằm đánh giá mức độ nhận thức về BĐKH và các rào cản thích ứng của ba nhóm hộ (lâm nghiệp, hỗn hợp, phi nông nghiệp) tại 2 huyện miền núi Hướng Hóa và Đakrông, tỉnh Quảng Trị.

Thu thập dữ liệu

Dữ liệu định lượng được thu thập thông qua khảo sát 200 hộ gia đình, lựa chọn theo phương pháp phân tầng dựa trên cơ cấu sinh kế. Bộ câu hỏi được phát triển dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững và các vấn đề liên quan đến thích ứng với BĐKH như IPCC (2012) và các nghiên cứu trước ở miền núi Việt Nam (Bonnin và Turner, 2011; Thi và cộng sự, 2018) . Bên cạnh đó, dữ liệu định tính được thu thập qua thảo luận nhóm (FGDs) và phỏng vấn sâu (KIIs) nhằm bổ sung bối cảnh và giải thích các kết quả định lượng.

Đo lường nhận thức và rào cản thích ứng

Nhận thức về BĐKH được lượng hóa bằng thang Likert 5 điểm trên 4 nhóm nội dung: (i) nhận thức về xu hướng khí hậu; (ii) nhận thức về rủi ro và tác động tới sinh kế; (iii) những rào cản trong việc thực hiện các biện pháp thích ứng đối 3 nhóm hộ.

Nhận thức chung về BĐKH được đo lường qua 4 nhóm chính gồm: nguyên nhân của BĐKH, biểu hiện của BĐKH, nhận thức về những rủi ro tiềm ẩn đối với sinh kế và nhận thức về tác động trực tiếp đến nhóm yếu thế. Đối với nhóm mức độ ảnh hưởng BĐKH tới sinh kế, 5 trụ cột chính được đánh giá bao gồm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, ảnh hưởng đến chăn nuôi, ảnh hưởng đến nước sinh hoạt, ảnh hưởng đến thu nhập của hộ và nguy cơ về mất đất.

Việc đo lường được thực hiện bằng so sánh nhận thức của các nhóm hộ đối với các cụm tiêu chí nêu trên. Việc phân chia nhóm hộ dựa trên tiêu chí đóng góp thu nhập từ các nguồn trong tổng thu nhập của hộ trong năm 2024, một hộ được xem là hộ có sinh kế phụ thuộc vào rừng - lâm nghiệp (LN) nếu như thu nhập từ lâm nghiệp chiếm trên 50%; tương tự đối với hộ phi nông nghiệp (PNN) nếu thu nhập từ hoạt động PNN từ 50% trở lên; đặc biệt, đối với thu nhập hỗn hợp (HH), nếu đóng góp thu nhập từ các nguồn không quá 50% - thường thì mức đóng góp tương đối đồng đều trong thực tế. Đây là cách phân loại tương đối mới trong lĩnh vực nghiên cứu sinh kế và đã được áp dụng tương đối phổ biến (Minh và cộng sự, 2020). Trong 200 mẫu khảo sát được thực hiện tại địa phương, có 82 hộ LN (chiếm 41%), 67 hộ PNN (33,5%) và 51 hộ HH chiếm (25,5%).

Phân tích dữ liệu

Dữ liệu được xử lý bằng SPSS phiên bản 20. Các thống kê mô tả được sử dụng để xác định mức độ nhận thức và mức độ rào cản của từng nhóm hộ - nghiên cứu sử dụng tiêu chí giá trị trung bình về nhận thức của hộ qua các tiêu chí. Mặc dù đây là phương pháp tương đối đơn giản, tuy nhiên đối với nghiên cứu nhận thức của người dân - được đánh giá là phù hợp và có cơ sở.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Bảng 1 trình bày mức độ nhận thức về BĐKH giữa 3 nhóm hộ tại vùng núi Quảng Trị. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt lớn về nhận thức của người dân về BĐKH, cụ thể xu hướng số liệu cho thấy khi hộ càng phụ thuộc vào tài nguyên rừng - nông nghiệp, nhận thức về BĐKH càng được thể hiện rõ. Ở nhóm LN, nhận thức về nguyên nhân và biểu hiện BĐKH đạt mức rất cao (Mean = 4,3-4,8), điều này nói lên sự nhạy cảm của nhóm hộ này trước các thay đổi về thời tiết, thiên tai và suy thoái tài nguyên rừng. Trong khi đó, nhóm hộ PNN thể hiện mức nhận thức thấp nhất trong cả 4 chỉ tiêu (Mean = 3,1-3,7), điều này “cội nguồn” xuất phát từ nền tản sinh kế ít phụ thuộc trực tiếp vào các yếu tố tự nhiên - về tính tổn thương. Nhóm hộ HH có xu hướng nằm giữa 2 nhóm còn lại với mức nhận thức trung bình khá, phù hợp với cơ cấu sinh kế đa dạng và mức độ tiếp xúc trung gian với rủi ro khí hậu.

Bảng 1: Nhận thức chung về biến đổi khí hậu (n=200)

TT

Tiêu chí

LN (82)

PNN (67)

HH (51)

Trung

bình

Xếp

hạng

Trung

bình

Xếp hạng

Trung bình

Xếp hạng

1

Nhận thức về nguyên nhân BĐKH

(do mất rừng, thiên tai…)

4,3

3

3,5

2

3,9

3

2

Nhận thức về biểu hiện BĐKH tại địa phương

4,7

2

3,8

1

4,4

1

3

Nhận thức về rủi ro đối với sinh kế

4,8

1

3,5

3,6

4,1

2

4

Nhận thức về tác động lên nhóm yếu thế

4,3

3

3,3

3,3

3,7

4

Nguồn: Số liệu điều tra năm 2025

Các đánh giá của hộ về mức độ ảnh hưởng của BĐKH được thể hiện ở Bảng 2. Có thể thấy rằng, có sự tương đồng về nhận thức của hộ đối về mức độ ảnh hưởng của BĐKH tới sinh kế và nhận thức về BĐKH. Cụ thể, nhóm hộ LN ghi nhận mức ảnh hưởng cao nhất, đặc biệt đối với năng suất cây trồng (Mean = 4,8), thu nhập (Mean =4,4) và nguy cơ mất tài nguyên đất, rừng (4,2). Thực tế này phản ảnh những hiện trạng có tính chất nghiệm trọng đối với hộ có sinh kế chính phụ thuộc nhiều vào đất lâm nghiệp/rừng cũng như một hoạt động khai thác tài nguyên (lâm sản ngoài gỗ - đối với nhóm cộng đồng - đồng bào). Đây là nhóm hộ chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất đối với hạn hán kéo dài, biến động lượng mưa và bão lũ cực đoan.

BẢNG 2: Nhận thức về mức độ ảnh hưởng biến đổi khí hậu (n =200)

TT

Tiêu chí

LN (82)

PNN (67)

HH (51)

Xếp hạng

Trung bình

Xếp hạng

Trung bình

Xếp hạng

Trung bình

1

Ảnh hưởng đến năng suất cây trồng

4,8

1

3,5

3

4,5

1

2

Ảnh hưởng đến chăn nuôi

3,8

5

3,2

4

4,2

2

3

Ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt

4,0

4

3,1

5

3,9

4

4

Ảnh hưởng đến thu nhập hộ

4,6

2

3,7

1

4,2

2

5

Nguy cơ mất tài nguyên đất, rừng

4,2

3

3,6

2

4,0

3

Nguồn: Số liệu điều tra năm 2025

Bảng 3 thể hiện những đánh giá của các nhóm hộ về rào cản thích ứng. Kết quả nghiên cứu tiếp tục nhấn mạnh rằng nhóm LN luôn là tác nhân thể hiện mức độ gặp khó khăn lớn nhất. Một số rào cản mang tính “nổi cộm” gồm có địa hình (4,9), thông tin - nhận thức (4,8) và rào cản tài chính (4,4) và kỹ văn hoá (4,4) đều đạt mức cao. Những kết quả này phản ánh sự kết hợp giữa thiếu vốn, hạn chế tiếp cận dịch vụ, cùng với địa hình dốc và xa trung tâm - đặc trưng của các thôn bản dọc đường Hồ Chí Minh và dãy Trường Sơn. Nhóm HH có mức độ rào ở mức tương đối cao với mức đánh giá giao động từ 3,5-4,2, chứng minh đây tiếp tục là nhóm hộ có năng lực tốt trong nhận thức và chống chịu, phục hồi trước những tình huống rủi ro. Nhóm PNN có đánh giá về rào cản ở các tiêu chí có sự biến động đáng kể so với các nhóm hộ trên.

Bảng 3: Rào cản trong thực hiện biện pháp thích ứng (n=200)

TT

Tiêu chí

LN (82)

PNN (67)

HH (51)

Trung bình

Xếp hạng

Trung bình

Xếp hạng

Trung bình

Xếp hạng

1

Rào cản tài chính (thiếu vốn)

4,4

4

4,6

1

4,2

1

2

Rào cản thông tin - nhận thức

4,8

2

4,4

2

3,5

6

3

Rào cản kỹ thuật (thiếu kỹ năng, tập huấn)

4,1

5

4,2

4

4,1

2

4

Rào cản xã hội - văn hóa

4,4

4

3,8

5

3,1

5

5

Rào cản thị trường

4,5

3

4,3

3

3,9

3

6

Rào cản hạ tầng - địa hình

4,9

1

4,6

1

3,7

4

7

Rào cản thể chế - chính sách

4,0

6

3,8

6

3,5

6

Nguồn: số liệu điều tra năm 2025

Tóm lại, việc đánh giá nhận thức từ góc nhìn của cộng đồng phân theo 3 nhóm sinh kế cho thấy nhóm LN dễ bị tổn thương nhất vì vừa nhạy cảm cao, vừa thiếu nguồn lực thích ứng, trong khi nhóm PNN có xu hướng nhận thức thấp nhưng rào cản chủ yếu thuộc về thông tin, tạo ra nguy cơ thiếu sự chuẩn bị trước các cú sốc khí hậu trong tương lai. Nhóm HH nằm ở vị trí trung gian: mức nhận thức và rào cản đều vừa phải, phản ánh chiến lược sinh kế đa dạng hóa giúp giảm độ nhạy trước rủi ro.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Nghiên cứu này cung cấp một bức tranh tương đối toàn diện về nhận thức về BĐKH và các rào cản thích ứng của 3 nhóm hộ sinh sống tại vùng núi tỉnh Quảng Trị theo cấu trúc sinh kế LN, PNN và hỗn hợp. Kết quả nghiên cứu đã bóc tách được cảm quan của cộng đồng về nhận thức khí hậu, năng lực ứng phó, và những rào cản chủ yếu.

Kết quả cho thấy, nhóm hộ LN là đối tượng dễ tổn thương nhất, không chỉ vì mức độ phụ thuộc tài nguyên cao mà còn bởi tập hợp những rào cản lớn về tài chính, hạ tầng, kỹ thuật và thị trường. Ngược lại, nhóm PNN tuy có mức tổn thương thấp hơn nhưng lại rơi vào “bẫy thích ứng”, dễ dẫn đến trạng thái bị động khi các cú sốc biểu hiện của BĐKH xảy ra, đặc biệt trong bối cảnh các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng có xu hướng tăng về cả tần suất và cường độ tác động. Nhóm HH cho thấy tính ưu việc trong nhận thức với bối cảnh BĐKH, điều này được thể hiện qua nhận thức ở mức trung hình đối với các nhóm tiêu chí, đây có lẽ là chiến lược mang tính định hướng trong thời gian tới giảm độ nhạy trước tác động của BĐKH. Việc lượng hoá nhận thức của cộng đồng đối với các vấn đề “lõi” của BĐKH giữ vai trò như “bước đệm” quan trọng quyết định hiệu quả chuyển hóa kiến thức thành hành động thích ứng với BĐKH ở góc độ ban hành và thực thi những chính sách nâng cao năng lực thích ứng và giảm nhẹ tác động.

Nghiên cứu đồng thời bổ sung khoảng trống học thuật quan trọng khi làm rõ sự khác biệt giữa 3 nhóm sinh kế; kết nối nhận thức - rào cản - tổn thương vào cùng một khung phân tích có thể làm khung nền và ứng dụng cho các nghiên cứu tương lai tại miền núi miền Trung, Việt Nam. Những bằng chứng này nhấn mạnh tầm quan trọng của cách tiếp cận phân nhóm hộ trong thiết kế chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu và phát triển sinh kế bền vững.

Trong bối cảnh BĐKH ngày càng phức tạp, các kết quả của nghiên cứu đặt nền tảng cho việc xây dựng bộ giải pháp chính sách mang tính mục tiêu: tăng cường năng lực nhận thức khí hậu, cải thiện tiếp cận tín dụng, đầu tư hạ tầng thích ứng và thúc đẩy các mô hình sinh kế giảm phụ thuộc vào tài nguyên. Đây là chìa khóa để hỗ trợ các cộng đồng miền núi Quảng Trị chuyển từ trạng thái dễ tổn thương sang trạng thái thích ứng chủ động và phát triển bền vững.

(*) Nghiên cứu này được thực hiện dưới sự tài trợ bởi Đại học Huế, thuộc đề tài Khoa học công nghệ - mã số DHH 2024 - 06 -151.

Tài liệu tham khảo:

1. Bonnin, C., & Turner, S. (2011). Livelihood Vulnerability and Food Security among Upland Ethnic Minorities in Northern Vietnam. In Philippine Journal of Third World Studies (Vol. 26, Issue 2).

2. Ho, K. L. P., Nguyen, T. P., Pham, V. H., Tran, H. T. T., & Ho, K. L. P. (2025). Factors Affecting Sustainable Livelihoods of Households in Quang Tri Coastal Forest Areas, Vietnam. https://doi.org/10.20944/PREPRINTS202503.1147.V1

3. Minh, D. D., Hao, N. D., & Lebailly, P. (2020). Adapting to Climate Extreme Events Based on Livelihood Strategies: Evidence from Rural Areas in Thua Thien Hue Province, Vietnam. Sustainability 2020, Vol. 12, Page 10498, 12(24), 10498. https://doi.org/10.3390/SU122410498.

4. Minh, D. D., Lebailly, P., Hao, N. D., Burny, P., & Hop, H. T. M. (2019). The dynamics of livelihood vulnerability index at farm household level: an empirical analysis of the coastal sandy zone in thua thien hue province, vietnam. International Journal of Economics and Financial Issues, 9(5), 77-89. https://doi.org/10.32479/ijefi.8250.

5. Mishra, A. K., & Pede, V. O. (2017). Perception of climate change and adaptation strategies in Vietnam: Are there intra-household gender differences? International Journal of Climate Change Strategies and Management, 9(4), 501-516. https://doi.org/10.1108/IJCCSM-01-2017-0014.

6. Nguyen, C. D., Ubukata, F., Nguyen, Q. T., & Vo, H. H. (2021). Long-Term Improvement in Precautions for Flood Risk Mitigation: A Case Study in the Low-Lying Area of Central Vietnam. International Journal of Disaster Risk Science, 1-17. https://doi.org/10.1007/s13753-020-00326-2.

7. Nguyen, T. T. (2023). Barriers to adaptation to climate change and extremes in Vietnam: Insights from a local case study. University of Otago. https://ourarchive.otago.ac.nz/esploro/outputs/doctoral/Barriers-to-adaptation-to-climate-change/9926478521701891.

8. Thi, N., Huong, L., Yao, S., & Fahad, S. (2018). Human and Ecological Risk Assessment: An International Journal Assessing household livelihood vulnerability to climate change: The case of Northwest Vietnam Assessing household livelihood vulnerability to climate change: The case of Northwest Vietnam. https://doi.org/10.1080/10807039.2018.1460801.

9. Uy, T. C., Limnirankul, B., & Chaovanapoonphol, Y. (2015). Factors Impact on Farmers’ Adaptation to Drought in Maize Production in Highland Area of Central Vietnam. Agriculture and Agricultural Science Procedia, 5, 75-82. https://doi.org/10.1016/j.aaspro.2015.08.011

Ngày nhận bài: 17/10/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/11/2025; Ngày duyệt đăng: 15/12/2025

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán PayPal của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán PayPal của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Đồng Nai

Kinh tế số và thương mại điện tử phát triển thúc đẩy nhu cầu thanh toán điện tử, trong đó PayPal giữ vai trò đáng chú ý trong giao dịch trực tuyến và xuyên biên giới.
Xu hướng nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy việc duy trì sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh: Phân tích trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị

Xu hướng nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy việc duy trì sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh: Phân tích trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative Artificial Intelligence - GenAI), đặc biệt từ khi ChatGPT ra đời vào cuối năm 2022, đã thúc đẩy ứng dụng công nghệ này trong nhiều lĩnh vực như: giáo dục, kinh doanh, y tế, du lịch và dịch vụ.
Đào tạo liên ngành trong các chương trình marketing bậc đại học: Từ tích hợp học phần đến phát triển năng lực

Đào tạo liên ngành trong các chương trình marketing bậc đại học: Từ tích hợp học phần đến phát triển năng lực

3 chương trình đào tạo được triển khai tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT), gồm: Marketing hệ đại trà, Marketing chất lượng cao định hướng marketing số và Quan hệ công chúng, tạo thành một trường hợp phù hợp để xem xét thực tiễn đào tạo liên ngành bậc cử nhân.
Tác động của văn hóa học tập tổ chức theo cảm nhận của nhân viên đến hiệu suất thích ứng của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số

Tác động của văn hóa học tập tổ chức theo cảm nhận của nhân viên đến hiệu suất thích ứng của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số

Chuyển đổi số không chỉ là việc áp dụng các công nghệ số riêng lẻ hay số hóa quy trình hiện có, mà còn là quá trình tái cấu trúc phương thức vận hành, cơ chế phối hợp, quy trình ra quyết định và cách thức tạo ra giá trị.
Chuyển đổi số trong quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Thực trạng và hàm ý chính sách

Chuyển đổi số trong quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Thực trạng và hàm ý chính sách

Chuyển đổi số góp phần hiện đại hóa quản lý tài sản công, nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng và minh bạch hóa thông tin tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
Phát triển nguồn nhân lực cho chuyển đổi xanh ở Việt Nam: Thực trạng, điểm nghẽn và hàm ý chính sách

Phát triển nguồn nhân lực cho chuyển đổi xanh ở Việt Nam: Thực trạng, điểm nghẽn và hàm ý chính sách

Chuyển đổi xanh không chỉ tạo ra ngành nghề mới mà còn làm thay đổi nội dung công việc và yêu cầu năng lực của nhiều nghề hiện hữu. Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam trước yêu cầu chuyển đổi xanh, từ đó nhận diện các điểm nghẽn và đề xuất hàm ý chính sách phát triển nguồn nhân lực xanh.
Tác động của thu hồi đất đến sinh kế hộ gia đình và giải pháp phục hồi bền vững tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

Tác động của thu hồi đất đến sinh kế hộ gia đình và giải pháp phục hồi bền vững tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

Xã Tràng Định được thành lập từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở sắp xếp 3 xã Đề Thám, Hùng Sơn và Hùng Việt của huyện Tràng Định cũ. Xã Tràng Định hiện có 11.846,01 ha, 12 thôn bản, 2.595 hộ với 11.276 nhân khẩu; người Tày và người Nùng chiếm đa số.
Giải pháp hoàn thiện công tác chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp

Giải pháp hoàn thiện công tác chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp

Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng của đổi mới quản trị và phát triển kinh tế - xã hội. Trong khu vực công, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn gắn liền với đổi mới quy trình, phương thức quản lý và nâng cao chất lượng dịch vụ công nhằm phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn

Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn

Độ trễ và sự bất định tại biên giới làm gia tăng chi phí giao dịch, qua đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa. Hiệu quả cải cách cửa khẩu vì thế cần được đánh giá bằng thời gian xử lý và độ ổn định của toàn bộ quá trình vận chuyển, giao nhận, thay vì chỉ dựa vào số lượng thiết bị được đầu tư.
Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á

Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, chính sách tài khóa của một quốc gia không chỉ tạo ra tác động trong phạm vi nội địa mà còn có khả năng ảnh hưởng đến các nền kinh tế khác